1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ USSH trách nhiệm xã hội của trường đại học công nghệ thông tin và truyền thông trong giai đoạn hiện nay (đào tạo thí điểm)

87 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách Nhiệm Xã Hội Của Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin Và Truyền Thông Trong Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Hà Văn Vương
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Mạnh Quân
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Khoa Học Quản Lý
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. LÝ LUẬN VỀ ĐẠI HỌC VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC (14)
    • 1.1. Giáo dục đại học (14)
      • 1.1.1. Khái niệm giáo dục đại học (14)
      • 1.1.2. Vai trò của giáo dục đại học (17)
      • 1.1.3. Xu hướng phát triển của giáo dục đại học hiện đại (18)
    • 1.2. Trách nhiệm xã hội (20)
      • 1.2.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội (20)
      • 1.2.2. Mục đích của trách nhiệm xã hội (22)
      • 1.2.3. Nội dung của trách nhiệm xã hội (22)
    • 1.3. Trách nhiệm xã hội của trường đại học (25)
      • 1.3.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của trường đại học (25)
      • 1.3.2. Mục đích của việc đảm bảo trách nhiệm xã hội của trường đại học (27)
      • 1.3.3. Nội dung trách nhiệm xã hội của trường đại học (28)
    • 1.4. Điều kiện bảo đảm thực hiện trách nhiệm xã hội của trường đại học (34)
  • Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG (37)
    • 2.1. Khái quát về Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông (37)
      • 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Nhà trường (37)
      • 2.1.2. Sứ mạng và chiến lược của Nhà trường (38)
      • 2.1.3. Những cam kết trong hoạt động của Nhà trường (39)
    • 2.2. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông (40)
      • 2.2.2. Thực trạng thực hiện TNXH của Nhà trường đối với người học (42)
      • 2.2.3. Thực trạng thực hiện TNXH của Nhà trường đối với giảng viên (48)
      • 2.2.4. Thực trạng thực hiện TNXH của Nhà trường đối với người sử dụng lao động (50)
      • 2.2.5. Thực trạng thực hiện TNXH của Nhà trường đối với cộng đồng địa phương (52)
    • 2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông (54)
      • 2.3.1. Kết quả Nhà trường đã đạt được (54)
      • 2.3.2. Những vấn đề còn hạn chế (56)
  • Chương 3. XU HƯỚNG CỦA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT BẢO ĐẢM THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (59)
    • 3.1. Xu hướng của trách nhiệm xã hội trong trường đại học hiện nay (59)
    • 3.2. Một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện trách nhiệm xã hội của Trường ĐH CNTT&TT (61)
      • 3.2.1. Đổi mới văn hóa tổ chức theo hướng đảm bảo TNXH (61)
      • 3.2.2. Tăng học phí để đầu tƣ cho dịch vụ giáo dục (0)
      • 3.2.3. Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng gọn nhẹ, thúc đẩy tinh thần tự học của sinh viên (63)
      • 3.2.4. Tinh giản đội ngũ nhân sự trong Nhà trường (64)
      • 3.2.5. Bảo đảm các chế độ phúc lợi đối với cán bộ, giảng viên (65)
    • 3.3. Một số khuyến nghị nhằm thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của Trường ĐH CNTT&TT (65)
      • 3.3.1. Nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước (65)
      • 3.3.2. Nhiệm vụ của lãnh đạo Nhà trường (66)
      • 3.3.3. Nhiệm vụ của giảng viên (68)
      • 3.3.4. Nhiệm vụ của sinh viên (69)
      • 3.3.6. Nhiệm vụ của cộng đồng địa phương (70)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (74)
  • PHỤ LỤC (78)

Nội dung

Với những suy nghĩ trên, tác giả nghiên cứu vấn đề trách nhiệm xã hội cụ thể tại một trường đại học với đề tài “Trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông

LÝ LUẬN VỀ ĐẠI HỌC VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Giáo dục đại học

1.1.1 Khái niệm giáo dục đại học

Giáo dục là một hiện tượng của xã hội đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người Sự đặc biệt của giáo dục đƣợc thể hiện ở sự truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội qua các thế hệ, tạo ra sự phát triển của cá nhân và xã hội

Giáo dục bắt đầu xuất hiện từ khi con người biết lao động và có ngôn ngữ

Ban đầu nó mang tính tự phát, đơn giản theo kiểu bắt chước trực tiếp, truyền đạt kinh nghiệm săn bắt, hái lƣợm, cao hơn là các nghi lễ, tập tục của cộng đồng Qua thời gian, cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất, các giai đoạn phát triển của xã hội loài người, hoạt động giáo dục cũng phát triển liên tục với các mục đích khác nhau Sau một thời gian phát triển, xã hội xuất hiện một bậc học mang tính hàn lâm, đặc trƣng cho văn minh của một thời đại, chỉ dành riêng cho con em giai cấp thống trị, đó là giáo dục đại học Giáo dục đại học lúc này trở thành công cụ quan trọng của giái cấp thống trị, trước tiên nhằm đào tạo họ trở thành những người có năng lực duy trì nền thống trị, sau đó là tuyên truyền tính chất quy thuận, phục tùng đối với tất cả những tầng lớp bị trị Đại học là một trong ít các định chế của xã hội tồn tại lâu đời nhất trong lịch sử nhân loại, lâu hơn cả các vua chúa, lãnh chúa phong kiến, không những không tàn lụi đi mà ngày càng phát triển mạnh mẽ thêm Hầu hết các đại học thời Trung cổ vẫn còn hiện hữu tại vị trí cũ của chúng Ý tưởng giáo dục châu Âu đã có từ khoảng

2500 năm trước tại Hy Lạp cổ đại Hàn lâm viện của Platon có thể được xem là hạt nhân của học thuật đầu tiên của châu Âu, hội tụ đầy đủ các tính chất học thuật: đi tìm cái tốt, cái chân lý, bằng khoa học, bằng sự đối thoại trong không khí tự do, bằng sự tự nguyện, thầy và trò bình đẳng nhau, thầy và trò tìm đến nhau Đó thực tế là những hạt giống ý tưởng đại học của các nhà cải cách đại học Đức Fichte, Humboldt và Schleiermacher sau này Nhƣng đại học có tổ chức và tinh thần gần gũi với đại học chúng ta ngày nay chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ 12 tại Tây Âu, với các đại học đầu tiên là Bologna, Paris và Oxford Mục tiêu của đại học là mối quan tâm học thuật, khoa học, mong muốn đạt đến nhận thức và tri thức, hơn là từ lý do

Từ sự phát triển của các phương thức sản xuất từ thời kỳ Cổ đại đến Trung đại, Cận đại và Hiện đại, ngày nay hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều đã có hệ thống trường cao đẳng, đại học đa ngành và chuyên ngành để đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài cho quốc gia mình, hỗ trợ giáo dục cho quốc gia khác, góp phần to lớn vào mục đích giao lưu hội nhập quốc tế Hiện nay trên thế giới, đối với những quốc gia nhỏ cũng có hàng trăm trường đại học, cao đẳng Những quốc gia lớn như

Mỹ, Nga, Trung Quốc… thì có đến hàng ngàn trường đại học, cao đẳng, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và nhu cầu học tập suốt đời theo xu thế hội nhập quốc tế Ở Việt Nam, Quốc Tử Giám xây dựng ở thế kỷ XI (1075) đánh dấu sự ra đời của giáo dục đại học Đây đƣợc coi là trung tâm đào tạo, bồi dƣỡng trình độ cao nhất của Nho học suốt hàng ngàn năm trong xã hội phong kiến Mục đích của Quốc

Tử Giám lúc này là đạo tạo sĩ tử, phát triển nhân tài để tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước phong kiến khi đó Từ khi thành lập nên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 trở về sau, giáo dục đại học ở Việt Nam có sự phát triển nhanh chóng với sự ra đời nhiều trường Đại học, Cao đẳng, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Chính sách đổi mới giáo dục của Chính phủ từ những thập niên 80 theo hướng xã hội hóa giáo dục đã làm gia tăng nhanh số lượng các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam từ 120 trường (1990), 157 trường (1998), 191 trường (2002), 311 trường (2006) lên tới 472 trường (2014) Sự phát triển nhanh chóng của mạng lưới các trường cao đẳng, đại học đã góp phần quan trọng thực hiện xã hội hóa giáo dục, cung cấp nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nhưng, bên cạnh những thành tựu ấy cũng để lại nhiều hệ lụy đó là chất lƣợng giáo dục đại học đi xuống, sự gia tăng không kiểm soát được số lượng các trường cao đẳng, đại học (theo Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, đến năm 2020 Việt Nam sẽ 460 trường cao đẳng, đại học) Việc giảm sút của chất lượng đào tạo cùng với sự dễ dãi trong tuyển sinh đã khiến cho giáo dục đại học mất dần đi cái giá trị vốn có của nó

Vậy giáo dục đại học là gì?

Trong một xã hội đầy ắp những khác biệt, với nhiều hệ tư tưởng và ý kiến đa dạng, cụm từ “giáo dục đại học” đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, tùy thuộc vào mục đích của nó mà giáo dục đại học đƣợc hiểu theo một khía cạnh Xét về cấp bậc, giáo dục đại học bao gồm việc giảng dạy và học tập ở cao đẳng và đại học nhằm giúp sinh viên đạt đƣợc một tấm bằng của bậc đại học Giáo dục đại học truyền cho người học những kiến thức và hiểu biết sâu sắc nhằm giúp họ đạt tới những giới hạn mới của tri thức trong từng lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống – các lĩnh vực chuyên sâu

Quan điểm của Ronald Barnett trong “Improving Higher Education: Total

Quality Care” (1992), có 4 khái niệm thông dụng nhất về giáo dục đại học:

- Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn Theo quan điểm này, giáo dục đại học là một quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động

Như vậy, GDĐH thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng của thương mại và công nghiệp

- Giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu Theo cách nhìn này, giáo dục đại học là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức mới Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố khoa học và tinh thần làm việc nghiêm nhặt để thực hiện các nghiên cứu có chất lƣợng

- Giáo dục đại học là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả Rất nhiều người cho rằng giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục Do vậy, các cơ sở giáo dục đại học thường chú trọng quản lý một cách hiệu quả các hoạt động dạy và học bằng cách nâng cao chất lƣợng giảng dạy và nâng cao tỷ lệ kết thúc khóa học của sinh viên

- Giáo dục đại học là mở rộng ra các cơ hội trong cuộc sống cho người học Theo cách tiếp cận này, giáo dục đại học được xem như một cơ hội để người học đƣợc tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng các thể thức học tập thường xuyên và linh hoạt

Các quan điểm này, chúng ta có thể thấy mối liên hoàn, liên quan và tích hợp với nhau tạo nên một bức tranh mô tả về giáo dục đại học Khi nhìn vào hoạt động của các trường đại học và cao đẳng, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra ba chức năng cơ bản cấu thành giáo dục đại học, đó là giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng

Trong từ điển giáo dục của tác giả Bùi Hiền, giáo dục đại học đƣợc hiểu là bậc học đào tạo trình độ học vấn chuyên môn cao, có mục tiêu đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đực, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương ứng với trình đồ đào tạo, có sức khỏe đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc [8; tr.122] Ở Việt Nam hiện nay, chƣa có định nghĩa chính thức về giáo dục đại học, và đƣợc hiểu đó là bậc giáo dục sau bậc Trung học phổ thông với các trình độ: cao đẳng, đại học, sau đại học Nhưng cũng giống như các nước khác trên thế giới, sứ mạng chính yếu của giáo dục đại học Việt Nam ở tất cả các giai đoạn phát triển là đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao cho nền kinh tế và đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội Mục tiêu của giáo dục thay đổi dựa vào chính sách phát triển kinh tế - xã hội của chính phủ đặt ra cho từng giai đoạn phát triển của đất nước

1.1.2 Vai trò của giáo dục đại học

Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh: bất cứ xã hội nào muốn tồn tại và phát triển tiến bộ thì phải thực hiện giáo dục liên tục đối với các thế hệ con người Giáo dục đại học luôn gắn liền với chế độ chính trị cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội Thực tiễn của Hoa Kỳ và châu Âu, trường đại học nói chung được hiểu như là cộng đồng của những người theo đuổi tri thức, tức là giảng viên và sinh viên Nó đƣợc coi là “nơi cung cấp kiến thức”, “ngôi đền của tri thức”, “trung tâm của quyền lực trí tuệ”, “nơi bảo vệ quyền lực của mọi loại tri thức” và là một

“trung tâm sáng tạo tri thức, chuyển giao và ứng dụng tri thức, xem lại mọi tri thức, phổ biến tri thức, chuyển giao và ứng dụng tri thức” Chức năng cơ bản của trường đại học là truyền tải văn hóa, kiến tạo tri thức, và theo đuổi chân lý thông qua việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu Ủy ban Kothari (1996) đã liệt kê những vai trò của các trường đại học như sau:

Trách nhiệm xã hội

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội

Vấn đề TNXH đã đƣợc thế giới quan tâm và đề cập đến từ thập niên 70 của thế kỷ XX Ban đầu, các khía cạnh TNXH còn đề cập ít và khá đơn giản nhƣ việc làm từ thiện, hỗ trợ người nghèo, sau đó là bảo vệ môi trường Sau đó, nội hàm của TNXH đƣợc mở rộng hơn rất nhiều Nó không chỉ là những vấn đề phúc lợi xã hội nữa, mà tập trung hơn vào hoạt động của cá nhân, tổ chức TNXH đƣợc nhìn nhận thông qua quá trình hoạt động, các quyết định quản lý, chất lƣợng sản phẩm và mối quan hệ của tổ chức với các bên hữu quan

Mặc dù vấn đề TNXH đã được nhắc đến từ lâu, nhưng dường như người ta quen thuộc hơn khái nhiệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Corporate

Social Responsibility (CSR) hơn là trách nhiệm xã hội – Social Responsibility (SR)

Cũng có một số nhà nghiên cứu nhắc tới định nghĩa này Theo nghĩa thông thường thì trách nhiệm đƣợc hiểu là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình Trách nhiệm thuộc phạm trù đạo đức học và luật học, phản ánh thái độ xã hội đặc biệt và thái độ đạo đức – pháp luật của cá nhân đối với xã hội; thái độ này biểu thị sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình và các tiêu chuẩn pháp luật

Theo tác giả Nguyễn Văn Thức, TNXH bao gồm ba nội dung cơ bản đó là:

Quan hệ giữa người với người cùng chung sống, hợp tác khoan dung với nhau trong xã hội; sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng; trách nhiệm phải đóng góp vào sự bảo vệ và phát triển bền vững của xã hội, nó thể hiện ở ba mức độ là tự nhiên, tự nguyện và nghĩa vụ

Trong “Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty”, tác giả Nguyễn Mạnh Quân cho rằng, TNXH của tổ chức, doanh nghiệp chính là thể hiện vấn đề đạo đức của tổ chức, doanh nghiệp đó Khi xử lý các vấn đề đạo đức ấy, có thể sắp xếp tất cả các nghĩa vụ của một tổ chức hay doanh nghiệp cần phải thực hiện khi thực hành trách nhiệm đối với xã hội thành bốn nhóm: Các nghĩa vụ kinh tế, các nghĩa vụ pháp lý, các nghĩa vụ đạo lý và các nghĩa vụ nhân văn TNXH thể hiện qua việc thực hiện các nghĩa vụ ấy với các bên hữu quan của mỗi tổ chức, doanh nghiệp Nó cần xuất phát từ đạo đức trong kinh doanh và bản sắc văn hóa của tổ chức chứ không phải mang tính hình thức hay mục đích kinh tế

Khái niệm TNXH đƣợc đề cập trong ISO 26000: 2010 nhƣ sau “Trách nhiệm xã hội của tổ chức là trách nhiệm của tổ chức đó đối với những tác động của các quyết định và hoạt động của nó đối với xã hội và môi trường, thông qua hành vi minh bạch và có đạo đức mà: góp phần vào sự phát triển bền vững, bao gồm cả sức khỏe và phúc lợi xã hội; có tính đến sự mong đợi của các bên liên quan; phù hợp với luật pháp hiện hành và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế của hành vi; được tích hợp trong tổ chức và thực hành trong các mối quan hệ của nó”

Nhƣ vậy, một tổ chức bất kỳ đƣợc coi là có TNXH phải có những hành vi minh bạch và có đạo đức Những quyết định và hành vi của tổ chức phải xem xét dựa trên những lợi ích chung và lợi ích các bên liên quan TNXH có những phần bắt buộc phải tuân theo những quy định của pháp luật, thông lệ quốc tế và sự tự nguyện của tổ chức đó Khái niệm TNXH trên đã khái quát cho mọi loại hình tổ chức, từ tổ chức chính trị – xã hội hay tổ chức giáo dục, sản xuất, kinh doanh TNXH hiện nay đề cập đến bốn khía cạnh: kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn TNXH của mỗi tổ chức khác nhau là khác nhau, tùy theo đặc thù ngành nghề và bản thân tổ chức Các tổ chức khi thực hiện tốt TNXH của mình sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng và cho chính mình

1.2.2 Mục đích của trách nhiệm xã hội

Các tổ chức nhận ra rằng nếu nhƣ họ không quan tâm đến việc đảm bảo rằng những hoạt động kinh doanh của mình đang đƣợc vận hành trong phạm vi những chuẩn mực trách nhiệm xã hội, thì họ sẽ mất ƣu thế so với đối thủ cạnh tranh; vì vậy, ngày càng có nhiều tổ chức tìm kiếm các giải pháp để họ có thể hiểu sâu hơn bề rộng của những trách nhiệm xã hội mà họ cần quan tâm Đây là một vấn đề phức tạp để có thể áp dụng với tất cả các tổ chức Không phân biệt về quy mô tổ chức hay phạm vi kinh doanh, loại hình dịch vụ, các tổ chức cần đảm bảo tất cả các quy định xã hội đều đƣợc thực hiện Thực hiện tốt vấn đề TNXH sẽ giúp cho các tổ chức có thể:

- Duy trì văn hóa tổ chức, chuẩn mực đạo đức;

- Nâng cao giá trị của tổ chức;

- Thu hút lao động giỏi;

- Bảo vệ quyền lợi cho người lao động;

- Vì lợi ích cộng đồng

1.2.3 Nội dung của trách nhiệm xã hội

Trong giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty”, tác giả Nguyễn

Mạnh Quân nhận định rằng việc TNXH chính là việc bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ của tổ chức, doanh nghiệp đối với các bên hữu quan Các nghĩa vụ ấy thể thiện khía cạnh với cấp độ từ thấp lên cao: nghĩa vụ kinh tế, nghĩa vụ pháp lý, nghĩa vụ đạo đức, nghĩa vụ nhân văn Đối với từng đối tƣợng hữu quan thì sẽ có các nghĩa vụ khác nhau Các nghĩa vụ ấy cần phải được đo lường căn cứ trên khả năng phúc lợi của mỗi tổ chức, doanh nghiệp

Hình 1.1 Tháp cấp độ trách nhiệm xã hội

Các cấp trách nhiệm mà một tổ chức phải thực hiện đối với các bên hữu quan nhƣ sau:

- Nghĩa vụ kinh tế: Nghĩa vụ kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một tổ chức quan tâm đến cách thức phân bổ trong hệ thống xã hội các nguồn lực đƣợc sử dụng để làm ra sản phẩm và dịch vụ Trong các nguồn lực đƣợc sử dụng để kinh doanh, tài chính là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, các nhà đầu tư thường là những người có ảnh hưởng quyết định đối với những người quản lý Sản xuất hàng hóa và dịch vụ cũng là nhằm thỏa mãn người tiêu dùng và phúc lợi của nó cũng được sử dụng để trả thù lao cho người lao động Đối với người tiêu dùng và người lao động, nghĩa vụ kinh tế của một tổ chức là cung cấp hàng hóa và dịch vụ, tạo công ăn việc làm với mức thù lao tương xứng… Đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ kinh tế còn liên quan đến những vấn đề về chất lƣợng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối và bán hàng, cạnh tranh… Đối với người lao động, đó là cơ hội việc làm ngang nhau, cơ hội phát triển nghề nghiệp và chuyên môn, được hưởng mức thù lao tương xứng, được hưởng môi trường lao động an toàn và vệ sinh, đƣợc đảm bảo quyền riêng tƣ, cá nhân ở nơi làm việc [21; tr.90 – 91]

- Nghĩa vụ pháp lý: Khía cạnh pháp lý trong TNXH đòi hỏi tổ chức, công ty tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nhƣ một yêu cầu tối thiểu trong hành vi xã hội của một tổ chức, tập thể hay cá nhân Việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý quy định trong các bộ luật chƣa phải là căn cứ đầy đủ để đánh giá tính cách đạo đức của một con người hay tập thể Nhưng nó cũng là những yêu cầu tối thiểu của mỗi cá nhân, tổ chức cần thực hiện trong mối quan hệ xã hội Về cơ bản, trách nhiệm về pháp lý thể hiện ở các yếu tố như: điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, an toàn và bình đẳng, khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái [21; tr.92]

- Nghĩa vụ đạo đức: Khía cạnh đạo đức trong TNXH liên quan đến những hành vi hay hành động đƣợc các thành viên trong tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi hay không mong đợi nhƣng không đƣợc thể chế hóa thành luật Nghĩa vụ đạo đức trong trách nhiệm xã hội của một tổ chức đƣợc thể hiện thông qua các tiêu chuẩn, chuẩn mực hay kỳ vọng phản ánh mối quan tâm của các đối tƣợng hữu quan chủ yếu như người tiêu dùng, người lao động, các đối tác, chủ sở hữu, cộng đồng

Nói cách khác những chuẩn mực này phản ánh quan niệm của các đối tƣợng hữu quan về đúng sai, công bằng, quyền lợi cần đƣợc bảo vệ của họ… Nghĩa vụ đạo đức của một tổ chức đƣợc thể hiện rõ thông qua những nguyên tắc và giá trị đạo đức đƣợc tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lƣợc của một tổ chức Thông qua những tuyên bố trong những tài liệu này về quan điểm của tổ chức trong việc sử dụng các nguồn lực và con người để đạt được mục tiêu, sứ mệnh, những nguyên tắc và giá trị đạo đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên và những người hữu quan [21; tr.98]

- Nghĩa vụ nhân văn: Nghĩa vụ nhân văn trong trách nhiệm xã hội của tổ chức liên quan đến những đóng góp cho cộng đồng và xã hội Những đóng góp của tổ chức có thể trên bốn phương diện: nâng cao chất lượng cuộc sống, san sẻ bớt gánh nặng cho chính phủ, nâng cao năng lực cho nhân viên và phát triển nhân cách đạo đức cho người lao động… Giúp đỡ những người bất hạnh hay yếu thế cũng là một lĩnh vực nhân đạo được các tổ chức quan tâm Những người bị bệnh luôn mong muốn đƣợc chữa bệnh nhƣng đôi khi họ không có khả năng tiếp cận các nguồn dƣợc liệu cần thiết hay tránh khỏi bệnh tật vì họ nghèo Đây là một khía cạnh trách nhiệm được điều chỉnh bởi lương tâm [21; tr.100]

Nhƣ vậy, có thể thấy rằng TNXH chính là các nghĩa vụ mà mỗi tổ chức, doanh nghiệp trong việc tạo ra các tác động xã hội tích cực, trong khi gây ra ít nhất những hậu quả xã hội bất lợi Các nghĩa vụ kinh tế liên quan tới các đối tƣợng hữu quan chính như người tiêu dùng, người lao động, chủ đầu tư Các nghĩa vụ pháp lý được xã hội yêu cầu nhằm loại trừ những hành vi không mong muốn Các nghĩa vụ đạo đức quan tâm tới vấn đề công bằng và công lý ngoài các vấn đề thuộc nghĩa vụ pháp lý Các nghĩa vụ nhân văn quan tâm tới việc nâng cao chất lƣợng cuộc sống và phát triển cộng đồng.

Trách nhiệm xã hội của trường đại học

1.3.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của trường đại học

Hiện nay, trách nhiệm xã hội của trường đại học vẫn là một khái niệm còn nhiều tranh luận, và chƣa có một khái niệm đồng nhất

Tác giả Phạm Phụ cho rằng TNXH của trường đại học là trách nhiệm của nhà trường đối với sinh viên, cha mẹ sinh viên, người sử dụng lao động, công chúng nói chung và Nhà nước Trách nhiệm này bao gồm: việc đảm bảo chất lượng đào tạo, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thông tin minh bạch và trách nhiệm báo cáo giải trình công khai với công chúng, đem lại sự thỏa mãn cho sinh viên và cộng đồng

Tác giả Phan Huy Hùng cho rằng TNXH của trường đại học là trách nhiệm báo cáo hay giải thích kết quả hoạt động một cách ngay thẳng và trung thực cho các bên liên quan trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục đại học và sử dụng nguồn lực

Nói nhƣ thế, TNXH ở đây đƣợc hiểu là trách nhiệm giải trình với hai vấn đề đặt ra là: trách nhiệm với ai và trách nhiệm về nội dung gì Tuy nhiên không đề cập tới trách nhiệm phải thực hiện bảo đảm cam kết, trách nhiệm kinh tế đối với chính bản thân nhà trường Như vậy sẽ không thể hiện được sự toàn vẹn ý nghĩa của khái niệm này Trong thực tế, trách nhiệm được hướng tới các nhà tài trợ hoặc người quản lý là Nhà nước Có nghĩa là nó hướng tới mục đích phục vụ khách hàng và thân chủ nhiều hơn

Tác giả Lê Thanh Tâm với quan điểm của mình trong “Cơ sở khoa học về quản lý trường đại học thuộc Bộ Công thương theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội” (2014) cho rằng trách nhiệm xã hội của trường đại học là việc trường đại học tự đánh giá và giám sát việc thực hiện các quy định của Nhà nước, sãn sàng giải trình, công khai minh bạch các hoạt động của nhà trường và chịu trách nhiệm về các kết quả hoạt động của mình nhằm đảm bảo lợi ích của chính bản thân nhà trường và các bên liên quan

Thu hẹp hơn trong cách tiếp cận, tác giả Lê Đức Ngọc cho rằng TNXH của trường đại học là bảo đảm thỏa mãn tiêu chí hiệu quả cao qua các nội hàm chính: chất lƣợng cao (khả năng phát triển chiếm lĩnh đỉnh cao của kiến thức và kỹ năng của khoa học kỹ thuật hiện đại); hiệu suất cao (khả năng khai thác triệt để nguồn lực để sản xuất); phù hợp với bối cảnh xã hội (trong điều kiê ̣n và hoàn cảnh xã hội xác đi ̣nh) và công bằng xã hội (bình đẳng về cơ hội học tập và đánh giá kết quả học tập của người học)

Có thể thấy rằng, các tác giả đi trước đã tiếp cận vấn đề trách nhiệm xã hội của trường đại học ở các góc độ khác nhau Vấn đề trách nhiệm xã hội ở đây đều hướng tới một mục tiêu đó là cung cấp dịch vụ giáo dục tốt nhất, nhằm thỏa mãn yêu cầu của xã hội Tuy nhiên, các tác giả đã không phân biệt rõ ràng giữa các khái niệm tự chịu trách nhiệm và TNXH của một trường đại học mà gần như đồng nhất giữa TNXH với trách nhiệm giải trình Có thể hiểu trách nhiệm giải trình là việc một trường đại học phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ báo cáo, giải thích và chứng minh về những việc mình đã làm Còn trách nhiệm xã hội là những việc mà họ phải làm đối với các bên hữu quan trong mối quan hệ lợi ích Việc thực hiện các nghĩa vụ ấy không chỉ xất phát từ việc tuân thủ luật pháp, mà còn xuất phát từ giá trị đạo đức và nhân văn Do vậy, trong đề tài nghiên cứu này, tác giả đƣa ra một quan điểm mới, đó là: Trách nhiệm xã hội của trường đại học chính là việc một trường đại học thực hiện nghĩa vụ của mình đối với các bên hữu quan Các đối tƣợng hữu quan ở đây bào gồm cơ quan quản lý nhà nước câp trên, người học, giảng viên, người sử dụng lao động và cộng đồng địa phương Một trường đại học được xem là thực hiện tốt trách nhiệm xã hội khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình với các đối tƣợng hữu quan Đo lường kết quả ấy dựa trên khả năng phúc lợi và chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp

TNXH dần đƣợc xem nhƣ là một trong những động lực của sự phát triển xã hội Nâng cao trách nhiệm xã hội trong mọi lĩnh vực, ở mọi khía cạnh là một đòi hỏi bức thiết của xã hội hiện đại để có thể phát triển bền vững Cũng nhƣ bất kỳ loại hình tổ chức nào, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội đối với trường đại học sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng và chính bản thân tổ chức, góp phần tạo lên sự phát triển bền vững Một trường đại học nếu thực hiện tốt được TNXH sẽ tạo ra được nguồn nhân lực có chất lƣợng, khẳng định đƣợc vị thế của tổ chức, ổn định nhân lực tổ chức, tiến tới phát triển lâu dài Bảo đảm TNXH của trường đại học còn góp phần giảm thất thoát tài chính của nhà nước, sử dụng hiệu quả nguồn tài chính của tổ chức và mang lại hiệu quả kinh tế nhất định

1.3.2 Mục đích của việc đảm bảo trách nhiệm xã hội của trường đại học

Một trường đại học liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới nhiều thực tể, xã hội nói chung (các thành viên đại diện trong hội đồng trường); chính phủ (chính quyền các cấp, đại diện cho lợi ích toàn xã hội, cấp kinh phí cho trường đại học); khách hàng (người sử dụng lao động, sinh viên và gia đình, những người muốn có kiến thức); cựu sinh viên (những người ủng hộ quan trọng của trường đại học); giảng viên (nhân tố quan trọng); nội dung của ngành học Các thực thể này là đối tƣợng mà bản thân mỗi trường đại học phải thực hiện nghĩa vụ của mình Mục đích của việc bảo đảm trách nhiệm xã hội của trường đại học nhằm:

- Tạo nên sự công bằn trong tiếp cận giáo dục đại học;

- Bảo đảm chất lƣợng đào tạo và nghiên cứu;

- Gắn liền lý thuyết với thực tiễn;

- Đóng góp cho phát triển kinh tế của vùng miền;

- Sự sử dụng hiệu quả nguồn lực công;

- Bảo đảm năng lực tài chính để duy trì các tiêu chuẩn đặt ra

TNXH của trường đại học mà tác giả muốn đề cập đến trong đề tài này, ngoài trách nhiệm giải trình, còn phải có trách nhiệm trong quá trình hoạt động, bảo đảm thực hiện đúng cam kết, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho các bên liên quan TNXH của trường đại học là phải luôn quan tâm đến lợi ích, nhu cầu của các bên liên quan và đáp ứng tốt nhất những lợi ích đó; đào tạo đƣợc đội ngũ nhân lực chất lượng cao, phát triển toàn diện về mọi mặt; bảo đảm an ninh môi trường, trật tự xã hội, góp phần kiến tạo xã hội tiến tới phát triển bền vững

1.3.3 Nội dung trách nhiệm xã hội của trường đại học

Nhƣ đã phân tích ở trên, vấn đề TNXH cũng là vấn đề đạo đức của mỗi tổ chức, doanh nghiệp Tác giả Nguyễn Mạnh Quân nhận định rằng để đảm bảo thực hiện tốt TNXH của trường đại học cần trả lời được 3 câu hỏi: Đối tượng của TNXH ở đây là ai? Nghĩa vụ với họ là gì? Đo lường việc thực hiện nghĩa vụ đó bằng cách nào? Đồng tình với quan điểm này, tác giả xác định các đối tƣợng mà TNXH của trường đại học hướng tới ở đây là người học, giảng viên, cơ quan quản lý nhà nước, người sử dụng lao động và cộng đồng địa phương Đối với từng đối tượng ấy, nhà trường cần có trách nhiệm cụ thể Trường đại học phải có trách nhiệm bảo đảm chất lƣợng đào tạo nhƣ đã cam kết, công khai các hoạt động và sử dụng nguồn tài chính, hợp tác với các bên liên quan trong việc cung cấp một dịch vụ giáo dục chất lƣợng, hiện đại, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thời đại Đánh giá việc thực hiện các TNXH ấy phải dựa trên kết quả đo lường, mục tiêu đo lường ở đây là phúc lợi, là mức độ chất lượng dịch vụ của nhà trường Kết quả thực hiện nghĩa vụ ấy được đo lường bằng sự hài lòng của các bên hữu quan, khả năng phúc lợi của nhà trường Các phương pháp đo lường kết quả bằng việc: đánh giá sự tương xứng của chất lượng đào tạo với những cam kết chuẩn đầu ra của nhà trường đối với sinh viên; vấn đề tuân thủ các quy định của nhà nước trong hoạt động đào tạo, chế độ chính sách với người lao động, người học; vấn đề trung thực trong sử dụng tài chính thông qua các đợt kế toán, kiểm toán và giải trình với cơ quan cấp trên; sự hài lòng của người học đối với các dịch vụ của nhà trường…

Hình 1.2 Các đối tượng hữu quan của trường đại học

1.3.3.1 Trách nhiệm đối với nhà nước và cơ quan quản lý cấp trên

Trách nhiệm đối với Nhà nước và cấp trên là việc thực hiện các nghĩa vụ của đối với Nhà nước và cấp trên, là việc đảm bảo mọi hoạt động của nhà trường theo sứ mạng, chuẩn đầu ra đã công bố và trong khuôn khổ của pháp luật; trách nhiệm sử dụng kinh phí đầu tư của nhà nước một cách hiệu quả và minh bạch; trách nhiệm báo cáo và chịu sự giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước Trong cơ chế tự chủ, các tổ chức hội ngành, nghề, hội khoa học sẽ đóng vai trò các cơ quan giám sát về chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường Các tổ chức kiểm định chất lƣợng sẽ giúp Bộ Giáo dục & Đào tạo kiểm định chất lƣợng và xếp hạng, phân loại các trường đại học bảo đảm chính xác, công khai và minh bạch Kết quả đo lường việc thực hiện trách nhiệm này là các kết quả báo cáo, giải trình trung thực của trường đại học theo định kỳ, đạt chuẩn chất lượng theo kết quả đánh giá kiểm định của tổ chức kiểm định mà nhà nước công nhận

Kết quả minh chứng cho việc thực hiện nghĩa vụ của một trường đại học đối với cơ quan quản lý đó chính là việc báo cáo giải trình đầy đủ theo yêu cầu; việc tuân thủ các quy định pháp luật trong giáo dục, lao động, và sử dụng hiệu quả ngồn tài chính do Nhà nước đầu tư

1.3.3.2 Trách nhiệm đối với người học

Các nghĩa vụ của trường đại học đối với người học đó là việc đảm bảo chất lƣợng nhƣ cam kết; trách nhiệm sử dụng hiệu quả và minh bạch kinh phí, đóng góp của người học và của xã hội; cung cấp dịch vụ giáo dục tốt nhất tương xứng với học phí mà người học phải chi trả Trong một thị trường dịch vụ giáo dục có định hướng đúng đắn và cạnh tranh lành mạnh, mỗi trường phải chủ động xây dựng chiến lược và mục tiêu phù hợp, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và cơ sở vật chất đủ về lượng và chất để cạnh tranh thu hút sự đầu tư từ Nhà nước cũng như từ các nguồn khác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu của người học và nguồn nhân lực của xã hội Thông qua cơ chế công khai, người học có điều kiện giám sát việc thực hiện các cam kết của các trường về mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo và các nguồn lực đảm bảo chất lượng đào tạo Kết quả đo lường việc thực hiện trách nhiệm này đó là chất lượng dịch vụ giáo dục mà người học được hưởng; các chế độ chính sách và quyền lợi chính đáng của người học; môi trường học tập năng động, sáng tạo, an toàn và lạnh mạnh, bảo đảm cho người học đƣợc phát triển toàn diện văn – thể – mĩ

Một trong những trách nhiệm chung đối với tất cả các bên liên quan của trường đại học đó là công khai, minh bạch các hoạt động và sử dụng nguồn lực của nhà trường Nội dung công khai hiện nay đƣợc quy định trong “3 công khai” trên website của mỗi trường đại học Nội dung công khai của các cơ sở giáo dục đại học:

- Công khai cam kết chất lượng giáo dục: Công khai đối tƣợng tuyển sinh, chương trình đào tạo, chất lượng sản phẩm đào tạo: kiến thức, kỹ năng, trình độ ngoại ngữ của người tốt nghiệp và khả năng đáp ứng, thích ứng được với vị trí việc làm sau tốt nghiệp

Điều kiện bảo đảm thực hiện trách nhiệm xã hội của trường đại học

Để các trường đại học thực hiện TNXH đạt hiệu quả cao và bảo đảm lâu dài, cần có các điều kiện sau:

- Thực hiện trách nhiệm cần xuất phát từ sự tự nguyện của mỗi trường đại học: Thực tế cho thấy, chúng ta chỉ có thể thực hiện tốt một công việc nào đó nếu xuất phát từ nhu cầu và sự tự nguyện hơn là thực hiện bởi quy định ràng buộc Do vậy, để thực hiện tốt TNXH bản thân mỗi trường đại học cần phải xác định được đó là yếu tố sống còn của mình và xuất phát từ sự tự nguyện Có nhƣ vậy, mới đạt đƣợc hiệu quả tốt và bảo đảm thực hiện lâu dài

- Được sự ủng hộ, phối hợp của các bên hữu quan:

+ Cần có cơ sở pháp lý đủ mạnh để ràng buộc các trường đại học phải thực hiện trách nhiệm của mình Việc nhà nước ban hành một khung trách nhiệm mang tính pháp lý sẽ thúc đẩy bản thân mỗi trường đại học thực hiện TNXH tốt hơn nếu không muốn bị lên án và tự đào thải trong điều kiện cạnh tranh thị trường Bên cạnh đó cũng cần có quy định rõ trách nhiệm của cá nhân, tập thể và chế tài xử lý vi phạm đủ mạnh trong hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục đại học cũng như trong hoạt động của trường đại học

+ Giảng viên và sinh viên có trách nhiệm cao trong hoạt động đào tạo: Yếu tố quan trọng nhất để đánh giá một trường đại học đó chính là chất lượng đào tạo

Không thể nói rằng một trường đại học là uy tín nếu như sản phẩm đầu ra không đáp ứng được yêu cầu của xã hội Mặt khác, cho dù nhà trường cung cấp một dịch vụ giáo dục đầy đủ và hiện đại mà sinh viên không có tinh thần tự giác trong học tập thì cũng không mang lại kết quả cao Do đó, để đảm bảo thực hiện TNXH của trường đại học, trước tiên giảng viên và sinh viên phải xác định được vai trò của mình, quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của nhà trường

+ Cần có sự hợp tác tích cực của các doanh nghiệp, phía người sử dụng lao động để cung cấp nhu cầu thự tế của xã hội về nguồn nhân lực Đó là cơ sở để trường đại học nghiên cứu, điều chỉnh hoạt động đào tạo cho phù hợp

+ Cần có sự ủng hộ, phối hợp của cộng đồng địa phương trong việc giám sát hoạt động và đánh giá chất lƣợng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học Để làm đƣợc điều này, cũng cần có những quy chế phối hợp, nêu ra vai rò và quyền đƣợc giám sát của các lực lượng trong xã hội, tạo cơ sở buộc các trường đại học chấp nhận công khai và chịu sự giám sát đó

Vấn đề TNXH và vai trò của TNXH đã đƣợc đề cập từ những năm 70 của thế kỷ XX, cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau về TNXH nhƣng theo cách tiếp cận của ISO 26000:2010 là khái niệm tổng quan và chung nhất cho mọi loại hình tổ chức Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm TNXH theo tiếp cận của

ISO26000:2010 Một tổ chức có TNXH là luôn mong muốn đem lại những giá trị lợi ích tốt đẹp cho xã hội và các bên liên quan, đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội TNXH của mỗi tổ chức khác nhau là khác nhau, tùy theo đặc thù ngành nghề và bản thân tổ chức Các tổ chức khi thực hiện tốt TNXH của mình sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng và cho chính mình Giáo dục đại học có vai trò to lớn trong kiến tạo xã hội, tri nhân loại có đƣợc phong phú hay hạn chế là nhờ vào khả năng đóng góp của giáo dục đại học TNXH của trường đại học là quan tâm đến quyền và lợi ích của các bên hữu quan, đáp ứng những yêu cầu và lợi ích đó Thực hiện tốt TNXH sẽ giúp cho các trường đại học hoạt động hiệu quả, chất lượng giáo dục đại học đƣợc nâng cao, duy trì những giá trị cốt lõi của đại học Những nội dung trên là cơ sở lý luận để tác giả đánh giá thực trạng và vận dụng lý luận liên hệ vào thực tiễn, kiến nghị giải pháp để thực hiện tốt hơn vấn đề TNXH của trường đại học mà tác giả nghiên cứu thực tế.

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

Khái quát về Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Nhà trường

Trường ĐH CNTT&TT là đơn vị trực thuộc Đại học Thái Nguyên có tiền thân là Khoa Công nghệ thông tin (2001) đƣợc thành lập ngày 30/3/2011 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Ngay từ khi thành lập Nhà trường đã tuyên bố sứ mạng

“Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học; NCKH&CGCN thuộc lĩnh vực CNTT&TT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Trên cơ sở chương trình khung của Bộ GD&ĐT, trường đã xây dựng khung chương trình đào tạo phù hợp với thực tế, bao gồm các loại hình chính quy, vừa học vừa làm và liên thông Từ năm học 2008 – 2009, trường đã chuyển đào tạo từ niên chế sang tín chỉ

Hiện nay, trường có 17 ngành đào tạo đại học, 2 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 01chuyên ngành đào tạo tiến sĩ

Về cơ cấu tổ chức Trường hiện có: Ban giám hiệu; 10 Phòng chức năng; 06 Khoa chuyên môn; 02 Bộ môn trực thuộc trường; 08 Trung tâm/ Học viện, ngoài ra còn có các tổ chức Đảng uỷ, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên, Hội cựu chiến binh

Với truyền thống 15 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường đã khẳng định đƣợc vị thế trong ĐHTN cũng nhƣ khu vực trung du miền núi phía Bắc Với nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất (phòng học, giảng đường, phòng thực hành thí nghiệm ) và năng lực đội ngũ hiện có của Nhà trường đảm bảo yêu cầu để thực hiện sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực CNTT&TT Định hướng phát triển là trở thành trường đại học điện tử trong tương lai, Nhà trường đã chú trọng ký kết phối hợp về đào tạo, NCKH với các viện nhƣ: Viện công nghệ thông tin thuộc Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa thuộc Bộ Công thương; Viện công nghệ thông tin thuộc Đại học Quốc gia Hà

Nội Từ đó, nhà trường đã huy động được tối đa lực lượng nhà khoa học có trình độ cao của các Viện tham gia giảng dạy và nghiên cứu tại Trường

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trường ĐH CNTT&TT

2.1.2 Sứ mạng và chiến lược của Nhà trường

Sứ mạng của Trường ĐH CNTT&TT đó là “Là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực Công nghệ thông tin và Truyền thông phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Chiến lược của Trường ĐH CNTT&TT đó là “Phát huy sức mạnh tổng hợp với tinh thần NĂNG ĐỘNG, SÁNG TẠO, HIỆU QUẢ, tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng và các doanh nghiệp trong và ngoài nước; gắn đào tạo với thực tiễn, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, góp phần phát triển kinh tế – xã hội khu vực Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam” Mục tiêu phát triển của nhà trường đã được xác định trong Văn kiện Đại hội Đảng bộ trường lần thứ IV, nhiệm kỳ 2015 – 2020: “xây dựng Trường ĐH CNTT&TT theo mô hình trường đại học điện tử, trung tâm đào tạo, nghiên cứu chất lƣợng cao trong lĩnh vực CNTT&TT, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Có thể khẳng định sứ mạng của nhà trường đã công bố đã phù hợp và gắn kết với chiến lược phát triển của ĐHTN, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên và của cả nước Cụ thể, Hội đồng nhân dân Tỉnh Thái Nguyên đã đề ra nhiệm vụ và các giải pháp phát triển ngành, lĩnh vực xã hội tại Nghị quyết số 21/2013/NQ-HĐND ngày 12/12/2013 nhƣ sau: “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực KHCN, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ mục tiêu phát triển”; Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 và Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT&TT” đã định hướng về nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực CNTT&TT đến năm 2020;

Văn kiện Đại hội XI của Đảng nêu rõ quan điểm phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 là “chú trọng phát triển CNTT, Công nghệ sinh học ”

Sứ mạng và mục tiêu của Nhà trường được xây dựng trên cơ sở chủ trương của Bộ GD&ĐT, ĐHTN, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên; nhu cầu xã hội và nguồn lực của Nhà trường Cho đến nay, có thể thấy sứ mạng và chiến lược hoạt động của Nhà trường là phù hợp với nhiệm vụ và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của cả nước

2.1.3 Những cam kết trong hoạt động của Nhà trường

Bắt đầu từ 2011, Nhà trường đã thực hiện các hoạt động 3 công khai, các hoạt động đánh giá và tự đánh giá kiểm định chất lƣợng cơ sở đào tạo, công khai cam kết chất lượng giáo dục của Nhà trường ở các trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học

Các nội dung trong cam kết chất lượng giáo dục của Nhà trường như:

- Điều kiện cơ sở vật chất;

- Các hoạt động hỗ trợ học tập cho người học;

- Chuẩn đầu ra theo các ngành đào tạo và trình độ đào tạo;

- Vị trí việc làm sau tốt nghiệp ở các trình độ

Qua các nội dung cam kết này tạo cơ sở để các doanh nghiệp quyết định lựa chọn đầu tư, hợp tác; những người có nhu cầu học tập và nghiên cứu cũng như xã hội đánh giá lựa chọn Tổng kết năm học 2015 – 2016, đồng chí Nguyễn Văn Tảo –

Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Nhà trường đã trình bày các nhiệm vụ trọng tâm trong năm học 2016 – 2017 và các năm tiếp theo Các nội dung tập trung vào việc: tăng cường nhận thức về yêu cầu tự chủ của đơn vị; hình thành văn hóa chất lượng, chuẩn hóa mọi hoạt động của nhà trường; nâng cao năng lực đội ngũ theo hướng đáp ứng chuẩn; điều chỉnh chương trình đào tạo để đạt được chuẩn đầu ra; lấy nhiệm vụ NCKH và chuyển giao công nghệ làm trọng tâm; quan tâm hơn nữa đến việc chăm sóc người học và nâng cấp cơ sở hạ tầng để đảm bảo đáp ứng tốt cho công tác đào tạo, quản lý của nhà trường Đây cũng là những định hướng hoạt động để Nhà trường tiếp tục hoàn thiện, bảo đảm chất lượng giáo dục theo sứ mạng và cam kết của Nhà trường trong tương lai để xứng đáng là một trường đại học đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lƣợng quốc gia.

Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông

Nhằm bảo đảm thực hiện TNXH, tháng 10/2016 Trường ĐH CNTT&TT đã thành lập Hội đồng trường theo quy định của nhà nước và quyết định của Đại học Thái Nguyên Hội đồng trường gồm 15 thành viên, bao gồm lãnh đạo nhà trường, nhà khoa học, giảng viên, cán bộ quản lý do đồng chí Trương Hà Hải – Trưởng Khoa Khoa học cơ bản làm Chủ tịch Nhiệm vụ của Hội đồng trường là quyết nghị những vấn đề lớn của Nhà trường, giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ, báo định kỳ với cơ quan quản lý nhà nước và cấp trên Đây là một dấu hiệu đổi mới tích cực trong cơ chế quản lý của Nhà trường

2.2.1 Thực trạng thực hiện TNXH của Nhà trường đối với cơ quan quản lý nhà nước

Trong những năm qua, Trường ĐH CNTT&TT đã thực hiện nghiêm chỉnh các nhiệm vụ báo cáo, kiểm tra, kiểm toán định kỳ theo quy định của ĐHTN và của cơ quan quản lý nhà nước

Kết quả khảo sát các Ban quản lý tại Đại học Thái Nguyên – cơ quan chủ quản của Trường ĐH CNTT&TT về việc thực hiện chế độ báo cáo, giải trình của Nhà trường cho thấy Trường ĐH CNTT&TT thực hiện nghiêm túc và đẩy chế độ báo cáo, giải trình về các hoạt động của mình

Thực hiện chế độ báo cáo, giải trình

Hoạt động hợp tác quốc tế

Thực hiện không đầy đủ

Thực hiện đúng quy định của cấp trên x x x x x x x x

Bảng 2.1 Mức độ thực hiện báo cáo, giải trình của Nhà trường với cơ quan quản lý cấp trên

Bên cạnh các hoạt động báo cáo, giải trình theo quy định, Nhà trường còn thực hiện đầy đủ quy chế “3 công khai”, qua đó cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng khác có thể nắm được thông tin đầy đủ hơn về hoạt động của Nhà trường

Qua hoạt động „„3 công khai‟‟ của Nhà trường, có thể giám sát các thông tin nhƣ: các hoạt động thu – chi tài chính; các hoạt động KHCN, chế độ liên quan tới người lao động; các hoạt động đào tạo và bảo đảm chắt lượng đào tạo

Bảng 2.2 Nội dung công khai tài chính của Nhà trường từ 2007 – 2016

Nhà trường đã thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo định kỳ cơ quan chủ quản, cơ quan quản lý cấp trên về các hoạt động: tài chính, thi đua khen thưởng, CSVC, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, ba công khai Nhà trường thực hiện công tác báo cáo nhƣ sau: Sau khi có văn bản yêu cầu của cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý về nộp báo cáo, Ban giám hiệu chỉ đạo đơn vị chức năng phối hợp với các đơn vị có liên quan trong trường thực hiện công tác lập báo cáo; đơn vị chủ trì lập báo cáo, thực hiện công tác tổng hợp các thông tin, dữ liệu và hoàn thiện báo cáo, trình Ban giám hiệu duyệt; nộp báo cáo lên cấp trên, đảm bảo đúng quy định Các báo cáo định kỳ đều đảm bảo đầy đủ, kịp thời, không có báo cáo nộp quá hạn

2.2.2 Thực trạng thực hiện TNXH của Nhà trường đối với người học Đối với người học, Nhà trường luôn cố gắng một cách cao nhất trong việc bảo đảm các chế độ, quyền lợi, xây dựng môi trường học tập lành mạnh giúp người học có cơ hội sử dụng dịch vụ tốt hơn

- Người học được đào tạo đầy đủ các môn học theo chương trình đào tạo đã công bố: Chương trình đào tạo được đổi mới theo định hướng thực hành, gắn liền với thực tiễn nhu cầu của xã hội Xây dựng chương trình đào tạo và bổ sung, điều chỉnh dựa trên cơ sở tham khảo các chương trình tiên tiến quốc tế, các ý kiến phản hồi từ các nhà tuyển dụng lao động, người tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát triển kinh tế – xã hội của địa phương hoặc cả nước

- Người học được hưởng đầy đủ các chế độ chính sách – xã hội theo quy định của nhà nước: Trường đã đảm bảo đúng, đầy đủ các chế độ chính sách cho người học theo các quy định của nhà nước có kế hoạch cụ thể, có phân công nhân sự triển khai thực hiện chế độ chính sách Các văn bản hướng dẫn các thủ tục về chế độ chính sách liên quan đến người học, được cập nhật thường xuyên và phổ biến kịp thời đến sinh viên các lớp thông qua: “Tuần sinh hoạt công dân – HSSV”, các buổi đối thoại trực tiếp đƣợc tổ chức hàng năm, giáo viên chủ nhiệm phổ biến các nội dung định hướng trong tiết sinh hoạt lớp, sổ tay sinh viên, website của Nhà trường

Nhà trường luôn đặc biệt dành sự quan tâm thích đáng đối với sinh viên là con em các dân tộc ít người, con em sống ở vùng sâu, vùng xa và những sinh viên có nhiều thiệt thòi trong cuộc sống Danh sách người học được hưởng miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, học bổng khuyến khích học tập, học bổng chính sách và trợ cấp xã hội theo học kỳ được công khai trên website của trường Hàng năm, sinh viên có học lực giỏi được khen thưởng, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được nhận học bổng tài trợ Trường có báo cáo đánh giá, tổng kết các hoạt động chính sách xã hội cho người học và các giải pháp cải tiến hoạt động này

- Người học được sử dụng hệ thống cơ sở vật chất hiện đại: Trong những năm qua Trường đã không ngừng đầu tư tài chính cho việc mua sắm trang thiết bị, xây dựng hạ tầng phục vụ giảng dạy và nghiên cứu Hiện tại Nhà trường có 54 phòng học (33 phòng giảng đường và 21 phòng thực hành thí nghiệm) Thư viện hiê ̣n ta ̣i trên 1000 m 2 , có phòng đo ̣c đáp ứng được 500 chỗ Tổng số đầu sách: 1.455 đầu với 20.893 bản; tài liệu số: 4.862; tệp tài nguyên ngoại sinh khoảng 6.000; với 29 bộ sưu tập; số lượng truy cập kho dữ liệu điện tử: 279.000 lượt/năm 1 Hiện tại, Trường đang khởi công xây dựng tòa nhà 7 tầng phục vụ khảo thí và hệ thống thƣ viện hiện đại, dự kiến hoàn thành và đƣa vào sử dụng từ năm học 2017 – 2018

1 Báo cáo tự đánh giá để đăng ký kiểm định chất lượng giáo dục Trường đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông năm 2016

Bên cạnh đó, Trường còn đầu tư CSVC phục vụ học tập cho từng ngành học nhƣ: Phòng tiển lãm sản phẩm nghiên cứu, Phòng thực hành công nghệ ô tô, Phòng vẽ tranh cho ngành thiết kế đồ họa, Phòng thực tại ảo, nhà kính, Để phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu, năm 2015 Nhà trường đã đầu tư Phòng thực tại ảo với tổng giá trị 8 tỷ đồng Cũng trong năm 2015, Trường đã hợp tác với Công ty Samsung mở phòng Lap đào tạo lập trình ứng dụng đi động Trường hợp tác với tổ chức VLIR – UOS của Trường Flemish của Bỉ tham gia dự án VLIR “Ứng dụng mạng cảm biến không dây trong nông nghiệp” với kinh phí đầu tƣ 71000 EUR

Hiện nay khu nhà kính của dự án là nơi phục vụ học tập và nghiên cứu của Trường, đồng thời cung ứng một lượng nhất định nguồn rau sạch ra thị trường và mang lại nguồn thu cho Nhà trường

- Người học được đảm bảo môi trường tu dưỡng, rèn luyện: Bảo đảm môi trường tu dưỡng, rèn luyện co sinh viên, Nhà trường luôn tạo điều kiện cho sinh viên có môi trường tốt để tu dưỡng phấn đấu về phẩm chất chính trị, tư tưởng; rèn luyện sức khoẻ cho sinh viên bằng các hoạt động văn thể Trường luôn quan tâm, chú trọng và thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống

Người học được phổ biến, tiếp cận đầy đủ các thông tin về chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Người học được tham gia vào những hoạt động Đoàn, Hội và có môi trường tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu vào Đảng Đáp ứng nhu cầu văn thể của CBGV và sinh viên, nhà trường xây dựng sân cỏ nhân tạo, sân cầu lông, bóng rổ, các hội trường phục vụ hoạt động tập luyện văn hóa văn nghệ Thành lập nhiều câu lạc bộ học thuật, câu lạc bộ sở thích nhƣ: câu lạc bộ MOS, Tiếng Anh, Thuyết trình, Tình nguyện và tuyên truyền; cậu lạc bộ võ thuật Vovinam, Taekwondo, Karatedo Các hoạt động phong trào, văn nghệ, thể dục thể thao của sinh viên trường đạt được nhiều thành tích tốt

Đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông

2.3.1 Kết quả Nhà trường đã đạt được

Qua quá trình đánh giá thực tế cho thấy về cơ bản Trường ĐH CNTT&TT đã thực hiện tốt TNXH của mình trên các khía cạnh của nội dung TNXH

- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và cấp trên, Nhà trường đã thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo định kỳ các hoạt động của mình Thực hiện nghiêm túc các hoạt động kế toán, kiểm toán, thanh tra kiểm tra Phát triển Nhà trường theo sứ mạng và chiến lƣợc đã đề ra Thực hiện nghiêm túc các quy định về tuyển sinh, đào tạo và tuyển dụng nhân sự Đáp ứng các nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học theo nhiệm vụ mà ĐHTN và Tỉnh Thái Nguyên giao phó

- Đối với người học, Nhà trường đảm bảo thực hiện các quyền và lợi ích chính đáng; đảm bảo các chế độ chính sách theo quy định hiện hành của nhà nước Người học đƣợc thực hiện quy chế dân chủ, đƣợc tham gia đánh giá chất lƣợng đào tạo của Nhà trường; hàng năm được tiếp túc lấy ý kiến, giải đáp thắc mắc qua các buổi tọa đàm, sinh hoạt công dân đầu năm và nhiều kênh thông tin khác nhau Người học được tạo môi trường học tập an toàn, lành mạnh, được hưởng các dịch vụ y tế, sinh hoạt đầy đủ, hướng tới phát triển toàn diện văn – thể – mỹ

- Đối với với đội ngũ CBGV, Nhà trường thực hiên quy chế dân chủ, quy định tác phong, lề lối làm việc tạo điều kiện cho CBGV tham gia đóng góp ý kiến, giải đáp thắc mắc, tạo môi trường làm việc dân chủ và lành mạnh Nhà trường tạo điều kiện tích cực cho CBGV có điều kiện tham gia NCKH, học tập nâng cao trình độ chuyên môn trong và ngoài nước bằng các hình thức cử đi đào tạo, hợp tác quốc tế, giới thiệu học bổng Đối với những người đang trong quá trình học tập được giảm định mức, đƣợc tạo điều kiện nghỉ phép và hỗ trợ kinh phí đào tạo

- Đối với người sử dụng lao động, cam kết chất lượng giáo dục theo chuẩn đầu ra chính là trách nhiệm lớn nhất của Nhà trường đối với các nhà tuyển dụng Nhà trường cũng thường xuyên kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp tham gia hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu, tất cả hướng tới cung cấp một nguồn nhân lực chất lƣợng cao, đáp ứng đƣợc nhu cầu của các nhà tuyển dụng

- Đối với cộng đồng địa phương, trong những năm qua Nhà trường đã thực hiện tốt TNXH với cộng đồng địa phương bằng nhiều hoạt động thiết thực như hỗ trợ ứng dụng CNTT tại nhiều đơn vị, trường học; tổ chức đào tạo nâng cao năng lực sử dụng CNTT cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; tham gia các dự án phát triển kinh tế – xã hội theo nhiệm vụ của ĐHTN và Tỉnh Thái Nguyên giao phó Đồng thời, Nhà trường luôn phối hợp với địa phương trong việc đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự, an toàn giao thông và phòng chống tệ nạn xã hội

2.3.2 Những vấn đề còn hạn chế

Kết quả khảo sát với cá đối tƣợng hữu quan cho thấy, hầu hết các đối tƣợng cơ quan quản lý, nhà tuyển dụng, cộng đồng địa phương cho rằng Trường ĐH CNTT&TT đã thực hiện đầy đầy đủ trách nhiệm xã hội của mình Tuy nhiên, việc thự hiện trách nhiệm xã hội của Nhà trường đối với sinh viên và giảng viên vẫn còn nhiều hạn chế Đa số giảng viên, nhân viên đƣợc hỏi hài lòng về các khía cạnh nhƣ môi trường làm việc, quy định pháp luật về chế độ lương - thưởng và các chính sách khuyến khích học tập và nghiên cứu Tuy nhiên 64% lại cho rằng không hài lòng về các chế độ phúc lợi của Nhà trường, các vấn đề thanh toán thù lao giảng dạy và thu nhập tăng thêm và các khoản thanh toán khác Về phía sinh viên, có 61% người được khảo sát cho rằng việc thiết kế chương trình đào tạo và sắp xếp lịch học là chưa hợp lý, gây mệt mỏi cho người học Qua điều tra thực tế, tác giả nhận thấy một số vấn đề còn hạn chế sau:

 Chính sách nhân sự không hợp lý Việc tuyển dụng quá nhiều hàng năm khiến cho Nhà trường hiện nay dư thừa nguồn nhân lực Năm 2016, Nhà trường có số lượng giảng viên cơ hữu 498 CBGV, trong đó có 337 giảng viên và 161 cán bộ phục vụ 2 Nhƣ vậy cơ cấu nhân sự của nhà trường là chưa hợp lý, số cán bộ phục vụ là quá nhiều so với bình quân giảng viên (theo đề án phát triển của trường tới năm 2015 sẽ có 525 CBGV, 105 cán bộ phục vụ) Số lƣợng cán bộ, nhân viên viên phòng ban vƣợt quá 35% so với với kế hoạch Sự không phù hợp trên đã dẫn đến tình trạng thừa vẫn thừa mà thiếu vẫn thiếu trong sử dụng lao động, gây lãng phí nguồn tài chính vốn đang hạn hẹp Do đó tinh giản biên chế đối với đội ngũ nhân sự khối phòng ban sẽ là nhiệm vụ cần thiết đối với Nhà trường trong thời gian tới Đồng thời cần thiết phải phân bổ lại nguồn

2 Báo cáo tổng kết năm học 2015 – 2016 và nhiệm vụ trọng tâm năm học 2016 – 2017 của Hiệu trưởng tài chính sao cho phù hợp, ƣu tiên cho phát triển nguồn nhân lực Bởi có câu “có thực mới vực được đạo”, muốn thu hút người tài, giữ chân người tài, khuyến khích tinh thần tự phát triển bản thân của CBVC, thì trước tiên Nhà trường phải đảm bảo đƣợc cuộc sống cơ bản cho họ, đảm bảo giải quyết kịp thời và đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ; tạo môi trường làm việc lanh mạnh Sau rồi mới có thể thúc đẩy họ phát triển, hăng say nghiên cứu và gắn bó với tổ chức nhiều hơn

 Sử dụng nguồn tài chính không hiệu quả Chính sách tài chính của Nhà trường hiện nay còn đầu tư dàn trải Nhà trường đã đầu tƣ tài chính quá nhiều vào cơ sở vật chất trong suốt 6 năm qua cùng với việc bất hợp lý trong chính sách nhân sự khiến Nhà trường không thực hiện tốt được các chế độ phúc lợi Từ 2011 đến nay, mỗi năm Trường đều giành >15% tổng chi ngân sách cho việc đầu tƣ cơ sở vật chất 3 Bên cạnh đó, việc dƣ thừa 38% đội ngũ nhân sự khối phòng, ban cũng gây lãng phí khoảng 10% tổng chi ngân sách mỗi năm Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với Nhà trường lúc này đó là cần phải thay đổi chính sách tài chính kết hợp với chính sách nhân sự sao cho hiệu quả Tập trung thanh toán dứt điểm các khoản nợ không để tình trạng gối năm kéo dài Việc đầu tƣ cho xây dựng hạ tầng cần phải có kế hoạch theo giai đoạn, không đầu tƣ dàn trải qua các năm

Bên cạnh đó cần có các kế hoạch tìm kiếm tăng nguồn thu ngoài ngân sách để nâng cao năng lực tài chính của Nhà trường

 Chương trình đào tạo chưa được xây dựng hiệu quả Trong những năm qua, Nhà trường luôn chú trọng tới vấn đề người học, lấy người học làm trung tâm Các chính sách đối với người học luôn được thực hiện đầy đủ Hàng năm đầu tƣ nâng cấp các dịch vụ phụ vụ nhu cầu học tập và sinh hoạt cho người học Chương trình đào tạo của Nhà trường đã được đổi mới thường xuyên theo định hướng ứng dụng cao, tăng thời lượng thực hành và gắn lý luận với thực tiễn Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, Nhà trường vẫn còn một số hạn chế trong việc thực hiện TNXH đối với người học, đó là: thiết kế chường trình đào

3 Tổng hợp phân bổ kinh phí chi thường xuyên 2011 – 2015 của Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông tạo với thời lƣợng giảng dạy cho mỗi đơn vị học phần quá nhiều, sắp xếp thời lịch học dày đặc khiến cho giảng viên và sinh viên mệt mỏi dẫn tới hiệu quả học tập không cao Một tín chỉ hiện nay có thời lƣợng 19 tiết (20 tiết đối với môn học có thực hành) trên giảng đường và 30 giờ tự học Kết quả khảo sát cho thấy 61% số sinh viên được hỏi đều cho rằng việc sắp xếp thời gian học tập của Nhà trường là dày đặc, thời lƣợng kéo dài khiến cho sinh viên cảm thấy mệt mỏi Do vậy, để đạt hiệu quả cao hơn, Nhà trường cần xem xét xây dựng lại chương trình đào tạo sao cho giảm thời lượng học trên giảng đường để sinh viên có nhiều thời gian hơn cho hoạt động tự học và các hoạt động khác

Nhƣ vậy, qua quá trình đánh giá thực tế cho thấy, dù vẫn còn nhiều hạn chế xong về cơ bản Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông đã thực hiện tốt TNXH của mình trên các khía cạnh của nội dung TNXH Trong hoạt động đào tạo, Nhà trường đã chú trọng đến vấn đề chất lượng, đào tạo được đội ngũ nhân lực chất lƣợng, đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tiễn công việc của các đơn vị và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hoạt động KHCN của Nhà trường đƣợc thực hiện nghiêm túc và hiệu quả Trong hoạt động nhân sự, bảo đảm chính sách đối với cán bộ, giảng viên của Nhà trường Nhà trường đã luôn nỗ lực, cố gắng trong mọi hoạt động để góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội; tham gia đóng góp công trình nghiên cứu đề xuất giải pháp cho đề án phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, vùng Tây Bắc.v.v…; tổ chức tập huấn, đào tạo tin học và ứng dụng phần mềm tin học cho giáo viên các trường phổ thông, tiểu học ở địa phương… Những vấn đề còn tồn tại cần phải được khắc phục nhanh chóng Vấn đề khó khăn nhất đối với Nhà trường vẫn là vấn đề tài chính, hi vọng rằng những năm tới khi mà đầu tƣ cho cơ sở vật chất đã đƣợc hoàn tất sẽ giải quyết tốt đƣợc tốt hơn

Bởi chỉ khi bảo đảm đƣợc năng lực tài chính mới có thể thực hiện tốt TNXH, xây dựng Trường ĐH CNTT&TT phát triển hơn nữa trong tương lai, xứng đáng là trung tâm đào tạo nhân lực CNTT đứng đầu khu vực trung du miền núi phía bắc, góp phần vào công cuộc hiện đại hóa đất nước, tin học hóa mọi mặt của đời sống xã hội ở nước ta.

XU HƯỚNG CỦA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT BẢO ĐẢM THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Ngày đăng: 09/12/2022, 12:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD&ĐT, Quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, ban hành kèm theo Thông tƣ 09/2009/TT-BGDĐT ngày 7/5/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GDĐT)
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
2. Chính phủ, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020, Văn bản kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
3. Chính phủ, Điều lệ trường đại học, Ban hành kèm theo Quyết định 70/2014/QĐ-TTg ngày 10/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường đại học
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2014
4. Chính phủ, Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020, ban hành ngày 02/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2005
5. Nguyễn Lân Dũng, Ba đặc điểm cốt lõi của trường đại học, https://www.vnu.edu.vn/ttsk/?C1654/N7546/Ba-dac-diem-cot-loi-cua-dai-hoc.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba đặc điểm cốt lõi của trường đại học
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng
6. Trần Khánh Đức (2010), Giáo trình Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới, ĐH QGHN, tài liệu dùng cho các khóa bồi dƣỡng giảng viên cao đẳng/đại học về nghiệp vụ Sư phạm đại học theo chương trình của Bộ GD&ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: ĐH QGHN
Năm: 2010
7. Nguyễn Thị Gấm (2011), Trách nhiệm xã hội của tổ chức khoa học và công nghệ - Nghiên cứu trường hợp Đại học kỹ thuật Lê Quý Đôn, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý khoa học công nghệ, Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm xã hội của tổ chức khoa học và công nghệ - Nghiên cứu trường hợp Đại học kỹ thuật Lê Quý Đôn
Tác giả: Nguyễn Thị Gấm
Nhà XB: Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQGHN
Năm: 2011
9. Phan Huy Hùng (2009), Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam
Tác giả: Phan Huy Hùng
Năm: 2009
11. Phạm Quang Huân, Văn hóa tổ chức – Hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường, http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-hoc-ung-dung/van-hoa-giao-duc-khoa-hoc/2113-pham-quang-huan-van-hoa-to-chuc-hinh-thai-cot-loi-cua-van-hoa-nha-truong.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tổ chức – Hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường
Tác giả: Phạm Quang Huân
12. Nguyễn Thu Hương (2011), Tự chủ học phí gắn với đào tạo chất lượng cao và trách nhiệm xã hội của các trường đại học công lập, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và kinh doan, (Số 27), tr.172 – 178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự chủ học phí gắn với đào tạo chất lượng cao và trách nhiệm xã hội của các trường đại học công lập
Tác giả: Nguyễn Thu Hương
Nhà XB: Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh
Năm: 2011
14. Phạm Thị Ly (đăng ngày 7/11/2014), Văn hóa tổ chức của nhà trường, http://cheer.edu.vn/vn/?p=4982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tổ chức của nhà trường
Tác giả: Phạm Thị Ly
Năm: 2014
15. Phạm Thị Ly, Về quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, http://www.ntu.edu.vn/khoasdh/vivn/trangtin.aspx?macd=843&matin=6701&lang=0 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp
Tác giả: Phạm Thị Ly
16. Phạm Thị Ly (đăng ngày 3/2/2105), Sinh viên và Hội đồng trường, https://hocthenao.vn/2015/02/03/sinh-vien-va-hoi-dong-truong-pham-thi-ly/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh viên và Hội đồng trường
Tác giả: Phạm Thị Ly
Nhà XB: hocthenao.vn
Năm: 2015
17. Phạm Thị Ly (đăng ngày 10/8/2016), Văn hóa tổ chức trong việc tạo ra thay đổi cho nhà trường, http://www.lypham.net/?p=972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tổ chức trong việc tạo ra thay đổi cho nhà trường
Tác giả: Phạm Thị Ly
Năm: 2016
18. Ngô Thị Tuyết Mai (2011), Làm thế nào để thực thi có hiệu quả quyền tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội của các trường đại học Việt Nam, Tạp chí Quản lý kinh tế, (Số 42), tr.53 – 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào để thực thi có hiệu quả quyền tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội của các trường đại học Việt Nam
Tác giả: Ngô Thị Tuyết Mai
Nhà XB: Tạp chí Quản lý kinh tế
Năm: 2011
19. Đình Nam (đăng ngày 23/3/2016), Tự chủ đại học: Phải trao quyền cho Hội đồng trường, http://vuducdam.chinhphu.vn/Home/Tu-chu-DH-Phai-giao-quyen-cho-Hoi-dong-truong/20163/23354.vgp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự chủ đại học: Phải trao quyền cho Hội đồng trường
Tác giả: Đình Nam
Nhà XB: Chinhphu.vn
Năm: 2016
20. Lê Đức Ngọc (2009), Bàn về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng Việt Nam" do Ban liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt Nam (VUN) tổ chức vào tháng 10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học 'Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng Việt Nam'
Tác giả: Lê Đức Ngọc
Nhà XB: Ban liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt Nam (VUN)
Năm: 2009
21. Nguyễn Mạnh Quân (2012), Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty
Tác giả: Nguyễn Mạnh Quân
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2012
22. Lê Thanh Tâm (2014), Cơ sở khoa học về quản lý trường đại học thuộc Bộ Công thương theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, Viện khoa học giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học về quản lý trường đại học thuộc Bộ Công thương theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội
Tác giả: Lê Thanh Tâm
Nhà XB: Viện khoa học giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
23. Nguyễn Thế Thắng (đăng ngày 9/2/2012), Các giai đoạn phát triển của giáo dục đại học, http://www.vnies.edu.vn/detail-news-view-1-23-266_cac-giai-doan-phat-trien-cua-giao-duc-dai-hoc.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giai đoạn phát triển của giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Thế Thắng
Nhà XB: vnies.edu.vn
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w