Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn này chúng tôi nhằm giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau: 4.1 Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài 4.2 Tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với môn Tâm lý học đại cư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN THỊ THƠM
TÌM HIỂU HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN
TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐHDL ĐÔNG ĐÔ
V - _ L £ /
HÀ NỘI - 2005
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 2J l t í i c ả m c )'t t
(€ /tú ittf fê i x in /ctỉtỵ tỏ (òng /-iê ĩ <ỈH iâ n ■u ír đêu th ầ y Jpô 'J{/tan /i ăP/ió g iá o dư,
tiến ùỹ (â m í ý /h ic fĩã tâ u fì>i/t ỉntớnrp (/a n , dỡ fê i ỉư àn ỉ/tà n /t ỉtirĩn năn lừ ty.
lí/lú n g fê i x in c/tân í/tà )tỉi cảm tín (tên:
ỉiBan g iá m /tiêu, Ịt/tò th 'f iiỉtiẽ n cứu /,/ic a /wc, các t/ư ỉy, cô y iá o của /c/toa ỉđ m tỷ
3 ’UtònỊịp Q a i Aoc /i/tfìa /tcic x ã /lô i r à ìi/iă n r.ăìt.
ỉỉBan g iá m /liê n , các ỉ/tầ y cô Ịpiáo (ta y TÌIÔH tâm lý c ù ìtỹ toàn ỉ/lê Aũt/t
■niên ẽ h tứ n p Q a i /tcc Q á ìi 9 ỉă ịt, Q ó )ty Q â đ ã tao điều /liê n ỹ iií/t đỡ ỉô i /tc àn (ỉin à /i
Itiđ n Kăn của m ìti/t.
Trang 3I Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
m Một số vẵn đề lý luận về hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương 24
III 1 Định nghĩa hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương 24III.2 Biểu hiện của hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương 24 m.3 Nhũng yếu tố ảnh huởng đên húng thú học tập môn tâm lý học đại cuơng 25
IV Một số nhận xét bước đầu về việc dạy và học môn tâm lý học đại 27
cương ở Trường đại học dân lập Đông Đô
III Quá trình tổ chức thực nghiệm tác động sư phạm 37
Trang 4PHẦN THỨ NHẤT NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG
1 LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI:
Hứng thú là một vấn đề được nghiên cứu nhiều, nhưng vẫn luôn có sức hấp dẫn người nghiên cứu Khi có hứng thú đối với một đối tượng, một hoạt
động nào đó thì nó sẽ tạo cho con người một trạng thái cảm xúc dễ chịu, sự say
-Khi có hứng thú nhận thức, người học sẽ hướng toàn bộ sự chú ý của mình vào đối tượng nhận thức, từ đó làm cho quá trình quan sát của người học trở nên
nhạy bén và chính xác, chú ý bền vững hơn, ghi nhớ nhanh và chính xác, tư duy
tích cực, tưởng tượng phong phú hơn Người học sẽ trở nên tích cực, độc lập và
đầy sáng tạo trong hoạt động học tập của mình Đồng thời trong quá trình đó
nhân cách của người học cũng có điều kiện phát triển và hoàn thiện
Nhà giáo dục người Tiệp K.Đ.Usinxki khi nói tới vai trò của hứng thú nhận thức cũng đã viết: "Một sự học tập nào mà chẳng có hứng thú gì cả và chỉ
tiến hành bằng sức mạnh cưỡng bức, thì sáng tạo của người học thêm mai một,
nó sẽ làm cho người ta thờ ơ với hoạt động này"
Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, thế kỷ mà việc giáo dục và phát triển nhân tài là một trong những nét đặc trưng của giáo dục hiện đại Nền giáo dục
nước ta hướng vào mục đích từng bước biến quá trình đào tạo thành quá trình tự
đào tạo, lấy sự phát triển của người học làm trung tâm Những mục tiêu này đều
nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học Để thực hiện
mục tiêu đề ra thì việc hình thành và nâng cao hứng thú của người học đóng một
vai trò rất quan trọng Vì chỉ có hứng thú học tập người học mới nhận thức rõ vai
trò, tầm quan trọng của tri thức đối với bản thân, có những tình cảm tích cực
trong việc lĩnh hội tri thức, đẫn đến khát khao, hiểu biết và tự giành lấy tri thức
Có nghĩa là hứng thú đã góp phần phát huy tính tích cực, sáng tao của chính bản
thân mỗi người học
1
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 5Tuy nhiên trong thực tế, sinh viên trường đại học Dân lạp Đông Đô chưa thực sự say sưa với môn học của minh, các em chưa thực sự tự giác trong học
tập Đội ngũ giáo viên cơ hữu một số mới ra trường nên kinh nghiệm còn ít, trình
độ tay nghề chưa cao Thực tiễn đặt ra cho trường Đại học Dân lập Đông Đô
phải sớm nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của xã hội
Xuất phát từ lý do trên đây, chúng tôi lựa chọn vấn đề; "Tìm hiểu hứng
thú học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên trường Đ ại học Dân lập
-2 Đỏi tượng nghiên cứu
Hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên trường Đại học Dân lập Đông Đô
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm làm rõ thực trạng hứng thú học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên Trường Đại học Dàn lập Đông Đô; tìm hiểu những nguyên
nhân dẫn đến thực trạng đó, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hứng
thú của môn tâm lý học đại cương cho sinh viên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn này chúng tôi nhằm giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:
4.1 Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
4.2 Tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với môn Tâm lý học đại cương của sinh
viên trường Đại học Dân lập Đông Đô trên các phương diện:
+ Nhận thức của sinh viên về ý nghĩa, tầm quan trọng của môn tâm lý học đại cương đối với quá trình học tập và đời sống của sinh viên
+ Cảm xúc của sinh viên đối với môn tâm lý học đại cương
+ Hành động tích cực của sinh viên trong việc học tập môn tâm lý học đạicương
4.3 Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó
4.4 Thử nghiệm một số biện pháp tác động sư phạm nhằm tích cực hoá những
hành động học của sinh viên, thông qua đó cải thiện một bước hứng thú học tập
của sinh viên đối với môn học
Trang 65 Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
5.1 VI không có điều kiện nghiên cứu rộng, nên chúng tôi coi nhiệm tìm
hiểu thực trạng và nguyên nhân gây ra hứng thú học tập môn tâm lý học đại
cương của sinh viên trường đại học DL Đỏng Đỏ là nhiệm vụ chủ yếu của đề tài
5.2 Vì điều kiện thực tế không cho phép và thời gian làm luận văn có hạn,
chúng tôi không thực nghiệm nhằm đổi mới phương pháp dạy học tâm lý học đại
cương nói chung mà chỉ tiến hành thay đổi một phần cách soạn giảng từ chỗ
thuyết trình giải thích tri thức là chủ yếu, sang tổ chức hành động học của sinh
viên trên lớp bằng một hệ thống câu hỏi để sinh viên tự phát hiện bản chất của tri
thức là chủ yếu, qua đó kích thích tính tích cực của họ đối với môn tâm lý học
đại cương
6 Giả thuyết khoa học
6.1 Phần lớn sinh viên Trường Đại học Dân lập Đông Đô có hứng thú học
tập môn tâm lý học đại cương, nhưng còn ở mức độ thấp
6.2 Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, trong đó việc giảng dạy
của giáo viên đóng một vai trò đáng kể trong việc hình thành hứng thú học tập môn
tâm lý học đại cương của sinh viên Nếu Trong quá trình giảng dạy giảng viên
không chỉ thuyết trình, giải thích tri thức mà còn tổ chức hành động học của sinh
viên bằng một hệ thống câu hỏi để họ tự phát hiện ra bản chất của tri thức, thì sẽ
kích thích được tính tích cực học tập của sinh viên, qua đó có thể cải thiện được một
bước hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương
7 Khách thể nghiên cứu.
- Khách thể chính: Điều tra lần một trên 230 sinh viên khoá trước
(khoá 9) thuộc các Khoa: Thông tin học, N goại ngữ, V ăn hóa du lịch, Quan
hệ quốc tế, Quản trị kinh doanh; Điều tra sau thực nghiệm trên 60 sinh viên
lớp thực nghiệm (Lớp ngoại ngữ khoálO ) và 55 sinh viên ở lớp đối chứng
(Lớp văn hoá Du lịch khóa 10)
- Ngoài ra chúng tôi nghiên cứu khách thể phụ: 05 giáo viên giảng dạy
mồn.tâm lý học đại cương trường ĐHDL Đông Đô
3LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 78 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng hệ thống các phương
pháp sau:
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản:
Đọc sách và tài liệu có liên quan nhằm xây dung cơ sở lý luậncủa đề tài
8.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tế
8.2.1 Phương pháp điều tra viết: (phương pháp chính)
8.2.2 Phương pháp quan sát
8.2.3 Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn
8.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
8.2.5 Phương pháp thực nghiệm tác động sư phạm
8.2.6 Phương pháp thống kê toán học
Cách thức triển khai cụ thể sẽ được trình bày chi tiết trong chương H3
“phương pháp nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu”
Trang 8PHẦN THỨ 2: NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u
CHƯƠNG 1: C ơ SỞ LÝ LUẬN
I Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Hứng thú là một đề tài nghiên cứu của nhiều công trình khoa học Trên thế
giới có rất nhiều nhà khoa học chú ý đến lĩnh vực này đặc biệt là các công trình
nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên xô cũ Sau đây xin điểm qua một trong
số công trình nghiên cứ về lĩnh vực này cảu một số nhà tâm lý học trên thế giới
- Năm 1944 A.F Bêliép đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ về vấn đề
“Tâm lý học hứng thú”
- Năm 1955 có công trình nghiên cứu của A.Páckhuđốp về “sự phụ thuộc
giữa tri thức của học sinh và hứng thú học tập”
- Năm 1956 có công trình nghiên cứu của V.G.Iva nốp với đề tài “sự phát
triển và giáo dục hứng thú của học sinh các lớp trong trường trung học”
- Năm 1966 N.I.Ganbirô đã nghiên cứu vấn đề “ vận dụng tính hứng thú
để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Nga” Cũng trong năm này còn có công
trình nghiên cứu của I.v Lép kốp về vấn đề “ Sự hình thành hứng thú nhận thức
cho học sinh trong quá trình công tác địa phương”
- Năm 1967 có công trình nghiên cứu của V.N Marôzôva nghiên cứu vấn
đề “Sự hình thành hứng thú ở trẻ em trong điều kiện phát triển bình thường và
không bình thường”
- N ăm l971, có công trình nghiên cứu củaG.I.Sukinna về “ Vấn đề hứng
thú nhận thức trong khoa học giáo dục”
- Năm 1976, N.G Marôzôva đã nghiên cứu vấn đề “tác dụng của việc
giảng dạy nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của học sinh”
- Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu của một số nhà tâm lý học
Liên xô khác như: A.V.Daparôgiét, S.L Rubinstêin Các nhà tâm lý học dân chủ
Đức trước đây như VV.Hennig, A.CossakoVVki và một số nhà tâm lý học
Phương tây khác như: Jam, CLaparé, Janét, Strong buler, Super
Ở nước ta, có rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú về các lĩnh vực
như: nghiên cứu hứng thú nghề nghiệp, hứng thú học tập bộ môn, những yếu tô ảnh
5LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 9hưởng đến hứng thú học tập bộ môn Sau đây là sơ lược một số công trinh nghiêr
cứu hứng thú đó
+ Nghiên cứu hứng thú nghề nghiệp có:
- Năm 1981, Tác giả Phùng Minh Nguyệt với luận án thạc sỹ “ Bước đầu tìm hiểu hứng thú đối với nghề sư phạm của giáo sinh trường cao đẳng sư phạm
giáo dục trường đại học sư phạm Hà Nội I”
Nhìn chung, trong các nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp, các tác giả quan tâm, tìm hiểu, phãn tích mối quan hệ giữa hứng thú học tập bộ môn với xu
hướng nghề nghiệp của sinh viên
+ Những nghiên cứu vê húng thú học tập bộ môn.
- Trương Anh Tuấn (1960), Phạm Huy Thục (1970), Đặng Trường Thanh (1980) Đã nghiên cứu “Hứng thú bộ môn của học sinh cấp i n ”
- Năm 1969 Lê Ngọc Lan với công trình nghiên cứu mang tên: “Tìm hiểu hứng thú học toán của học sinh cấp II” Tác giả đã thực nghiệm tác động nâng
cao hứng thú học toán của học sinh bằng sinh hoạt ngoại khó của đội thiếu niên
- Năm 1974 tổ tâm lý học nhân cách thuộc trường đại học Sư phạm Hà Nội đã nghiên cứu: “Hứng thú học tập của học sinh cấp HI đối với các môn học
cụ thể”
- Năm 1980 tác giả Dương Diệu Hoa với đề tài: “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học tập m ôn tâm lý học đại cương của sinh viên khoa tâm lý Trường Đại học
sư phạm Hà Nội I”
Trong năm 1980 còn có đề tài nghiên cứu của tác giả Lê Bá Chương với đề tài: “Bước đầu tìm hiểu về dạy học môn tâm lý học để xây dựng hứng thú học tập
bộ môn cho giáo sinh Trường sư phạm 10+3 (luận án thạc sỹ); Nguyễn Thanh
Trang 10Bình với đề tài: “Bước đầu tìm hiểu nguyên nhân gây hứng thú học tập của sinh
viên Trường Đại học sư phạm Hà Nội I”
- Năm 1981: Nguyễn Thị Tuyết với đề tài: “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học môn văn của học sinh lớp 10 và lớp 11 Trường phổ thông cấp m thành phổ
Quốc gia Hà Nội (năm 1998)
Nhìn chung, việc nghiên cứu hứng thú nhận thức nói chung, hứng thú học tập nói riêng ở liên Xô và Việt Nam đã giải quyết nhiều vấn đề phong phú với
nhiều khía cạnh khác nhau của nó Qua tham khảo những công trình này, chúng
tôi đã rút ra nhiều bài học bổ ích cho minh cả về lý luận cũng như phương pháp
nghiên cứu Cái mà chúng tôi thấy khác với những công trình nghiên cứu trước
chỉ là ở kM ch thể, thời điểm nghiên cứu Công trình nghiên cứu của mình có
khách thể là sinh viên Trường đại học Dân lập Đông Đô một loại hình mới được
hình thành ở nước ta, dư luận xã hội còn chưa thực sự ủng hộ, các em sinh viên
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 11rất mặc cảm và còn hạn chế về nhiều mặt Nghiên cứu đề tài của mình, chúng tôi
muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc dạy - học ở nơi mà mình
đang giảng dạy - Trường Đại học Dân lập Đông Đô Tôi nghĩ cái đó là cái mới,
cái thiết thực của vân đề mà chúng tôi muốn tìm hiểu, giải quyết trong đề tài của mình,
n Một số khái niệm cơ bản của luận văn.
1 Khái niệm Hứng thú.
1.1 Định nghĩa hứng thú
+ Quan điểm của một s ố nhà tám lý học phương tây về hứng thú.
- Theo I.PhShec-bác thì hứng thú là một thuộc tính bẩm sinh của con
người, hứng thú có nguồn gốc sinh vật
- V.Giêmxơ, S.Klaparet lại khẳng định hứng thú là nhu cầu bản năng, khát vọng đòi được thoả mãn
- Fransiska, Baumgáten lại coi hứng thú là trường hợp riêng của thiên hướng
- Ch.Buhler đã coi hứng thú là nguồn gốc tinh thần của tính tích cực biểu đạt tài liệu, đổi mới tài liệu, hứng thú trình bày tài liệu như là vốn có Hứng thú
bao gồm các nhu cầu
N hận xét: Theo một số nhà tâm lý học Phương tây vừa điểm tới thì hứng thú
là một thuộc tính có sẵn của con người, nó mang tính bẩm sinh, quá trình lớn lên
của bản thân mỗi người cũng đồng thời là quá trình bộc lộ dần thiên hướng và hứng
thú của họ Quan điểm này đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của giáo dục, giáo dưỡng
và hoạt động có ý thức của con người đối với sự phát triển của hứng thú
+ M ột s ố quan điểm về hứng thú của những nhà tàm lý học duy vật về
hứng thú:
Các nhà TLH Duy vật biện chứng đã coi hứng thú không phải là cái gì trừu tượng, không phải là những thuộc tính có sẵn của con người Mà nó là kết
quả của quá trình hình thành nhân cách con người, nó phản ánh một cách khách
quan thái độ đang tồn tại ở mỗi con người
- B.M Chép lốp cho rằng: Hứng thú là khuynh hướng ưu tiên chú ý vào một khách thể nào đó
- A.V.Daparogiét lại xem: Hứng thú là khuynh hướng chú ý tới một đối tượng nhất định, là nguyện vọng tìm hiểu chúng một cách rõ ràng và tỷ mỉ
Trang 12- X.L.Rubinxtein coi hứng thú là thái độ nhận thức tích cực của cá nhân đối với hiện thực
- Theo A.N.Lêonchichép thì hứng thú là một thái độ nhận thức đặc biệt đối với đối tượng hoặc hiện tượng của hiện thực khách quan
- A.A.Liublinxkaia cũng cho hứng thú là thái độ nhận thức của con người đối với xung quanh, đối với một mặt nào đó của chính nó, đối với một lĩnh vực
nhất định mà trong đó con người muốn đi sâu hơn
- P.A.Ruđích coi hứng thú ]à biểu hiện khuynh hướng đặc biệt của cá nhân nhằm nhận thức hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng thời biểu
hiện thiên hướng tương đối cố định của con người đối với một hoạt động nhất định
- Có một số tác giả lại gắn hứng thú với xúc cảm, ý chí, V A Miaxidrốp, coi hứng thú là sự kết hợp độc đáo của quá trình tinh cảm - ý chí và các quá trình
trí tuệ, khiến cho tính tích cực của nhận thức và hoạt động của con người được
nâng cao
- Hứng thú còn được giải thích là động lực của những xúc cảm khác nhau (A Phee-ét) và tính nhạy cảm đặc biệt của trẻ em (S Binle)
- Có những tác giả lại gắn hứng thú với quá trình xúc cảm - nhận thức như:
N G M ôrônốp coi hứng thú là thái độ nhận thức - xúc cảm của con người đối
với th ế giới; hay hứng thú là thuộc tính tích cực của hoạt động trí tuệ và tình cảm
(E K Xtrono, s L Rubinxtein)
- Hay S.Binle lại gắn hứng thú với nhu cầu, hứng thú là một kết cấu bao gồm nhiều nhu cầu
- Nhà TLH Cộng hòa dân chủ Đức A Kossakowski và một số nhà TLH Liên xô cũ khác như: A G Côvaliốp, G I Sukina lại gắn hứng thú với sự định
hướng của cá nhân vào đối tượng nhất định, đối tượng có ý nghĩa đối với cá
nhân, đối với đối tượng có sự hấp dẫn
- A.G.Côvaliốp đã đưa ra định nghĩa về hứng thú như sau " Hứng thú là
m ột thái độ đặc thù của cá nhân với một hiện tượng nào đó, do ý nghĩa của nó
trong đời sống và sự hấp dẫn về m ặt tình cảm của nó"(l)
1 3 A G C ôvaliốp: T âm lý h ọ c cá n h ân T ập 1 - N X B G iáo dục H à N ội 1971 T r 228
9
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 13Như vậy các tác giả đã thu hẹp khai niệm hứng thú, quy hứng thú vào trong giới hạn hoặc của hoạt động nhận thức hoặc của quá trình chú ý, quá trình
xúc cảm, của nhu cầu
Thực chất ra về bản chất, hứng thú có liên quan với tất cả các quá trình đó
- Trong cuốn đề cương bài giảng tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm của khoa tâm lý Trường Đại học sư phạm Hà nội I, các tác giả đã định nghĩa:
"Hứng thú là sự định hướng có lựa chọn của cá nhân vào nhũng sự vật hiện
tượng của thực tế xung quanh Sự định hướng đó được đặc trưng bởi sự vươn lên
thường trực tới nhận thức, tới những kiến thữc mới ngày càng đầy đủ và sâu sắc
hơn " (2) Về cơ bản định nghĩa này cũng chỉ nghiêng về hứng thú nhận thức
- Tâm lý học hiện đại có khuynh hướng nghiên cứu hứng thú không tách rời toàn bộ cấu trúc tâm lý của cá nhân Theo họ hứng thú là: "Thái độ lựa chọn đặc
biệt của cá nhân đối với đối tượng, khi hiểu được ý nghĩa của nó đối với cuộc
sống và gây cho ta khoái cảm đặc b iệ t" (3)
- Phân tích cấu trúc của hứng thú, tiến sỹ tâm lý học N G Marôzôva đã nêu
ra ít nhất 3 dấu hiệu đặc trưng (4):
* Có cảm xúc đúng đắn với đối tượng gây ra hứng thú
* Cá nhân hiểu rõ, nhận thức được đối tượng đã gây ra hứng thú
* Cá nhân có hoạt động để vươn tới chiếm lĩnh đối tượng đó
Ba thành tố trên có quan hệ chặt chẽ vối nhau trong hứng thú cá nhân Để có hứng thú đối với đối tượng nào đó cần phải có các yếu tố trên Tuy nhiên tuỳ
theo từng giai đoạn phát triển của hứng thú mà yếu tố nào chiếm ưu thế
- Những năm gần đây, có rất nhiều nhà TLH đã nghiêng về cách giải thích cấu trúc hứng thú theo sự phân tích của N G Marôzôva Tiêu biểu là nhóm các
tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ cho rằng: Khi ta có hứng
thú về một cái gì đó thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu rõ ý nghĩa của
nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ở ta còn xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối
với nó Do đó hứng thú lôi cuốn, hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó, tạo
ra tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó
- Tác phẩm tâm lý học đại cương do Phạm Tất Dong chủ biên đã định nghĩa: K hoa học tâm lý hiểu hứng thú được biểu hiện trong khuynh hướng
2 Đ ể cương bài giảng T âm lý học trẻ em và sư phạm T ư liệu lưu h àn h nội bở, X u ất b ản 1975, TrlOO.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 14thường xuyên của con người đối với đối tượng của hứng thú, trong khát vọng tiếp
* Chủ thể có sự khát khao hoạt động vươn tới tiếp cận và chiếm lĩnh đối tượng
Do vậy, chúng tôi tán thành với PGS.TS Nguyễn Quang uẩn:
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhàn đối với đối tượng nào đó, vừa
có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân
trong quá trình hoạt động.
Trong nghiên cứu này chúng tôi đã coi định nghĩa của PGS.TS Nguyễn Quang Uẩn là cơ sở cho nghiên cứu của mình
ta Nhưng đối tượng gây ra nhu cầu thì ngay từ đầu lại chưa được ta ý thức đầy
đủ, chỉ sau một thời gian dần dần đối tượng gây ra nhu cầu mới được ta ý thức
ngày một rõ ràng hơn
- Hơn nữa đối tượng gây ra hứng thú bao giờ cũng làm xuất hiện ở ta một tâm trạng dễ chịu, một cảm xúc tích cực, một thiện cảm đặc biệt với nó Tứ đó
hứng thú lôi quốn, hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó, tạo ra tâm lý khát
khao tiếp cận và đi sâu vào nó Còn đối tượng gây ra nhu cầu thì đôi khi có
những trường hợp mặc dù được ta ý thức đầy đủ, sâu sắc, nhưng đối tượng đó lại
4 N G M arồzôva: N ói ch uyện với giáo viên về hứng thú nhận thức.
11
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 15có thể không thể gây cho ta một thiện cảm nào Chẳng hạn, ta ý thức được rất rõ
thuốc làm cho ta khỏi bệnh nhưng không phải lúc nào thuốc cũng tạo ra cho ta
một khoái cảm đặc biệt đối với nó
Như vậy muốn cho hứng thú tồn tại cần phải có hai điều kiện:
Điều kiện 1 : Cái gây ra hứng thú phải được cá nhân ý thức, hiểu rõ ý nghĩa
của nó đối với đới sống riêng của mình
Điều kiện 2: Cái gày ra hứng thú phải tạo ra ở cá nhân một khoái cảm đặc biệt.
Mỗi hứng thú bao gồm cả hai điều kiện trên, thiếu một trong hai điều kiện
đó thì hứng thú không tồn tại Chính vì hai điều kiện trên mà hứng thú tạo nên ở
cá nhân khát vọng tiếp cận sâu vào đối tượng Và những đặc điểm trên đã khẳng
định hứng thú là thái độ đặc biệt
1.3 Biểu hiện của hứng thú
+ Theo G.I Sukỉna hứng thú biểu hiện ra trước công chúng như:
- Khuynh hướng lựa chọn các quá trình tâm lý con người nhằm vào đối tượng và hiện tượng của thế giới xung quanh
- Xu thế, nguyện vọng, nhu cầu của cá nhân muốn tìm hiểu một lĩnh vực, hiện tượng cụ thể, một hoạt động xác định mang lại sự thoả mãn cho cá nhân
- Nguồn kích thích mạnh mẽ tính tích cực cho cá nhân do ảnh hưởng của nguồn kích thích này mà tất cả các quá trình diễn ra khẩn trương, cõn hoạt động
trở nên say mê và đem lại hiệu quả cao
- Và cuối cùng là thái độ đặc biệt (không thờ ơ, bàng quang mà tràn đầy nhũng ý định tích cực, một cảm xúc trong sáng, một ý chí tập trung đối với
ngoại giới, đối với các đối tượng, hiện tượng, quá trình)
+ Theo tác giả Phạm Tất Dong hứng thú biểu hiện ở các khm cạnh sau:
- Biểu hiện trong khuynh hướng thường xuyên của con người đối với hoạt động có liên quan tới đố tượng của hứng thú đó
- Biểu hiện trong sự trải nghiệm thường xuyên những tình cảm dễ chịu do đối tượng này gây ra
- Biểu hiện trong khuynh hướng bàn luận thường xuyên về đối tượng này,
về việc có liên quan tới chúng
- Biểu hiện trong sự tập trung chú ý của con người vào đối tượng của hứng thú
Trang 16- Biểu hiện trong sự ghi nhớ nhanh và lâu những điều có quan hệ gần gũi với đối tượng này, trong hoạt động tưởng tượng phong phú,trong tư duy căng
thắng những vấn đề có liên quan đến đối tượng của hứng thú đó
Tóm lại: Căn cứ vào các biểu hiện mà các tác gỉa đã đưa ra, hứng thú được
biểu hiện ở ba mặt:
- Mặt nhận thức: Khi có hứng thú đối với cái gì đó thì có sự tập trung chú
ý cao về đối tượng gây ra hứng thú, tính ổn định và tính bền vững thể hiện rõ
trong chú ý có chủ định và chú ý không chừ định, các hoạt động ghi nhớ, tư duy,
tưởng tượng tích cực hon nhằm nhận thức chúng một cách đầy đủ và sáu sắc hơn
- Mật xúc cảm - tình cảm: Đối tượng gây ra hứng thứ tạo nên sự khoái cảm, sự say mê, hấp dẫn đối vói chủ thể Chủ thể thường xuyên được trải nghiệm
những tình cảm dễ chịu từ phía đối tượng
- Biểu hiện ở hành vi: Khi chủ thể có hiểu biết về đối tượng gây ra hứng thú, đồng thời chủ thể lại có tình cảm đặc biệt với đối tượng gây ra hứng thú thì
họ sẽ xuất hiện khát vọng hành động đi sâu vào đối tượng làm cho chủ thể hoạt
động say mê và ít mệt mỏi
1.4 Phân loại hứng thú:
Có nhiều cách phân loại hứng thú khác nhau:
a Căn cứ vào nội dung của đối tượng và phạm vi hoạt động gắn với hứng thú ta có th ể chia hứng thú thành:
+ Hứng thú vật chất: Là loại hứng thú biểu hiện thành nguyện vọng muốn có chỗ ở đầy đủ, tiện nghi, thích ăn, mặc đẹp
+ Hứng thú nhận thức: Là khuynh hướng lựa chọn của cá nhân nhằm vào việc nhận thức được một hoặc một số lĩnh vực khoa học (trong nhà trường là các
môn học) nhằm vào mặt nội dung của nó cũng như nhằm vào quá trình hoạt
động Trong đó cá nhân không chỉ dừng lại ở những đặc điểm bên ngoài của sự
vật hiện tượng, mà có xu thế đi sâu vào bản chất bên trong của sự vật hiện trượng
muốn nhận thức Hứng thú hoạ tập được coi là một biểu hiện đặc biệt của hứng
thú nhận thức, hứng thú khoa học có tính chất chuyên môn như:
Trang 17- Hứng thú triết học.
- Hứng thú tâm lý h ọ c
+ Hứng thú lao động nghề nghiệp: Là húng thú đối với một ngành nghề cụ thể như:
- Hứng thú nghề sư phạm
- Hứng thú đối với nghề nông
- Hứng thứ đối với công việc hành chính
+ Hứng thú xã hội - chính trị: Là loại hứng thú đối với hình thức nhất định của công tác xã hội, hứng thú đối với hoạt động chính trị, hứng thú đối với các
+ Hứng thú gián tiếp: Là loại hứng thú đối với kết quả của quá trình hoạt động
Sự tương quan đúng mức giữa hứng thú trực tiếp và hứng thú gián tiếp là điều kiện thuận lợi cho hoạt động tích cực của bản thân Trong học tập người ta
thường dùng hứng thú gián tiếp để kích thích hứng thú trực tiếp trong học tập
c Căn cứ vào hiệu quả của hứng thú ta có thẻ chia hứng thú thành hứng thú thụ động (Hứng thú tiêu cực) và hứng thú chủ động (Hứng thú tích cực).
+ Hứng thú thụ động: Là loại hứng thú tĩnh quan, khi con người chỉ dừng
lại ở sự thích ngắm nhìn, chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú, nhưng
không thể hiện tính tích cực để nhận thức sâu sắc hơn, làm chủ đối tượng và
hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực mình hứng thú
+ Hứng thú tích cực: Là loại hứng thú mà con người không chỉ chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú mà còn lao vào hoạt động với mục đích làm
chủ đối tượng Hứng thú tích cực là một trong những nguồn kích thích sự phát
triển nhân cách, hình thành kỹ năng, kỹ sảo là nguồn gốc của sự sáng tạo
d Căn cứ vào khối lượng của hứng thú (Phạm vỉ khái quát của đôi tượng, có th ể chia hứng thú thành hứng thú rộng và hứng thú hẹp).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 18+ Hứng thú rộng: Là loại hứng thú bao quát nhiều mặt, nhiều lĩnh vực
nhưng thường không sâu Tuy nhiên cũng có trường hợp vừa có hứng thú rộng
nhưng lại nắm sâu sắc vấn đề
+ Hứng thú hẹp: Là loại hứng thú đối với từng mặt, từng ngành nghề cụ thể, một lĩnh vực cụ thể
Trong cuộc sống cá nhân đòi hỏi phải có hai loại hứng thú này, vì nếu chỉ có hứng thú hẹp mà không có hứng thú rộng thì nhân cách của họ sẽ không toàn diện,
song nếu chỉ có hứng thú rộng thì nhân cách sẽ phát triển hời hợt, thiếu sâu sắc
e Căn cứ vào chiều sâu của hứng thú có th ể phàn chia hứng thú sâu sắc và hứng thú hời hợt bén ngoài.
+ Hứng thú sâu sắc: Thường thể hiện thái độ thận trọng, có trách nhiệm
đối với công việc Những người có hứng thú sâu sắc, mong muốn đi sâu vào đối
tượng nhận thức, đi sâu nắm vững đến mức hoàn hảo nghề nghiệp của mình
+ Hứng thú hời hợt bên ngoài: Thường là những người qua loa đại khái trong quá trình nhận thức và trong thực tiễn họ là những người nhẹ dạ, nông nổi
g Căn cứ vào tính bền vững của hứng thú ta có hứng thú bền vững và hứng thú không bền vững.
+ Hứng thú bền vững: Thường gắn liền với năng lực cao và sự nhận thức sâu sắc nghĩa vụ và khuynh hướng của mình
+ Hứng thú không bển vững: Thường bắt nguồn từ sự nhận thức hời hợt đối tượng hứng thú Xuất hiện cả ở trẻ em và người lớn
Trong thực tế, ở mỗi cá nhân, các loại hứng thú này có thể kết hợp với nhau theo một cách riêng, tiêu biểu cho cá nhân đó Các cách phân loại này chỉ
mang tính chất tương đối
1.5 Vai trò của hứng thú:
Hứng thú có một ý nghĩa quan trọng đối với đời sống và hoạt động của con người, đặc biệt đối với sự phát triển nhân cách
+ Đối với hoạt động nói chung:
Hứng thú có một vai trò quan trọng đối với hoạt động của con người Cùng với nhu cầu, hứng thú kích thích hoạt động làm cho con người say mê hoạt động
đem lại kết quả cao trong hoạt động của mình Hứng thú khi đã hình thành và phát
triển sẽ làm cho nhu cầu trong lĩnh vực đó phát triển dễ dàng hơn Nhu cầu và hứng
15LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 19thú có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhu cầu là tiền đề, cơ sở của hứng thú Khi
có hứng thú với một cái gì đó thì cá nhân sẽ hoạt động tích cực để chiếm lĩnh đối
tượng đó để thoả mãn nhu cầu, trên cơ sở đó lại xuất, hiện nhu cầu mới cao hơn
Công việc nào mà có hứng thú thì con người mới thực hiện nó một cách dễ dàng và có hiệu quả cao Lúc đó con người cảm thấy khoái cảm và đương nhiên
họ sẽ tìm thấy niềm vui trong công việc, khi đó công việc sẽ trở lên nhẹ nhàng
hơn, ít tốn công sức hơn và có sự tập trung cao Ngược lại thì người ta cảm thấy
gượng ép, công việc trở lên nặng nhọc, khó khãn làm cho người ta cảm thấy mệt
mỏi và đương nhiên chất lượng hoạt động sẽ giảm rõ rệt
+ Đối với hoạt động nhận thức:
Hứng thú là động lực giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức đạt hiệu quả, hứng thú tạo ra động cơ quan trọng của hoạt động, hình thành và phát
triển lý tưởng, để vươn tới lý tưởng cao đẹp của đời mình thì phải xây dựng cho
mình hứng thú phù hợp với lý tưởng Hứng thú làm tích cực hoá các quá trình
tâm lý như quá trình tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng
+ Đối với năng lực:
Hứng thú là nguyên nhân cơ bản để hình thành và phát triển năng lực, muốn hình thành năng lực phải có hứng thú Khi được làm việc phù hợp với
hứng thú thì dù phải vượt qua muôn vàn khó khăn người ta vẵn cảm thấy thoả
mái, làm cho năng lực trong lĩnh vực hoạt động ấy dễ dàng hình thành và phát
triển: "Năng khiếu phụ thuộc vào sự luyện tập, nhưng chỉ có hứng thú mới cho
phép người ta say sưa làm một việcgì đó tương đối lâu dài không mệt mỏi mà
không sớm thoả mãn mà thôi Hứng thú làm cho năng khiếu thêm sắc bén” (I)
Đối với học sinh, việc hình thành năng lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có hứng thú của các em đối với mô học là rất quan trọng Do vậy trong
quá trình giảng dạy người giáo viên phải thu hút học sinh vào bài giảng làm cho
các em có hứng thú đối với môn học
Có thể nói hứng thú là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực cá nhân Hứng thú và năng lực có mối quan hệ biện chứng, cái này ỉàm
tiền đề cho cái kia và ngược lại
"Hứng thú và năng lực là một cặp đôi không tách rời nhau như câu hỏi và câu trả lời Tài năng sẽ bị thui chột nếu hứng thú không thực sự sâu sắc, đầy đủ
Trang 20và nói chung hứng thú không được nuôi dưỡng lâu dài nếu không có những năng
lực cần thiết để thỏa mãn hứng th ú " <2)
Tóm lai: Hứng thú có mối quan hệ chặt chẽ với các quá trình tâm lý và
các thuộc tính tâm lý khác của con người Thông qua hứng thú những nét tính
cách của cá nhân được biểu hiện rõ nét nhất, nó được hình thành trên cơ sở củng
cố và phát triển ngay trong hoạt động của con người có hứng thú
Vai trò của hứng thú đặc biệt quan trọng trong nhà trường, nhất là hứng thú tạo ra động cơ chủ đạo của hoạt động học tập của học sinh Vì vậy việc hlnh
thành và phát triển hứng thú nói chung, hứng thú học tập nói riêng cho học sinh
là mục đích gần của người giáo viên Muốn cho các em học tập tốt, thành công
trong học tập, muốn phát triển nang lực, phát triển trí tuệ cho các em (hay nói
cách khác muốn đạt được mục đích giáo dục và giáo dưỡng trong nhà trường) thì
trước hết người giáo viên phải tạo được hứng thú nhận thức cho các em
2 Hứng thú nhận thức 2.1 Khái niệm hứng thú nhận thức
Nói đến hứng thú nhận thức là nói đến sự lựa chọn riêng của chủ thể vào việc nhận thức một hoặc một số lĩnh vực khoa học nào đó
Ví dụ: một em học sinh này có xu thế thích nhận thức sâu văn học E m học sinh khác lại thích toán học Tính lựa chọn này của hứng thú nhận thức ở
nhiều mức độ khác nhau và mang đậm tính cá nhân Hứng thú thực sự khi lựa
chọn đối tượng nhận thức đạt tới mứcđộ chi phối khuynh hướng nhận thức lâu
dãi của cá nhân
Có tác giả nhận xét: Hứng thú nhận thức là sự kết hợp của xúc cảm, ý chí với các quá trình nhận thức (Jannét) Nói như vậy không phải là vô căn cứ,
nhưng cũng chưa hoàn toàn chính xác Rõ ràng trong hứng thú nhận thức có
thành phần của xúc cảm , có sự nỗ lực ý chí và đương nhiên không thể thiếu
được yếu tố nhận thức
Xúc cảm là yếu tố quyết định, nó là tiền đề, là điều kiện của hứng thú nhận thức và bao giờ nó cũng mang tính quá trình, tình huống, còn hứng thú
nhận thức là một thuộc tính tương đối bền vững mang tính xu thế của nhân cách
2 L X X ở lôvâytrích: T ừ hứng thú đ ến tài n ăn g , N X B Phụ nữ, Hà
Trang 21Xúc cảm là một thành phần không thể thiếu được của hứng thú nhận thức Hứng
thú nhận thức được biểu hiện ra ở xúc cảm nhưng khi những xúc cảm củng cố
theo một hướng nhất định và trở thành sâu sắc cùng với việc chủ thể ý thức được
vai trò quan trọng của đối tượng hứng thú nhận thức đối với xã hội và cá nhân
lúc đó mới nảy sinh hứng thú nhận thức đúng đắn
G.I Sukina nhấn mạnh thứ nhất: Ta nên chú ý đến phép biện chứng của mối quan hệ giữa hứng thú nhận thức, với các quá trình và các thuộc tính tâm lý khác
Thứ hai, nên chú ý rằng hứng thú nhận thức không chỉ liên quan tới nội dung đối
tượng mà còn liên quan đến hoạt động
Hứng thú nhận thức chủ yếu nhằm vào nhận thức, tiếp thu tri thức chứa đụng trong các rnôn học ở nhà trường và hứng thú nhận thức còn giúp học sinh vận
dụng phương pháp đã tiếp thu được để vận dụng vào việc học tập của mình
Thực chất của hứng thú nhận thức là ở chỗ đếi tượng của nó chính là quá trình nhận thức, quá trình này được đặc trưng bởi khuynh hướng lựa chọn của
các nhân đi sâu vào bản chất hiện tượng
Từ những điều vừa trình bày trên, chúng ta có thể đi đến hứng định nghĩa về hứng thú nhận thức như sau:
Hứng thú nhận thức là khuynh hướng lựa chọn của cá nhân vào việc nhánh thức m ột sô' lĩnh vực khoa học (Trong nhà trường là các môn học), nhằm
và m ặt nội dung của nó, cũng như quá trình hoạt động Trong đó cá nhân không
chỉ dìcng lại ỏ đặc điểm bên ngoài của sự vật hiện tưựìig, mà có xu th ế đi sâu vào
bản chất bên trong của sự vật hiện tượng muốn nhận thức.
2.2 Các giai đoạn hình thành và phát triển của hứng thú nhận thức
+ Quan điểm của A.N.Lêonchiép, G.I.Sukina, N.G.Marôzôva, A.A
Lubinxikaia cho rằng: Cũng như các thuộc tínlĩ tâm lý cá nhân khác, hứng thú
nhận thức là một hiện tượng tâm lý phức tạp, được hình thành và phát triển cùng
với sự phát triển của nhân cách thông qua hoạt động mà trong đó cá nhân là chủ
thể thực sự của đối tượng nhận thức Mặt khác sự phát triển của hứng thú nhận
thức gắn liền với sự phát triển của lứa tuổi.
t+ Theo N G M arôzôva trong quá trình p h á t;triển cá thể, hứng thú nhận thức được hình thành qua ba giai đoạn:
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 22- Giai đoạn 1: Rung động định kỳ: ở giai đoạn này cá nhân chưa có hứng
thú thực sự Các em do bị cuốn hút bởi nội dung do giáo viên trình bày, học sinh
chú ý chăm chú lắng nghe, trực tiếp thể hiện niềm vui nhận thức cái mới Song
những rung động đó có thể mất đi khi giờ học kết thúc Nhưng cũng có thể trên
cơ sở những rung động đó, hứng thú được phát triển Hứng thú nhận thức chỉ
phát triển khi học sinh mong muốn nhận thức nhiều hơn, các em đặt ra những
câu hỏi và vui mừng khi được giải đáp
- Giai đoạn 2: Thái độ nhận thức xúc-cảm tích cực: Ở giai đoạn này húng
thú thật sự xuất hiện, học sinh có sự nảy sinh câu hỏi nhận thức tìm tòi và phát
hiện Lúc này những rung động định kỳ được lặp đi lặp lại nhiều lần và được
khái quát trở thành thái độ nhận thức tích cực Thái độ này sẽ thúc đẩy học sinh
quan tâm tới những vấn đề học sinh quan tâm cả trong giờ học lẫn sau khia giờ
học kết thúc
- Giai đoạn 3: Khuynh hướng cá nhân: Nếu thái độ tích cực đó được duy
trì, củng cố, khả năng tìm tòi độc lập ở các em thường xuyên được khơi dậy thì
thái độ hứng thú có thể trở thành xu hướng cá nhân, ở mức độ này hứng thú
nhận thức hướng cho toàn bộ quá trình hoạt động của cá nhân có biến đổi Học
sinh sẽ dành thời gian rảnh rỗi của mình vào việc tìm tòi thêm những kiến thức
có liên quan đến những vấn đề mình hứng thú: Thời gian ngoại khoá, đọc thêm
sách, tìm người cùng quan tâm những vấn đề của mình Ở giai đoạn này hứng
thú bền vững - giai đoạn cao nhất của sự phát triển hứng thú
Việc nắm được các giai đoạn hình thành và phát triển hứng thú nhận thức cho phép người giáo viên phát triển hứng thú nhận thức ở học sinh từ thấp đến cao
Khi nghiên cứu về mức độ phát triển của hứng thú nhận thức G I Sukina
và N.G.Marôzôva đều thống nhất rằng hứng thú nhận thức có các m ức độ sau:
- Sự tò mò, tính ham hiểu biết, xúc cảm đối với đối tượng, đối với hoạt động mà chủ thể lựa chọn, là những dấu hiệu ban đầu của hứng thú Những biểu
hiện này nảy sinh từ tuổi vườn trẻ và phát triển mạnh mẽ ở tuổi mẫu giáo khi trẻ
tiếp xúc rộng rãi với môi trường xung quanh Nhưng đây chưa phải là hứng thú
nhận thức thực sự, mà là tiền đề quan trọng để hứng thú nhận thức nảy sinh và
phát triển
1 nLUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 23- Rung động nhận thức có tính chất tình huống Đây là mức độ đầu của hứng thú nhận thức Nó thường bị dập tắt một cách dễ dàng nếu không được
củng cố, hệ thống hóa nhờ việc tổ chức hoạt động nhận thức một cách phong
phú, sinh động
- Hứng thú nhận thức mang tính xúc cảm - nhận thức Trình độ này của hứng thú thường biểu hiện ở học sinh tiểu học và học sinh trung học cơ sở ơ
giai đoạn này hứng thú nhận thức biểu hiện rõ nét những xúc cảm bắt nguồn từ
hoạt động thực tiễn nhận thức, niềm vui do sự nhận thức mang lại, hứng thú nhận
thức ở tuổi này gắn liền với kết quả học tập Đây chưa phải là hứng thú nhận
thức thực sự
- Hứng thú thực sự được hình thành và bền vững Ở giai đoạn này, chủ thể hứng thú không chỉ tồn tại những xúc cảm, niềm vui, sự thỏa mãn do hoạt động
nhận thức đem lại mà tồn tại cả sự nỗ lực ý chí một cách bền vững Đây là mức
độ phát triển cao của hứng thú nhận thức thường đạt ở cuối phổ thông, đầu lứa
tuổi sinh viên
Việc hình thành và phát triển hứng thú nhận thức cho học sinh không thể thoát ly khỏi các mức độ phát triển của nó Vì vậy việc các nhà sư phạm nắm
được các giai đoạn phát triển này là cần thiết để có biện pháp thiết thực hình
thành và phát triển hứng thú nhận thức cho học sinh
Việc phát triển hứng thú nhận thức cho học sinh cần những điều kiện sau đây: (Theo N.G.Marôzôva)
- Điều kiên thứ nhất là: Người lớn phải tạo được ở trẻ một sự phát triển bình thường về nhận thức, đứa trẻ phải có được những tri thức, kỹ năng bước đầu
đối với học tập, mà trên nền của nó là hoạt động nhận thức có thể diễn ra một
cách bình thường
- Điều kiện thứ hai là: Việc tổ chức hoạt động học tập ở học sinh phải gây được ở họ thái độ tích cực đối vói học tập, ở đây việc tạo ra những xúc cảm nhận
thức đối với môn học, tạo ra những niềm vui do nhận thức mang lại chiếm một vị
trí không nhỏ, nhất là đối với học sinh tiểu học
- Điều kiện thứ ba là: Hứng nhận thức chỉ thực sự bền vững khi chủ thể ý thức được sâu sắc ý nghĩa của đối tượng và có hoạt động tích cực
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 24- Điều kiện thứ bốn là: Vai trò của người giáo viên cũng ảnh hưởng lớn đến việc hình thành hứng thú nhận thức của học sinh, với những phẩm chất đạo
đức sư phạm, nãng lực sư phạm, trình độ chuyên môn của mình các thầy, cô sẽ
góp công sức rất lớn trong việc hình thành và phát triển hứng thú nhận thức cho
học sinh Vì vậy người giáo viên cần phải gia công nhiều về mặt phương pháp để
giáo dục hứng thú nói chung và hứng thú nhận thức nói riêng cho học sinh
Ngoài ra những yếu tố khác, như: Nội dung tốt của tài liệu học tập, cùng với những đồ dùng dạy học phù hợp cũng là những điều kiện cần thiết đối với
việc hình thành và phát triển hứng thú nhận thức ở học sinh tốt hơn nữa Bên
cạnh đó việc xây dựng tập thể tốt, trong đó có bầu không khí giao tiếp thuận lợi
giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau nhằm đảm bảo cho hoạt
động dạy - học diễn ra một cách nhịp nhàng và có hiệu quả Khi đó nó cũng ảnh
hưởng thuận lợi đến việc hình thành hứng thú học tập ở các em
Trong thực tế, muốn xác định hứng thú nói chung và hứng thú nhận thức nói riêng của một người nào đó ngoài việc căn cứ vào đặc điểm của hứng thú,
chúng ta cần căn cứ vào các biểu hiện của chúng Trên cơ sở đó để khẳng định
người đó có hứng thú hay không
2.3 Biểu hiện của hứng thú nhận thức
Đứng ở các góc độ khác nhau, các tác giả cũng phân tích sự khác nhau về biểu hiện của hứng thú nhận thức
Theo M.G Marôzôva, để phát hiện hứng thú nhận thức có thể căn cứ vào
ba nhóm dấu hiệu sau đây:
- Những biểu hiện về hành vi hoạt động của học sinh thể hiện trong hành
vi học tập trong lớp
- Đặc điểm về hành vi hoạt động của học sinh thể hiện ở ngoài giờ học
- Đặc điểm của toàn bộ lối sống của học sinh xuất hiện do chịu ảnh hưởng của hứng thú đối với một đối tượng nào đó, một môn học nào đó
Các biểu hiện (chỉ tiêu) trên có mối quan hệ qua lại lẫn nhau và chỉ có thể dựa trên toàn bộ chỉ tiêu đó mới đánh giá được mức độ Dhát triển hứng thú nhận
thức ở học sinh
91
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 25Như vậy hứng thú nhận thức được biểu hiện trong quá trình nhận thức, trạng thái xúc cảm tích cực và trong hoạt động tích cực của cá nhân.
Một số tác giả nhận định: Trong nhà trường hoạt động học tập của học sinh được tổ chức một cách đúng đắn và hoạt động sư phạm của thầy giáo được
tiến hành đúng hướng và có hệ thống, thì hoạt động nhận thức của học sinh có
thể trở thành một nội dung bền vững trong nhân cách và được biểu hiện qua một
số mặt sau đây:
+ biểu hiện về mặt trí tuệ:
- Luôn say mê vươn tới nhận thức
- Có đầu óc tò mò khoa học, ham hiểu biết, sẵn sàng học thầy, hỏi bạn, thích tìm tòi, thường đặt ra nhiều câu hỏi nhằm hiểu biết sâu vấn đề hơn
- Có đầu óc giàu tưởng tượng sáng tạo, có trí tuệ mềm dẻo
- Tích cực và sáng tạo trong học tập và trong hoạt động thực tiễn (Trong tập thể lóp họ thường là những người phát huy sáng kiến và khơi mào những hoạt
động nhận thức hấp dẫn)
- Có nhu cầu vận dụng tri thức vào thực tiễn
- Luôn có khuynh hướng tìm đọc thêm sách báo, tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến những vấn đề đặt ra trong học tập
- Thích thực hiên những công việc khó, những bài học có yêu cầu cao đối với nhận thức
- Có sự chú ý trong học tập, tính ổn định và tính bền vững trong chú ý có chủ định cũng như chú ý khôngchủ định
+ Biểu hiên về m ặt ý chí:
- Có sự nỗ lực của ý chí trong hoạt động nhận thức
- Khi đã đặt ra văn đề giải quyết thì kiên nhẫn suy nghĩ tìm hiểu vấ đề cho đến cùng
- Không ngại khó khăn, ngại khổ, cố gắng vận dụng mọi khả năng có được
Trang 26- Rất phấn khởi, lạc quan trong quá trình nhận thức, thích phát huy sáng tạo, hay cải tiến trong học tập.
- Chủ động giành nhiều thời gian cho việc học
- Không thích những nhiệm vụ nhận thức dễ dàng, rất vui vẻ, say sưa vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập
+ Biểu hiện vê mặt kết quả:
- Thường xuyên thành công trong học tập.
- Đôi khi có những thất bại, vấp váp nhưng không nản chí mà biết rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích từ những thất bại đó để vươn lên
+ Biểu hiện vê mặt năng lực:
Những năng lực về lĩnh vực nhận thức được phát triển mạnh mẽ và thể hiện rõ nét như: Năng lực quan sát, năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng, năng
lực so sánh, năng lực phán đoán, năng lực tổng hợp, năng lực khái quát, năng lực
phân tích, trừu tượng hoá, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn
Các mặt biểu hiện đó không tách biệt độc lập mà có mối liên quan chặt chẽ vói nhau, nhưng nó chỉ được thể hiện rõ khi hứng thú cá nhân được thể hiện
ở giai đoạn cuối - hứng thú đã trở thành khuynh hướng nhân cách và đó là hứng
thú tích cực
3 Hứng thú học tập 3.1 Định nghĩa Hứng thú học tập
Hứng thú học tập là một biểu hiện đặc biệt của hứng thú nhận thức, mang những nét chung của hứng thú nhận thức Song, hứng thú học tập có đối tượng
khác với đối tượng của hứng thú nhận thức Đối tượng của hứng thú nhận thức là
việc nhận thức thế giới khách quan nói chung, đó là quá trình nhận thức bản chất
và qui luật của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Phạm vi của
hứng thú nhận thức rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời
sống và hoạt động của con người
Hứng thú học tập có đối tượng hẹp hơn nhiều so với hứng thú nhận thức
Khi nói tói hứng thú học tập là muốn nói tới hứng thú của học sinh đối với môn
học cụ thể nào đó Từ sự phân biệt trên ta có khái niệm hứng thú học tập
23LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 27Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của học sinh đối với môn học mà học sinh thấy có ý nghĩa và có khả năng đem lại khoái cảm trong quá trình
học tập bộ môn.
Đối tượng của hoạt động học tập là hệ thống các tri thức và kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với tri thức đó Hoạt động học tập bao gồm một hệ thống các
hành động học tập để lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
Như vậy hứng thú học tập bao gồm cả thái độ lựa chọn của cá nhân đối với
những tri thức, kỹ năng,kỹ xảo và cả thái độ đối với các hành động học tập để
đạt tới tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó trong các môn học
Do đó khi nghiên cứu hứng thú học tập với một môn học cụ thể thì không chỉ xem xét hứng thú đối với môn học mà còn phải nghiên cứu cả hứng thú đối
với hoạt động học tập bộ môn để lĩnh hội nội dung đó
3.2 Sự hình thành và phát triển hứng thú học tập chủ yếu phụ thuộc vào nội dung và phương pháp dạy - học.
m Một số vấn đề lý luận về hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương
D 3 1 Định nghĩa hứng thú học tập mòn tâm lý học đại cương
Như dã trình bày ở trên, hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương Đối với mỗi môn học nói chung thì hứng thú học tập bao gồm cả hứng thú với nội
dung tri thức của môn học và hứng thú đối với hoạt động học tập môn học đó
Hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương cũng vậy Đó là sự hứng thú với hệ
thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của môn học này và hứng thú với các hành động
học tập để lĩnh hội tri thức, hình 'thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với
hệ thống tri thức đó
Từ đó ta có th ể định nghĩa hứng thú học tập môn tám lý học đại cươtig:
Là thái độ đặc biệt của sinh viên đối với những tri thức và những hành động
nhằm tiếp thu tri thức đó của môn tâm lý học đại cương do học sinh nhận
thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của môn học, cũng như khả năng đem lại
cho cá nhãn khoái cảm trong quá trình học tập môn học đó.
m 2 Biểu hiện của hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương
Dựa vào các chỉ tiêu (Biểu hiện) của hứng thú nói chung và hứng thú nhận thức nói riêng, do N.G M arôzôva và các tác giả khác nêu ra, chúng tôi cho rằng:
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 28Hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương biểu hiện ở ba mặt: Nhận thức, tình
cảm và hành vi
- M ặt nhận thức: Muốn có hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương
sinh viên phải hiểu rõ vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của môn học đó đối với
cuộc sống nói chung và hoạt động học tập nói riêng của họ Sinh viên phải thấy
được việc tập môn học này là không thể thiếu trong chương trình đào tạo
- M ặt tình cảnv Mặt này được biểu hiện ở chỗ học sinh luôn có tâm trạng
chờ đón, mong đợi đến giờ để được học môn học đó Họ thích thú với việc học
trên lớp cũng như ở nhà Họ có niềm vui khi tiếp nhận các tri thức tâm lý, họ
phấn khởi, lạc quan trong quá trình nhận thức, thích phát huy sáng tạo hay cải
tiến phương pháp học tập môn học này ở mức độ cao họ luôn tỏ ra say mê với
việc học tập môn tâm lý học đại cương
- M ặt hành vi: Chính vì nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng và có
tình cảm với môn tâm lý học đại cương mà sinh viên có những biểu hiện hành vi
như: Họ tích cực học tập, chủ động dành nhiều thời gian cho việc học môn tâm
lý, đi học đúng giờ và đầy đủ, trong lớp chăm chú nghe giảng, hăng hái phát biểu
ý kiến, ghi chép bài đầy đủ, tích cực sưu tầm những tài liệu có liên quan đến
môn học, hay tranh luận để làm rõ vấn đề, thường xuyên vận dụng những tri thức
của môn tâm lý học đại cương vào việc học tập các môn học khác cũng như việc
tu dưỡng bản thân, trong cuộc sống thực tiễn hàng ngày
Ba mặt trên liên kết chặt chẽ và tương tác lẫn nhau Điều này thể hiện sự thống nhất giữa Nhận thức, tình cảm và hành vi trong cấu trúc nhân cách của cá
nhân Mối liên kết và sự phát triển đồng bộ của nhận thức, tình cảm và hành vi là
cơ sở lý luận để xem xét, đánh giá hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương ở
này việc xem xét, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển
hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương sẽ giúp giảng viên định hướng và tổ
25LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 29chức quá trình tác động để hình thành và phát triển hứng thú học tập cho sinh
viên là một việc làm không thể thiếu Rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng
thú học tập bộ môn đã khẳng định, ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn tâm lý
học đại cương có nhứng nhân tố chủ quan và khách quan
+ Những nhân tố chủ quan: Đó là những yếu tố thuộc về chủ thể nhận thức
- Để có hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương, trước hết sinh viên phải nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của tri thức tâm lý học đại cương
đối với hoạt động học tập và các mối quan hộ xã hội của bản thân hiện nay và
cuộc sống thực trong hoạt động nghề nghiệp sau này
- Ở sinh viên còn xuất hiện những cảm xúc tích cực khi học môn tâm lý đại cương như tâm trạng chờ mong trước giờ học, thái độ thích thú khi gìơ học
diễn ra, và có thái độ hài lòng sau khi học môn tâm lý học đại cương
- Từ đó tính tích cực tự giác học tập và vận dụng tri thức tâm lý học đại cương vào thực tế cuộc sống, tạo ra những trải nghiệm tích cực
sinh Kiến thức chuyên môn của giảng viên sâu sắc ảnh hưởng đến quá trình nhận
thức của sinh viên, kiến thức càng sâu cắc thì càng kích thích tính tích cực, hứng
thú học tập của các em Việc nắm vững và sử dụng có hiệu quả các phương pháp
dạy học giúp cho sinh viên phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo
Ngoài ra, sự mẫu mực về nhân cách, lòng say mê vói ngề nghiệp, hứng thú của người thầy đối với bộ môn cũng góp phần hình thành và phát triển
Trang 30- Điều kiện vật chất cần thiết: Bao gồm tài liệu sách vở phục vụ môn học,
đồ dùng học tập, cơ sở vật chất của nhà trường, phương tiện dạy và học
Điều kiện vật chất không phải là yếu tố cơ bản quyết định hứng thú nhưng nó là
yếu tố cần thiết để học tập có kết quả Nhà trường, lớp học cần phải trang bị đầy
đủ các phương tiện dạy - học để gìơ học có thể tiến hành theo một trình tự có
hiệu quả Cơ sở vật chất đầy đủ sẽ giúp cho các buổi thực hành, thảo luận có
hiệu quả, làm cho sinh viên hứng thú với học tập
- Hoàn cảnh môi trường học tập: Môi trường gia đình, thái độ của gia đình đối với việc học tập của con cái , môi trường xã hội: Thái độ, tình cảm bạn bè,
quan hệ thầy trò, bầu không khí tâm lý tập thể đối với môn học, vị trí môn học
trong xã hội, tác dụng của môn học trong xã hội, sự quan tâm của các cán bộ
lãnh đạo Khoa, nhà trường đối với việc học môn tâm lý học đại cương cũng ảnh
hưởng đến hứng thú học tập của các em
Tóm lai: Hứng thú nhận thức nảy sinh và phát triển dưới ảnh hưởng qua
lại của một tổ hợp những yếu tố bên ngoài và bên trong Do vậy muốn hình
thành và phát triển hứng thú học tập môn tâm lý học cho sinh viên thì phải chú ý
đến các yếu tố bên trong và bên ngoài như đã trình bày ở trên
rv Một số nhận xét bước đầu về việc dạy và học môn tâm lý học đại cương của sinh viên trường ĐHDL Đông Đô.
1 Một số đặc điểm học tập của sinh viên Đại học Dân Lập Đông Đỏ
+ Đặc điểm học tập của sinh viên nói chung
Bản chất hoạt động học tập của sinh viên là đi sâu, tìm hiểu những môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu để nắm được đối
tượng, nhiệm vụ, quy luật của các khoa học đó với mục đích trở thành chuyên
gia về một lĩnh vực nhất định Hoạt động học tập của họ một mặt phải k ế thừa
một cách có hệ thống những thành tựu đã có, mặt khác phải tiếp cận với những
thành tựu của khoa học mới có tính cập nhật, thời sự Và sau đây là một số đặc
điểm học tập của sinh viên:
- Sinh viên học tập nhằm lĩnh hội các tri thức, hệ thống khái niệm khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất cuả người
27LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 31chuyên gia tương lai Hoạt động học tập củahọ vừa gắn kết chặt chẽ với nghiên
cứu khoa học, vừa không tách rời hoạt động nghề nghiệp của người chuyên gia
- Hoạt động học tập của người sinh viên diễn ra một cách có k ế hoạch, có mục đích, nội dung, chương trình, phương tháp đào tạo theo thời gian chặt chẽ
nhưng đồng thời không quá bị khép kín, quá câu nệ mà có tính chất mở rộng khả
năng theo năng lực, sở trường để người học có thể phát huy được tối đa năng lực
nhận thức của mình trong nhiều lĩnh vực
- Phương tiện học tập của sinh viên được mở rộng và phong phú với các
thư viện, phòng đọc, phòng thực nghiệm Với những thiết bị khoa học cần thiết
của ngành đào tạo Do đó phạm vi hoạt động học tập của sinh viên đa dạng vừa
rèn luyện kỹ năng vừa rèn luyện kỹ xảo nghề nghiệp, vừa phát huy việc học nghề
một cách rõ rệt
- Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập, tự chủ, sáng tạo
Hoạt động tư duy của sinh viên trong quá trinh học tập chủ yếu theo hướng phân
tích, diễn giải, chứng minh các định đề khoa học
- Điều rất quan trọng là sinh viên phải tìm ra phương pháp học tập mới
Phương pháp đó phải phù hợp với chuyên ngành mà họ theo đuổi Không tìm ra
phương pháp học tập khoa học, sinh viên không thể có được kết quả học tập tốt
vì khối lượng tri thức, kỹ năng ,kỹ xảo họ phải lĩnh hội trong những năm học ở
Trang 32- Hàng năm điểm đầu vào các trường Đại học dân lập nói chung, Trường
Đại học Dân lập Đông Đô nói riêng thường thấp hơn so với các trường đại học
quốc lập có cùng nhóm ngành Điều này cũng phần nào nói lên hạn chế trong
trình độ nhận thức của các em
- Hơn nữa, đối với các Trường đại học dân lập - một loại hình giáo dục mới ra đời, bề dày thành tích chưa cao, kinh nghiệm chưa nhiều Chính vì thế dư
luận xã hội chưa thực sự ủng hộ Bởi vậy, sinh viên vào học còn có tâm trạng
chưa an tâm, một só em vẫn còn tiếp tục ôn.thi vào các trường đại học khác, cho
nên các em còn sao nhãng trong các giờ học trên lớp, số buổi nghỉ học nhiều hơn
vào giai đoạn gần kỳ thi đại học Việc thu hút các em vào bài giảng trong khi
tâm trạng của các em như vậy quả là một điều không dễ
- Tâm lý của sinh viên học ở các Trường đại học dân lập thường cho rằng mình phải đóng nhiều tiền để học cho nên mình có quyền đòi hỏi, mà các em ít
nghĩ rằng những đòi hỏi của mình có chính đáng hay không Chính vì thế, giáo
viên trong các giờ giảng rất vất vả trong khâu tổ chức lớp (do ý thức học tập của
sinh viên chưa cao)
- Không phải tất cả sinh viên trong trường đại học Dân lập Đông Đô đều học môn tâm lý học đại cương, chỉ có một số khoa (Du lịch, Quản trị kinh
doanh, Thông tin học, ngoại ngữ, Quan hệ quốc tế) học môn này Những Khoa
còn lại (Công nghệ thông tin, Công nghệ môi trường, Điện tử viễn thông, Kiến
trúc, Xây dựng) không học môn tâm lý học đại cương Hơn nữa, môn tâm lý học
đại cương không phải là môn chuyên ngành của các em Chính vì thế sinh viên
có tâm lý chung là học cho đủ điều kiện để còn học tiếp những năm sau và học
để thi cho xong
Tất cả các điểm khác biệt trên đây là một thách thức không nhỏ đối với các giáo viên, nhất là với những người kinh nghiệm còn ít Chính vì vậy trong
quá trình giảng daỵ, các thầy, cô giáo bên cạnh việc chú trọng các nguyên tắc
dạy học khác, giáo viên đã rất chú trọng nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức Làm
th ế nào để vừa đáp ứng yêu cầu truyền đạt đủ nội dung tri thức theo chương
trình, k ế hoạch giảng dạy, nhưng các em phải hiểu bài, từ đó các em sẽ chấp
29LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 33hành kỷ luật học tập tốt hơn, trên cơ sở đó giáo viên mới có thể phát huy tính
tích cực, độc lập của sinh viên
2 Những nhận xét bước đầu về dạy và học môn tâm lý học đại cương ở trường đại học Dân lập Đòng Đò
- Về cách soạn giáo án: Giảng viên thường không phân biệt đề cương bài giảng và giáo án, coi giáo án chính là đề cương bài giảng được tóm tắt lại Thực
chất thì, đề cương bài giảng là văn bản chủ yếu đề cập đến nội dung những tri
thức (lôgíc khoa học của tri thức) sẽ lần lượt trinh bày trong một đơn vị thời gian
nhất định Trong khi đó giáo án lên lơp giảng dạy tâm lý học đại cương của giáo
viên là văn bản trong đó ghi rõ kế hoạch chi tiết được giảng viên sử dụng để tổ
chức, hướng dẫn, điều khiển, điều chỉnh hành động học của sinh viên giúp họ tự
giành lấy tri thức mà giáo viên muốn truyền thụ cho họ trong một thời gian nhất
định Nói cách khác, giáo án lên lớp là một văn bản trình bày lôgíc sư phạm để
chuyển tải lôgíc khoa học của một đơn vị tri thức nhất định nào đó đến người
học, biến chúng thành tài sản riêng của người học
- Về phương pháp giảng dạy các tri thức lý luận: Nhìn chung, việc giảng dạy môn tâm lý học đại cương ở Trường đại học Dân lập Đông Đô cũng giống
như ở đa số các Trường đại học khác, về cơ bản vẫn sử dụng phương pháp thông
báo tái hiện truyền thống ở dạng nguyên mẫu của nó Trong bài giảng của mình,
những giảng viên này vẫn lấy việc truyền thụ tri thức một chiều theo kiểu áp đặt
là chủ yếu Họ biến sinh viên thành cái máy chỉ biết nghe và ghi những chân lý
đã được chế biến sẵn một cách thụ động, để tái hiện lại trong các bài kiểm tra và
thi một cách máy móc Cách dạy và học tâm lý học đại cương như vậy làm cho
việc tiếp thu tri thức tâm lý học của sinh viên hoàn toàn mang tính hình thức
không có khả năng vận dụng một cách sinh động vào việc học tập có kết quả các
môn học khác và vào việc giải quyết thành công những tình huống phức tạp
trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ mà hàng ngày sinh viên tham gia vào như
một thành viên Chính vì vậy, những háo hức ban đầu đối vói việc học môn tâm
lý học đại cương đã có ở đại đa số sinh viên dần dần bị biến mất, thay vào đó là
sự chán nản, là ý thức nghĩa vụ của một sinh viên phải tham gia đủ các bài giảng
ở trên lớp Hiệu quả dạy - học tâm lý học đại cương do đó trở nên rất hạn hẹp
Trang 34- v ề việc tổ chức các hình thức thực hành: Trong phân phối chương trình
môn tâm lý học đại cương chỉ có 45 tiết lý thuyết, không có tiết thực hành, bài
tập, ôn tập Cho nên giáo viên ít có điều kiện hướng dẫn sinh viên vận dụng tri
thức đã học vào giả quyết các bài tập thực hành, các buổi thảo luận tâm lý học
Tổ bộ môn cũng chưa một lần tổ chức hội thảo về việc vận dụng tri thức tâm lý
học đại cương vào việc học tập các môn học khác và vào việc tổ chức cuộc sống
tập thể của sinh viên
- Về hình thức kiểm tra, đánh giá tri thức: thông thường các đề thi hết môn tâm lý học đại cương, giáo viên thường nêu các câu hỏi nhằm kiểm tra trí nhớ
của sinh viên là chính, ít kiểm tra, đánh giá khả năng vận dụng tri thức của sinh
viên vào giả quyết các bài tập thực hành tâm lý học và sử lý các tình huống trong
cuộc sống Điều này tạo cho sinh viên một thói quen học thuộc lòng những điều
thầy cho ghi mà không sáng tạo
Từ những nhận xét trên đây, chúng tôi đã đề xuất thử nghiệm tác động sư
phạm với giả thuyết của đề tài: “nếu trong quá trình giảng dạy giảng viên biết tổ
chức hành động học của sinh viên một cách hợp lý khi giảng bài bằng một hệ
thống câu hỏi, qua đó sinh viên có thể tự khám phá ra bản chất của tri thức đang
tiếp thu, thì sẽ kích thích được thái độ tích cực của các em đối với việc học môn
tâm lý học đại cương”
31LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 35TỔ CHỨC NGHIÊN CÚXJ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ú u
I Tổ chức nghiên cứu
Đề tài này được bắt đầu từ tháng 4/2004 với các bược như sau:
- Từ tháng 5/2004 đến tháng 9/2004 nghiên cứu tài liệu, văn bản để hoàn thành cơ sở lý luận của đề tài
- Từ tháng 6/2005 đến tháng 7/2005, Soạn giáo án thực nghiệm
- Từ tháng 01/8/2005 đến tháng 01/9/2005, Giảng tại lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, sau đó tiến hành điều tra sau thực nghiệm
- Từ tháng 02/9/2004 đến tháng 02/10/2004, sử lý kết quả sau thực nghiệm
- Từ tháng 3/10/2005 đến tháng 17/10/2005, hoàn tất luận văn, viết báo cáo tóm tắt
n Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
II.1 Phương pháp điều tra viết: (phương pháp chính)
+ Mục đích: Nhằm tìm hiểu thực trạng thứng thú học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên Để thực hiện mục đích này chúng tôi đưa ra các câu hỏi
nhằm tìm hiểu:
- Nhận thức của sinh viên về môn học
- Thái độ của sinh viên đối với môn học tâm lý học đại cương
- Hành động tích cực của học sinh nhằm tiếp thu tri thức tâm lý
Để thực hiện mục đích trên chúng tôi sử dụng phiếu điều tra viết với hệ
thống câu hỏi được xây dựng trên cơ sở tham khảo các công trình nghiên cứu đi
trước, nhằm phát hiện thực trạng hứng thú của sinh viên trường ĐHDL Đông Đô
với môn tâm lý học đại cương
+ Yêu cầu xây dựng phiếu điều tra:
Trang 36- Bảng điều tra gồm các câu có sự ràng buộc lẫn nhau để nhằm loại bỏ câu trả lời không trung thực Nhờ vậy, kết quả điều tra thu được khách quan hơn.
- Nội dung câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với trình độ của sinh viên đối với môn học
- Bảng câu hỏi điều tra phải phát hiện được hai phần: Thực trạng hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương và nguyên nhân gây ra thực trạng đó
+ trình tự tiến hành phương pháp điều tra:
- Tiến hành điều tra viết trên lớp trong khoảng thời gian 60 phút
- Sau khi phổ biến cho sinh viên mục đích, yêu cầu của việc nghiên cứu, tiến hành phát phiếu điều tra và hướng dẫn sinh viên trả lời câu hỏi trong phiếu
- Sau khi sinh viên trả lời xong, tiến hành thu phiếu điều tra số phiếu thu
về và số phiéu phát ra
II.2 Phương pháp quan sát:
+ Mục đích: Nhằm bổ sung thêm dữ kiện để giải quyết nhiệm vụ của đề tài một cách tốt hơn trên cơ sở quan sát việc giảng dạy của giáo viên và quan hệ giữa
giáo viên và sinh viên trong giờ học, cũng như thái độ của sinh viên trong giờ học
+ Đối tượng quan sát: là những hành vi, cử chỉ, thái độ của học sinh trong giờ môn tâm lý học đại cương, những biểu hiện hứng thú của sinh viên
+ Nhiệm vụ quan sát: Chủ yếu quan sát ở các khía cạnh sau:
- Chú ý nghe giảng
- Có cảm xúc với bài giảng
- Tích cực suy nghĩ, hăng hái phát biểu ý kiến khi giáo viên đưa ra tình huống
+ Yêu cầu khi tiến hành quan sát: Cụ thể chúng tôi quan sát những biểu hiện hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương qua các hành vi:
Đi học đầy đủ, tác phong nghiêm túc, tập trung chý ý nghe giảng, đồng cảm với bài giảng của giáo viên (nhíu mày, gật gù, mắt không rời thầy giáo), tích
cực phát biểu ý kiến xây dựng bài, hỏi lại kiến thức đã học đều trả lời được
Hoặc các hành vi: Hay bỏ giờ, trong giờ hay làm việc riêng hoặc nói chuyện riêng, ngủ gật, gục đầu xuống bàn,tác phong mệt mỏi, hay chú ý ra ngoài khi có
kích thích mói lạ, hay nhìn đồng hồ, chép bài không đầy đủ, không chịu phát biểu ý
kiến, nếu giáo viên đề nghị dúng dậy thường không trả lời được câu hỏi
o33
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 3711.3 Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn + Mục đích: Nhằm hiểu thêm về thực trạng hứng thú cũng như nguyên
ìhân gây ra hoặc làm mất hứng thú
+ Đối tượng phỏng vấn: Giáo viên giảng dạy tâm lý và sinh viên+ Nội dung trò chuyện: Dựa theo một số câu hỏi sau
a Đôi với sinh viên:
Câul: Trong các môn đã học, em xếp mức độ yêu thích môn tâm lý học đại cương vào thứ mấy?
Câu 2: Trong các môn đã học, em hài lòng với môn nào nhất? Tại sao?
Câu 3: Vì sao em thích (không thích) học môn tâm lý học đại cương?
Câu 4: Đối với việc học môn tâm lý học đại cương, bạn muốn đề nghị những gì?
Đối với giáo viên:
Câu 1: Theo thầy/ cô tâm trạng của phần lớn sinh viên học môn tâm lý học đại cương như thế nào?
Câu 2: Xin thầy/ cô đánh giá về những biểu hiện của sinh viên trong giờ học môn tâm lý học đại cương?
Câu 3: Xin thầy/ cô cho biết về trang, thiết bị dạy học môn tâm lý học đại cương của Trường đại học Dân Lập Đông Đô như thế nào?
+ Yêu cầu khi trò truyện phỏng vấn: Thật tế nhị, gây được tình cảm đối với người trò chuyện, phải nắm bắt được những biểu hiện thái độ của đối tượng
đối vói môn học thông qua nội dung câu trả lời, qua thái độ, biểu hiện tâm lý
trong quá trình trò chuyện
11.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
+ Mục đích: Nhằm giải quyết một phần trong việc phát hiện thái độ, trình
độ, khả năng học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên
+ Sản phẩm cần nghiên cứu là: Vở ghi, sổ theo dõi chuyên cần, kết quả thi
của sinh viên:
- Đã nghiên cứu 115 cuốn vở ghi tâm lý học đại cương của sinh viên
(trong đó 55 cuốn ở lóp đối chứng và 60 cuốn ở lớp thực nghiệm) Kết quả ở lớp
Trang 3811.3 Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn + Mục đích: Nhằm hiểu thêm về thực trạng hứng thú cũng như nguyên
nhân gây ra hoặc làm mất hứng thú
+ Đối tượng phỏng vấn: Giáo viên giảng dạy tâm lý và sinh viên+ Nội dung trò chuyện: Dựa theo một số câu hỏi sau
a Đôi với sinh viên:
Câul: Trong các môn đã học, em xếp mức độ yêu thích môn tâm lý học đại cương vào thứ mấy?
Câu 2: Trong các môn đã học, em hài lòng với môn nào nhất? Tại sao?
Câu 3: Vì sao em thích (không thích) học môn tâm lý học đại cương?
Câu 4: Đối với việc học môn tâm lý học đại cương, bạn muốn đề nghị những gì?
Đôi với giáo viên:
Câu 1: Theo thầy/ cô tâm trạng của phần lớn sinh viên học môn tâm lý học đại cương như thế nào?
Câu 2: Xin thầy/ cô đánh giá về những biểu hiện của sinh viên trong giờ học môn tâm lý học đại cương?
Câu 3: Xin thầy/ cô cho biết về trang, thiết bị dạy học môn tâm lý học đại cương của Trường đại học Dân Lập Đông Đô như thế nào?
+ Yêu cầu khi trò truyện phỏng vấn: Thật tế nhị, gây được tình cảm đối với người trò chuyện, phải nắm bắt được những biểu hiện thái độ của đối tượng
đối với môn học thông qua nội dung câu trả lời, qua thái độ, biểu hiện tâm lý
trong quá trình trò chuyện
11.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
+ Mục đích: Nhằm giải quyết một phần trong việc phát hiện thái độ, trình
độ, khả năng học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên
+ Sản phẩm cần nghiên cứu là: v ở ghi, sổ theo dõi chuyên cần, kết quả thi của sinh viên:
- Đã nghiên cứu 115 cuốn vở ghi tâm lý học đại cương của sinh viên (trong đó 55 cuốn ở lớp đối chứng và 60 cuốn ở lớp thực nghiệm) Kết quả ở lớp
34LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 39đối chứng có khoảng 79% sinh viên, tương đương 44 sinh viên ghi chép bài đầy
đủ, lớp thực nghiệm có 52 sinh viên, chiếm 87%
- Theo dõi chuyên cần: Qua nghiên cứu sổ điểm danh, chúng tôi thấy: Lớp đối chứng có 29.3% sinh viên nghỉ học Trong đó có 16% số sinh viên nghỉ từ 1
đến 2 buổi Có 7.9% sinh viên nghỉ 3 buổi (không được thi);Lớp thực nghiệm có
8% sinh viên nghỉ học, trong đó không có em nào bị cấm thi vòng 1
- Kết quả điểm thi môn tâm lý học đại cương:
* Điểm khá- giỏi: Lớp thực nghiêm 60%, lớp đối chứng 22%
* Điểm trung bình: Lớp thực nghiêm 36.7%, lớp đối chứng 60%
* Điểm kém: Lớp thực nghiêm 3.3%, lớp đối chứng 18%
II.5 Phương pháp thực nghiệm tác động sư phạm.
Căn cứ vào quan điểm của các nhà tâm lý học như A.GCôvaliôp, G.I
Sukina, I.P.Tơrêphilôp và chủ yếu quan điểm của N.GMarôzôva về vấn đề kích
thích hứng thú nhận thức nói chung, hứng thú học tập nói riêng cho sinh viên và
xuất phát từ nhận định: “Hứng thú học tập được hình thành chủ yếu do nội dung,
phương pháp dạy học M uốn hình thành và nâng cao hứng thú cho học sinh thì
phải tác động vào phương pháp dạy học” Song như chúng tôi đã trình bày trong
giới hạn phạm vi nghiên cứu, do thời gian làm luận văn có hạn, chúng tôi chỉ tiến
hành thử nghiệm một biện pháp về phía giáo viên - cải tiến phương pháp giảng
bài mới của thầy (Tăng cường đàm thoại) nhằm thúc đẩy hoạt động nhận thức
của học sinh trên lớp Hệ thống bài giảng đã được biên soạn và tổ chức giảng dạy
nhằm tổ chức hành động học của sinh viên thông qua đó kích thích thái độ tích
cực của các em đối với môn học
+ Mục đích thực nghiệm: Nâng cao tính tích cực học tập của sinh viên trong các giờ giảng lý thuyết, qua đó góp phần cải thiện hứng thú học tập môn
tâm lý học đại cương của sinh viên
+ Giả thuyết thực nghiệm: Nếu giáo viên biết tổ chức hành động học của sinh viên một cách hợp lý khi giảng bài, thì sẽ kích thích được thái độ tích cực
của các em đối với môn tâm lý học đại cương
Trang 40+ Chọn nội dung thực nghiệm: Vì khách thể là sinh viên của Trường Đại học Dân Lập Đông Đô, trình độ còn chưa cao, các em lại là sinh viên năm thứ
nhất chưa có kinh nghiệm trong học tập, cho nên chúng tôi chọn những nội dung
không quá khó, tương đối dễ hiểu phù hợp với trình độ của các em, để các em có
thể tham gia thảo luận các câu hỏi của giáo viên, giáo viên chỉ là người hướng
dẫn và kết luận vấn đề đó Cụ thể:
+ Soạn giáo án: Chúng tôi tiến hành soạn giảng các khái niệm của các bài:
Cảm giác và tri giác; Tư duy và tưởng_tượng; Tình cảm
+ Chuẩn bị mẫu biên bản ghi chép diễn biến giờ dạy+ Hình thành lớp thực nghiệm và lớp đối chứng: Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Chúng tôi chọn sinh viên khoa ngoại ngữ làm lớp thực nghiệm
Sinh viên khoa Du lịch làm lớp đối chứng Lớp thực nghiệm có 60 sinh viên, lớp
đối chứng có 55 sinh viên Học sinh ở cả 2 lớp này có học lực, hạnh kiểm, thái độ,
thời gian tham gia vào các phong trào tập thể tương đương nhau
+ Tiến hành giảng dạy ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Như đã nói ở trên, ở lớp thực nghiêm, chúng tôi chỉ thay đổi một chút ít trong phương pháp soạn giảng của giáo viên, giữ nguyên nội dung, chương trình
giảng dạy, tài liệu học tập của sinh viên
Ở lớp đối chứng giáo viên tiến hành giảng dạy theo phương pháp truyền thống (thuyết trình) là chủ yếu, trong khi ở lớp thực nghiệm giáo viên sử dụng
cách dạy hướng dẫn và tăng cường đàm thoại với sinh viên trên lớp là chính
+ Điều tra sau thực nghiệm ở hai lớp thực nghiệm và đối chứng
11.6 Phương pháp thống kê toán học.
Để khẳng định tính khách quan của kết quả nghiên cứu, chúng tôi sử dụng toán thống kê kiểm tra các số liệu nghiên cứu được Trên cơ sở đó chúng tôi có
căn cứ để nhận xét kết quả khách quan hơn.Chúng tôi đã sử dụng các phương
pháp sau:
+ Phương pháp kiểm định (so sánh) hai tỷ lệ của 2 tập
36LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com