1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu làng tranh Đông Hồ ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

37 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu làng tranh Đông Hồ ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Trường học Trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn Hóa Dân Gian
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2013
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 785,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tiểu luận này không đi sâu nghiên cứu từng loại tranh mà chỉ tìm hiểu sơ quát về đặc điểm, thực trạng phát triển chung cũng như đề xuất giải pháp gìn giữ dòng tranh dân gian Đông Hồ. Về không gian: Tìm hiểu Làng tranh dân gian Đông Hồ tại xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Trang 1

và giàu ý nghĩa Tranh dân gian Đông Hồ khá gần gũi với đại đa số dân chúngViệt Nam, nhắc tới hầu như ai cũng biết.

Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử của dân tộc, các dòng tranh dân gian củadân tộc có số phận riêng của mình, tranh Đông Hồ cũng vậy, tuy nhiên những nétđẹp văn hóa vốn có của nó vẫn tồn tại đi cùng năm tháng Chúng ta cũng biếtđược rằng như một quy luật tất yếu, sự phát triển kinh tế thị trường đi kèm với

xu thế Toàn Cầu Hóa, nền văn hóa của các dân tộc có cơ hội giao thoa với nhau,điều này khiến cho nền văn hóa truyền thống Việt Nam cũng như dòng tranh dângian Đông Hồ đứng trước những thử thách lớn Nguy cơ một dòng tranh dângian của dân tộc với những nét đẹp vui tươi, dí dỏm, thể hiện nét nhân văn,truyền thống mộc mạc của làng quê sẽ dần bị mai một, dần bị quên lãng và rơivào quá khứ Sẽ là như vậy nếu chúng ta không kịp thời đưa ra những biện pháp

cụ thể, mang tính khả thi, sự hòa trộn các nền văn hóa với nhau là điều tất yếu,

Trang 2

văn hóa sẽ là một nền màu giống nhau, chúng ta sẽ không phân biệt được đặctrưng của các quốc gia với nhau, điều đó là không thể chấp nhận được Câu hỏiđặt ra là làm thế nào vừa hội nhập, vừa giữ gìn bảo tồn, phát huy giá trị dòngtranh dân gian Đông Hồ? Bài nghiên cứu này của tôi mong muốn sẽ đóng gópnhững hiểu biết bé nhỏ, sự yêu thích của mình về nét đẹp, nét văn hóa của làngtranh dân gian Đông Hồ, cũng như đưa ra một số đề xuất về việc bảo tồn và pháttriển dòng tranh trước thời buổi kinh tế hội nhập hiện nay.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.

Bài tiểu luận này không đi sâu nghiên cứu từng loại tranh mà chỉ tìm hiểu

sơ quát về đặc điểm, thực trạng phát triển chung cũng như đề xuất giải pháp gìngiữ dòng tranh dân gian Đông Hồ

Về không gian: Tìm hiểu Làng tranh dân gian Đông Hồ tại xã Song Hồ,huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Về thời gian: Nghiên cứu cho tới ngày 10/03/2013

4 Phương pháp nghiên cứu.

Với đề tài nghiên cứu này, người viết đã sử dụng những phương pháp nghiêncứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, thống kê

Trang 3

Bài nghiên cứu này sẽ góp phần cung cấp thêm một số kinh nghiệm nhỏtrong việc tiếp cận dòng tranh này từ nhiều góc độ khác nhau

Hy vọng bài tiểu luận này sẽ góp phần làm tư liệu cho các nhà nghiên cứu

về dòng tranh dân gian Đông Hồ cũng như là sinh viên hay những người có nhucầu tìm hiểu về dòng tranh quý báu này của dân tộc

6 Bố cục của bài tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì bài tiểu luận có

bố cục gồm 3 chương:

Chương 1 Văn hóa làng tranh dân gian Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện ThuậnThành, tỉnh Bắc Ninh

Chương 2 Đặc điểm làng tranh dân gian Đông Hồ

Chương 3 Giải pháp bảo tồn và phát triển làng tranh dân gian Đông Hồ

Trang 4

Chương 1: VĂN HÓA LÀNG TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ, XÃ SONG

HỒ, HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH.

1.1. Làng nghề và văn hóa làng nghề ở nước ta.

1.1.1 Khái niệm nghề và làng nghề.

a Khái niệm nghề.

Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc.Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêuvong Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành côngnghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cảmột nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng,phần mềm và các thiết bị bổ trợ v.v… Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách

ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếpnối ra đời…

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế

từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra nhữngbiến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội Trong cơ chế thị trường,nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hànghóa Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề,khả năng về mọi mặt của người lao động Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này nhưthế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định.Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế

Trang 5

thị trường Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắmvững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm…

Khi giúp đỡ thanh niên chọn nghề, một số nhà nghiên cứu thường đặt câuhỏi: “Bạn biết được tên của bao nhiêu nghề?” Nghe hỏi, nhiều bạn trẻ nghĩ rằngmình có thể kể ra nhiều nghề, song khi đặt bút viết thì nhiều bạn không kể đượcquá 50 nghề Bạn tưởng như thế đã là nhiều, song nhà nghiên cứu lại nhận xét:Chà, sao biết ít vậy!

Để hiểu vì sao nhà nghiên cứu lại kêu lên như vậy, chúng ta hãy cùng nhau

làm sáng rõ 2 khái niệm Nghề và Chuyên môn.

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo,con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩmvật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sảnxuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ranhững giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trịtinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phươngtiện sinh tồn và phát triển của xã hội

Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyênmôn Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ởnước Mỹ, con số đó lên tới 40.000

b Khái niệm làng nghề.

Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn

để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đờisống như: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chếbiến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đếnnhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm Bên cạnh những người

Trang 6

chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề,hoặc làm thuê (nghề phụ) Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mangtính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giớihạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sangnghề thủ công Như vậy, làng nghề đã xuất hiện.

Có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông” [Đặng Kim Chi, 2005].

Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để mộtlàng ở nông thôn được coi là một làng nghề Nhưng nhìn chung, các ý kiến thốngnhất ở một số tiêu chí sau:

- Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm;hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng, hoặc:

- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên,trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% sovới tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động

- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng

và do người trong làng tham gia

Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làngnghề gồm có 3 tiêu chí sau:

- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngànhnghề nông thôn

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thờiđiểm đề nghị công nhận

Trang 7

- Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước.

1.1.2 Văn hóa làng nghề.

a Phân biệt các thuật ngữ nghề làng, làng nghề, văn hóa làng nghề.

Làng nghề thủ công như là gương mặt của làng xã nông nghiệp, nó là một bộphận không thể tách rời, thậm chí phát triển song hành cùng làng xã của ngườiViệt Chính vì vậy, khi tìm hiểu và phân tích về làng nghề truyền thống, chúng tathật khó có thể phân định một cách rõ ràng thế nào là làng nghề và thế nào làkhông phải làng nghề Mặt khác, khi định dạng thuật ngữ này, chúng ta còn có thểgặp phải những tiêu chí đã được mặc định sẵn của các ngành khác như: Du lịch,kinh tế…

Trong cuốn Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, GS Trần Quốc Vượng

đã “thử đưa ra một định nghĩa về làng nghề” nhưng thực chất đây là một địnhnghĩa đầy đủ nhất từ trước đến nay Trước hết, định nghĩa này khẳng định làngnghề là một yếu tố quan trọng trong xã hội tiểu nông, có những làng gắn với nôngnghiệp và có những làng được chuyên môn hóa (những làng chuyên môn hóathường gắn liền với đô thị hay kinh đô hoặc khu vực trung tâm và có một tầng lớpthợ thủ công chuyên nghiệp, có cơ cấu tổ chức phường hội…):

“Theo chúng tôi hiểu gọi là một làng nghề (như làng gốm Bát Tràng, Thổ

Hà, Đông Hồ,…), làng đồng (Bưởi, Vó, Hè Nôm, Thiệu Lý, Phước Kiều…), lànggiấy vùng Bưởi, Dương Ô…, làng rèn sắt Canh Diễn, Phù Dực, Đa Hội v.v…) làlàng ấy, tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ (lợn, gà…) cũng

có một số nghề phụ khác như (đan nát, làm tương, làm đậu phụ…) song đã ổi trộimột nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp haybán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả… cùngmột số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định, “sinh ưnghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề

Trang 8

và sản xuất ra các mặt hàng thủ công; những mặt hàng này có tính mỹ nghệ, đã trởthành sản phẩm hàng hóa có quan hệ tiếp thị (marketing) với một thị trường làvùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô (Kẻ Chợ, Huế, Sài Gòn…)

và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi xuất khẩu ra nước ngoài

Dựa theo quan điểm phan chia làng Việt theo chức năng về kinh tế và địnhnghĩa của GS Trần Quốc Vượng, có thể đua ra một số đặc điểm của làng Việt nóichung và làng nghề châu thổ sông Hồng như sau: Trong diễn trình lịch sử, làngViệt đã trải qua các giai đoạn phát triển, hình thành nên những hình thái – kiểulàng để phù hợp với từng thời kỳ lịch sử nhất định Các kiểu hình thái này songsong tồn tại cho đến thời điểm hiện nay

Làng nông nghiệp: là cư dân chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng lúa nước,ngoài ra trong thời gian nông nhàn họ làm thêm nghề phụ khác (nghề thủ côngnhư: làm đậu, đan nát,…) để tăng nguồn thu nhập – nghề phụ của làng được gọilag Nghề làng)

Một đặc tính nữa của xã hội tiểu nông là buôn bán nhỏ lẻ, dần dần đã hìnhthành nên một số làng buôn, nhưng thực tế cho thấy, làng buôn không thể đứngvững một mình mà phải phụ thuộc rất nhiều vào nghề làng và làng nghề

Ngoài ra, còn một số kiểu làng khác như: làng vạn chài ven sông…

Vậy đặc trưng của văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng bao gồm nhữngyếu tố gì (?) và khác gì so với làng nông nghiệp (?):

- Về cơ bản, đặc trưng của văn hóa làng nghề cũng tương tự văn hóa làngtruyền thống với những yếu tố cấu thành như:

+ Cơ cấu tổ chức: Diện mạo làng xã, dòng họ, phe, giáp, các hội đồngniên…

+ Văn hóa vật thể: Đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ, nhà ở…

Trang 9

+ Văn hóa phi vật thể: Luật tục, phong tục, tập quán, ứng xử xóm làng, lễhội, tín ngưỡng dân gian…

- Do nguồn sống chủ yếu dựa vào các sản phẩm của các nghề thủ công vàviệc trao đổi buôn bán (kinh doanh hàng hóa), cộng thêm sự tác động của quátrình di dân (di động xã hội), nên văn hóa làng nghề có yếu tố mở khác hẳn vớilàng nông nghiệp

+ Cơ cấu tổ chức: Phường/hội nghề, mối quan hệ làng xóm - dòng họ - giađình - thợ thủ công

+ Một số hình thái văn hóa: Nghề và tín ngưỡng thờ tổ nghề (nơi thờ tổnghề); ứng xử mang tính tiểu thương; bí quyết và kỹ xảo nghề; các tập tục riêngbiệt của làng nghề…

b. Những vấn đề đặt ra về văn hóa làng nghề trong đời sống đương đại.

Trong cuộc sống đương đại, khi Việt Nam đã ra nhập Tổ chức Thương mạithế giới (WTO), nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, văn hóa làng lànghay văn hóa làng nghề chắc chắn sẽ biến đổi

- Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ biến đổi có nghĩa là: sự đổi khác; Biếnđổi văn hóa: là sự đổi khác của văn hóa trong bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hộinhất định Nói cách khác, biến đổi văn hóa là sự thích nghi và phát triển của vănhóa trong từng giai đoạn của lịch sử, nếu không thích nghi và phát triển thì vănhóa sẽ biến đổi theo chiều hướng không tích cực Vậy, những vấn đề đặt ra khinghiên cứu sự biến đổi văn hóa làng nghề là gì (?) xu hướng biến đổi (?) và đưa ranhững chính sách mang tính định hướng để xã hội tự điều tiết như thế nào (?).Dưới đây là một số biến đổi văn hóa làng nghề

+ Các yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự biến đổi của nghềtruyền thống và văn hóa làng nghề

Trang 10

+ Các nguyên nhân bên trong của cộng đồng làng ảnh hưởng đến sự biến đổivăn hóa làng nghề (tâm lý cộng đồng, hệ thống giá trị chuẩn mực).

+Sự biến đổi các yếu tố cấu thành nên văn hóa làng nghề

+ Quá trình đô thị hóa sẽ làm tan rã cộng đồng làng

+ Sự hình thành các yếu tố văn hóa mới trong làng nghề

c Vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa các làng nghề.

- Chính sách gắn phát triển kinh tế với văn hóa làng nghề (chuyên sâu hóamột số ngành nghề)

- Phát triển văn hóa làng nghề trên cơ sở bảo tồn các làng nghề truyền thống

- Phát triển văn hóa làng nghề dựa vào phát triển du lịch bền vững - đây làmột trong những bài toán nan giải - dùng kinh tế để thúc đẩy phát triển văn hóa vàngược lại - không chỉ riêng trường hợp ở Việt Nam mà còn của cả khu vực và thếgiới

- Vấn đề vốn xã hội của làng nghề (hay nói đúng hơn là của cộng đồng cưdân của làng nghề ấy) trong quá trình hội nhập kinh tế thị trường, vốn xã hội cógiúp ích gì trong quá trình tồn tại của làng nghề

- Vấn đề vốn xã hội của làng nghề (hay đúng hơn là của cộng đồng cưdân của làng nghề ấy) trong quá trình hội nhập kinh tế thị trường, vốn xã hội

có giúp ích gì trong quá trình tồn tại của làng nghề

1.2 Làng tranh dân gian Đông Hồ.

1.2.1 Địa lý tự nhiên và cơ cấu dân cư

a Vị trí địa lý.

Xã Song Hồ nằm ở phía đông bắc của huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, làmột trong những xã có nền kinh tế phát triển nổi bật của huyện

Trang 11

Song Hồ cách trung tâm Hà Nội khoảng 35km về hướng đông, nằm bên bờ nam

đê sông Đuống, giao thông tương đối thuận lợi, thông ra quốc lộ 5

b Địa hình địa chất.

Địa hình xã Song Hồ tương đối bằng phẳng Hàng năm được phù sa sôngĐuống bồi đắp nên đất đai rất màu mỡ, thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu.Đặc biệt là các loại cây trồng như tre, dành dành,… Phát triển rất nhanh, là nguồnnguyên liệu vô tận cho việc sản xuất của làng tranh Đông Hồ

c Khí hậu, thủy văn.

* Khí hậu

Song Hồ mang đặc điểm chung của khí hậu Đồng bằng Bắc Bộ thể hiệntính chất nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều Mùa mưa trùng với thời kì gióĐông Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa khô trùng với thời kì gió ĐôngBắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 24°C.Các tháng có nắng, ít mưa, thuận lợi cho việc phơi sấy tranh là tháng 5, 6, 10, 11,

Trang 12

Đất đai có nguồn gốc phù sa sông Hồng được phân ra hai loại đất chính:

- Đất phù sa được bồi đắp hàng năm phân bố ở ngoài đê sông Đuống

- Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm, phân bố ở phía trong đêsông Đuống

Thảm thực vật ở đây tương đối nghèo nàn Các loại cây trồng chủ yếunhư: lúa, hoa màu, cây ăn quả phân bố không đồng đều

e Cơ cấu dân cư.

Làng Đông Hồ là một làng nhỏ (có hơn 220 hộ dân) Người dân nơi đâysống bằng nghề làm tranh nhiều hơn là làm nông nghiệp Ngày xưa, hầu như giađình nào cũng biết làm tranh cùng với nghề làm vàng mã

Nghề làm tranh và làm vàng mã của xã đã góp phần giải quyết vấn đề việclàm cho người dân trong xã tăng lên khá nhiều (khoảng 80%) Không nhữngngười lớn có thể làm được mà trẻ em nơi đây cũng làm rất thành thạo, góp phầntạo thêm thu nhập cho gia đình

1.2.2 Đời sống kinh tế.

Giống như các xã trong huyện nói riêng và toàn tỉnh nói chung, Song Hồvẫn lấy nông nghiệp làm chủ đạo, trồng lúa, hoa màu,… Nghề làm tranh vẫnđược ưa chuộng, gìn giữ Ngoài ra, Song hồ vẫn có nghề làm vàng mã cùng tồntại song song với nghề làm tranh của xã Ngày xưa thì hầu như cả làng nhà nàocũng biết làm tranh, nhưng hiện nay thì chỉ còn hai gia đình làm tranh cuối cùngcủa làng, đó là gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và gia đình nghệ nhânNguyễn Hữu Sam

1.2.3 Đời sống văn hóa.

Hằng năm cứ vào ngày 15 tháng 3 âm lịch, theo tập tục địa phương thì dân

làng Đông Hồ lại tổ chức lễ hội (lễ rước nước chỉ tổ chức 5 năm một lần) Nguồn

Trang 13

gốc lâu đời của lễ hội làng tranh là lễ hội nông nghiệp, nhưng trong quá

trình“biến đổi” xã hội thì lễ hội nơi đây đã chuyển dần sang lễ hội làng nghề,

mang ý nghĩa xã hội, lịch sử và văn hóa phong phú

Có thể nói, lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa - cộng đồng, đáp ứng nhucầu “tâm linh” không thể thiếu trong đời sống của mỗi cộng đồng dân tộc Nóthuộc phạm vi lối sống, bởi vì trong các phong tục, tập quán của dân tộc, tathường thấy chuỗi hành động biểu trưng hiện ra như một nghi thức đời thường

và nhất là trong nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo Các hành vi mang “tính biểutượng” được con người biểu hiện ra trong đời sống hàng ngày là nhờ trí khôn của

con người mà có, bởi lẽ, yếu tố hàng đầu của văn hoá chính là sự hiểu biết Trí

khôn của con người được tích luỹ trong quá trình học tập, lao động sản xuất và đấu

tranh với tự nhiên suốt chiều dài lịch sử nhân loại, để duy trì và phát triển cuộc sống

của mỗi cộng đồng dân tộc Chính vì vậy, văn hóa được xem là “giá trị

tinh thần” nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu tinh thần của con người Nhà Nhân học Ruth Bennedict đã nhận định rằng:“Văn hóa là những hành vi (lối sống) do con người học được, chứ không phải là sự kế thừa sinh học”

Ở làng tranh Đông Hồ có một ngôi đình cổ rất lâu đời Trước đây đình ởngoài bờ sông, nhưng do nước sông dâng lên thường xuyên nên phải di chuyểnvào vùng đất cao như hiện nay, việc chuyển dời đình đã được thực hiện vào năm

Đinh tỵ cách đây hơn 100 năm Đình làng Đông Hồ đã được công nhận là “di tích lịch sử văn hóa” từ năm Quý Dậu (1993) và mới đây được trùng tu lại vào

năm Ất Dậu (2005)

Biểu tượng Thành hoàng làng của đình Đông Hồ là một “nhiên thần” có tên là “Phổ Tế Trấn Bắc đại vương - Thượng Đẳng Thần” có từ đời vua Tự Đức.

Truyện kể rằng, có một lần thuyền vua Tự Đức đi ngang qua nơi đây, bỗng nhiên

có một trận cuồng phong, mưa gió nổi lên, nhà vua ra lệnh dừng thuyền và chongười tìm hỏi dân làng gần đây có đình, chùa nào linh thiêng không? Dân sở tại

Trang 14

cho biết, làng có một ngôi đình thờ đức ông “Phổ Tế Trấn Bắc Đại vương” và một đền thờ đức bà “Diệu Linh Tiên chúa” rất linh thiêng Vua Tự Đức nghe xong, liền ra lệnh sắc phong cho vị đức ông là: “Bác trạch hoằng thi phổ huệ đôn ngưng chi thần” và vị tiên bà là: “Cổ mão đại ngạn diệu linh tiên chúa”.

Về sau, đời vua Khải Định cửu niên tái sắc phong cho đức ông là: “Dực bảo trung hưng phổ tế trấn Bắc Đại vương” và sắc phong cho đức bà là: “Túy mục thượng đẳng thần” Có lẽ, vì thế mà hướng đình làng Đông Hồ đã được dân

làng chọn nhìn về hướng Bắc, thay vì quay về hướng Nam như các ngôi đìnhkhác Ngoài đình và đền ra, trong bảng khai thần tích của làng, không thấy ghichép một ngôi chùa nào

Trong dịp mở hội làng, mọi người ở khắp nơi đều muốn giành chút thờigian trở về làng dự hội, qua đó, có nén tâm hương cùng với tấm lòng thành kính

dâng các bậc “thần linh” để cầu mong các ngài phù hộ cho được ấm no và hạnh

phúc Có thể nói, vai trò tín ngưỡng của ngôi đình trong tâm thức của người dân

làng Đông Hồ là rất quan trọng Nó thuộc về “nhu cầu tâm linh” không thể thiếu

được trong đời sống văn hóa ở nơi đây

Ngôi đình làng Đông Hồ được trùng tu, xây dựng lại theo kiến trúc hìnhchữ Đinh, tạo nên bởi tòa hậu cung nối vuông góc với gian đại đình Gian đạiđình bao gồm một tòa 5 gian 2 chái, kết cấu 8 hàng chân cột, mỗi hàng 4 cột vớitổng số là 32 cột gỗ lim cứng, tạo nên thế vững chắc cho ngôi đình Bề ngangngôi đình rộng 12m, nếu kể cả hai chái hai bên (mỗi bên 2,5m chiều ngang) tổngcộng là 17m Chiều dọc của ngôi đình là 12m (gồm 6m gian đại đình và 6m hậucung) Đình tuy tu tạo lại mới được 6 năm, nhưng do kế thừa hầu hết phần thiết

kế nội cung của ngôi đình cổ trước đây, nên khi hoàn thành vẫn giữ được sự uynghiêm, cổ kính như hiện nay (chủ yếu là phần bên trong ngôi đình) Kết cấu vì

kèo theo kiểu “Chồng rường giá chiêng, hạ bẩy”, trên các đầu dư, đầu bẩy, xà ngang, cốn nách, câu đầu…đều có chạm khắc các hình trang trí hoặc hoa lá với

Trang 15

kỹ thuật khá tinh vi và có giá trị mỹ thuật cao Kiểu nhà 2 mái lợp ngói mũi hài

tạo nên sự hài hoà và thông thoáng Trên nóc đình có đắp nổi biểu tượng “Lưỡng long chầu nguyệt” tạo nên sự uy nghiêm cho ngôi đình [Nguyễn Văn Hậu – Đời

sống văn hóa tâm linh ở làng tranh Đông Hồ]

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM LÀNG TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ.

2.1. Sự hình thành và phát triển làng tranh dân gian Đông Hồ.

2.1.1 sự hình thành làng tranh dân gian Đông Hồ.

Tranh Đông Hồ có từ thời Lê, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh

Hà Bắc (cũ) Ngày xưa chợ tranh họp năm phiên trong tháng duy nhất của năm –tháng chạp vào các ngày 6,11,16,21,26

Chợ chỉ họp và bán tranh sau khi các gia đình đã sửa lễ cúng thánh:

“Dù ai buôn bán trăm nghề Nhớ đến tháng chạp thì về buôn tranh…”

Làng Đông Hồ xưa còn gọi là làng Mái Ở cái làng nghèo mà hào hoa nhưlàng tranh Đông Hồ trước đây các cụ vẫn truyền lại mấy câu ca:

“Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về làng Mái với anh thì về Làng Mái có lịch có lề

Có sông tắm mát có nghề làm tranh”

Làng Đông Hồ nằm ngay sát bờ sông Đuống, ngày xưa chỉ cách sông mộtcon đê, đó là ý trong câu “Có sông tắm mát có nghề làm tranh” Ngày nay, do sựbồi lấp của dòng sông nên từ đê ra đến mép nước giờ khá xa

Trang 16

Còn “làng Mái có lịch có lề” thì nghĩa là gì? Tục ngữ Việt Nam có câu:

giấy rách phải giữ lấy lề Chữ lề ở đây tượng trưng cho những quy tắc đạo đức

của người xưa, rất trọng danh dự, khí tiết Còn dân làng Mái, dân nghệ thuật rấttrọng lời ăn tiếng nói Không như nhiều làng quê khác, người dân làng Hồ, nhất

là phụ nữ, ăn nói rất lịch lãm, trên dưới thưa gửi rất rõ ràng Người làng kể rằng

kể cả từ xưa, rất hiếm khi trong làng có tiếng người mắng chửi nhau

Không khí sầm uất vào cữ một chạp, các thuyền từ xứ Đôn xứ Đoài ghébến “ăn tranh” Người làm tranh trước ở ngoài đê vào mùa vụ làm tranh cũngphải một sương hai nắng tất bật sớm khuya Thôi thì chỗ này rậm rịch tiếng chàygiã điệp, chỗ nọ dỡ ván in tranh cọ rửa lau chùi sạch sẽ Khói đốt than lá tre ẩnhiện la đà trên các ngọn cây Làng Đông Hồ ruộng đất ít, từ cụ già đến con trẻđều mê và nghiện trà đặc Thuốc lào Tiên Lãng và chè móc câu Thái Nguyên làthứ không thể thiếu được trong các đêm làm tranh Tiếng rít thuốc lào sòng sọcnghe vui tai, nước trà đặc sánh, làm cho đầu óc minh mẫn, tỉnh táo khiến cho nét

vẽ, màu vẽ thêm sống động, có hồn có vía Tranh đẹp hay không đẹp đều chỉnhất loạt giữ giá một, người sành chơi có thể tùy ý lựa chọn Không khí tết chộnrộn không chỉ ở cảnh kẻ bán người mua tấp nập, mà cả bởi vẻ rực rỡ, sắc màutươi rói của những bộ tứ bình, Thạch Sanh, những gà, lợn, mèo, chuột, ngựa

“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Hồn dân tộc sáng lừng trên giấy điệp”

Có thể nói, cái đặc biệt của làng tranh Đông Hồ là ở chỗ Tranh dân gianHàng Trống, Kim Hoàng, Huế… không thể có sắc màu muôn hồng ngàn tía củatranh Đông Hồ, cũng không thể có nền giấy điệp quyến rũ đó Người sành tranhĐông Hồ cũng chính bởi chất dân gian chứa đựng trong tờ tranh nền giấy điệptrắng ngà

Trang 17

Người dân làng chuyên sản xuất tranh nhưng không bao giờ treo tranhtrong nhà mà đem bán hoặc cho thiên hạ hết Nghề làm tranh trong làng rất đượctrọng vọng; ai có hoa tay, có thú chơi cầm, kỳ, thi, họa đều được mọi người vị nể(cũng là theo cái thú tao nhã của nhà nho xưa) Làng tranh cũng trải qua biết baonhiêu thăng trầm Các cụ nghệ nhân trong làng kể lại: Hồi Pháp thuộc, người ởnhà Bác Cổ thỉnh thoảng lại đánh xe ô tô về mua tranh, thậm chí mua cả bảnkhắc tranh nữa! Nhà cụ Lử có bản khắc tranh gà rất quý đưa đi đóng cửa chuồng

gà, người Pháp phát hiện ra hỏi mua cụ bán liền Nghĩ mà tiếc đứt ruột! Lại cònnhớ cái thuở Tây càn, dân làng Hồ chạy loạn, binh lửa chiến tranh liên miên vàcái khí hậu ẩm ướt khắc nghiệt của thiên nhiên miền Bắc, ván khắc tranh bị hỏng

và thất lạc khá nhiều

Bản gốc tranh Đánh ghen, Gà đại cát, lợn ăn củ ráy cũng không còn nữa.Sau ngày Hòa Bình lập lại thấy trên báo Pháp có in tranh dân gian làng Hồ,Chính phủ ta phải liên hệ với Đảng Cộng sản Pháp xin cho khắc lại ván tranh đểbảo tồn Tranh Đông Hồ có một dạo lên đến điểm “cực thịnh”, đã từng sáng giátrong các triển lãm nghệ thuật lớn ở các nước trên thế giới với nét vẽ nhuầnnhụy, tươi tắn như hồn người đất Việt Bà con Việt kiều khi về nước cũng phảitìm mua bằng được những “bức tranh làng Hồ và cô Tố Nữ dáng quê hương, đểkhi ở xa quê trong sương mù Luân Đôn hay cái giá lạnh của Pa-ri hoa lệ cảmthấy ấm lòng ở chốn tha hương”

2.1.2 Quá trình phát triển của làng tranh dân gian Đông Hồ.

Do công nghệ phát triển, tranh dân gian Đông Hồ bây giờ không tiêu thụnhiều như trước Qua nhiều thế kỷ, 17 dòng họ đã quy tụ về làng, vốn xưa tất cảđều làm tranh Nhưng đến nay, dân làng Hồ hiện chủ yếu sống bằng nghề làmvàng mã Hiện nay chỉ còn hai gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và NguyễnHữu Sam cùng con cháu là theo nghề tranh, gìn giữ di sản tranh Đông Hồ

Trang 18

Mặc dù vậy, Quanh năm vẫn có rất nhiều khách du lịch trong ngoài nướcđến làng tranh Đông Hồ thăm và mua tranh Đông Hồ làm kỷ niệm Một số kháchsạn, nhà hàng từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh cũng về đây đặt những bứctranh khổ lớn để trang trí cho cách phòng khách, hoặc phòng ăn lớn Từ Hà Nộimuốn đi Đông Hồ đường gần nhất du khách thường đi là xuôi theo đường Quốc

lộ số 5 (đường đi Hải Phòng) đến ga Phú Thụy, cách Hà Nội chừng 15 km thì rẽtrái, đi chừng 18 km nữa, qua các địa danh khá nổi tiếng của huyện Gia Lâm (HàNội) như phố Sủi, chợ Keo, chợ Dâu (Thuận Thành-Bắc Ninh) là đến phố Hồ-huyện lỵ Thuận Thành Rẽ trái thêm 2 km là đến làng Hồ Cũng có thể đi hết phố

Hồ, lên đê rẽ trái, gặp điếm canh đê thứ hai sẽ có biển chỉ đường xuống làngĐông Hồ

Theo đánh giá của một số họa sĩ, tranh Đông Hồ in ở thời điểm hiện tạithường không có màu sắc thắm như tranh cổ, nguyên nhân là người ta trộn màutrắng vào điệp quét giấy để bớt lượng điệp khiến giấy mất độ óng ánh và trở nên

"thường", màu sắc sử dụng cũng chuyển sang loại màu công nghiệp, các bảnkhắc mới có bản không được tinh tế như bản cổ Một điểm đáng lưu ý khác nữa

là một số bản khắc đã đực bỏ phần chữ Hán (hoặc chữ Nôm) bên cạnh phầnhình của tranh khiến tranh ít nhiều bị què cụt về mặt ý nghĩa Nguyên nhân dẫntới tình trạng này ước đoán là: Có một thời chữ Hán (và chữ Nôm) bị coi làphong kiến lạc hậu, liệt vào danh mục bài xích nên thợ in đự bỏ đi cho đỡ ráchviệc Thế hệ sau này không phải ai cũng đọc và hiểu được các ký tự ấy nên tự ý

bỏ đi Cũng do không đọc hiểu được nên các ván khắc truyền lại “tam sao thấtbản”, đến mức còn lại các ký tự nhưng không đọc được ra chữ gì

Về nội dung tranh, lưu ý rằng có sự gần gũi nhất định giữa nội dung tranhkhắc gỗ màu của Việt Nam với của Trung Quốc, có những tranh mà cả hai nướcđều có, song tranh Đông Hồ phát triển thành một hướng riêng tồn tại nhiều thế

Ngày đăng: 09/12/2022, 14:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w