LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bản luận văn “ Vai trò của Đài phát thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội” này là công trình nghiên cứu của ri
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn “ Vai trò của Đài phát thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội” này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sổ liệu đƣợc sử dụng trung thwucj và kết quả nêu trong luận văn này chƣa từng đƣợc công bố tại bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Đặng Đình Sáng
Trang 4LƠI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin dành những tình cảm trân trọng nhất đến PGS.TS Đinh Văn Hường, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường và Viện đào tạo báo chí và truyền thông trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn, xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo đã quan tâm, nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên Đài Phát thanh và truyền hình Hà Nội, Trung tâm văn hóa thể thao
và truyền thông các huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức, Sóc Sơn đã hướng dẫn, giúp
đỡ và cung cấp số liệu để tôi hoàn thành luận văn này Mặc dù tác giả đã rất
cố gắng tìm hiểu, nghiêm cứu để có thể hoàn thành nội dung đề tài một cách tốt nhất Song, công tình luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Chính vì vậy rất mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và bạn bè để tôi tiếp tục hoàn thiện tốt hơn nữa đề tài luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2019
Tác giả
Đặng Đình Sáng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LƠI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài 10
7 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA ĐÀI PHÁT THANH CƠ SỞ TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI 12
1.1 Các khái niệm cơ bản 12
1.2 Đặc điểm và vai trò của hệ thống Đài Phát thanh, truyền thanh cơ sở 18
1.3 Cơ sở chính trị và pháp lý vai trò của đài phát thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội 25
1.4 Những yêu cầu đối với truyền thông về chính sách đất đai trên hệ thống Đài Phát thanh cơ sở 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI TRÊN HỆ THỐNG ĐÀI PHÁT THANH CƠ SỞ Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI 39
2.1 Vài nét về hệ thống Đài Phát thanh cơ sở ở ngoại thành Hà Nội 39
2.2 Khảo sát vấn đề vai trò của đài phát thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội được lựa chọn 52
Trang 62.3 Đánh giá kết quả khảo sát vấn đề vai trò của đài phát thanh cơ sở trong truyền
thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội được lựa chọn 70
2.4 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến vai trò của đài phát thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội 74
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG CỦA ĐÀI PHÁT THANH CƠ SỞ TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY VÀ TIẾP THEO 76
3.1 Một số vấn đề đặt ra 76
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách đất đai trên hệ thống Đài Phát thanh cơ sở nói chung, ở ngoại thành Hà Nội nói riêng 81
3.3 Một số khuyến nghị cụ thể 86
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ Tiếng Việt
1 BCH Ban chỉ huy
2 PTTH Phát thanh truyền hình
3 TNVN Tiếng nói Việt Nam
4 UBND Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Dữ liệu khảo sát về chủ thể truyền thông chính sách đất đai 53
Bảng 2.2: Ý kiến công chúng xếp loại trung bình hoặc yếu chương trình phát thanh chính sách đất đai của các đài phát thanh tại các huyện ngoại thành Hà Nội 54
Bảng 2.3: Đánh giá của công chúng các huyện ngoại thành Hà Nội về tính hợp lý của lịch phát sóng chương trình phát thanh liên quan đến chính sách đât đai 56
Bảng 2.4: Dữ liệu khảo sát về thông điệp truyền thông chính sách đất đai 57
Bảng 2.5: Dữ liệu khảo sát về kênh sử dụng để truyền thông chính sách đất đai 58
Bảng 2.6: Dữ liệu khảo sát về công chúng tiếp nhận thông tin về chính sách đất đai 59
Bảng 2.7: Dữ liệu khảo sát về các yếu tố như: nhiễu, phản hồi, hiệu quả, hiệu lực truyền thông 60
Bảng 2.8: Ý kiến công chúng đánh giá về chất lượng chương trình phát thanh về chính sách đất đai của các đài phát thanh cơ sở tại các huyện ngoại thành Hà Nội 61
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Đánh giá của công chúng về tính hợp lý của lịch phát sóng chương trình phát thanh liên quan đến chính sách đât đai 56 Hình 2.2: Ý kiến đánh giá của công chúng về kênh sử dụng để truyền thông chính sách đất đai 59 Hình 2.3: Ý kiến đánh giá của công chúng về các yếu tố như: nhiễu, phản hồi, hiệu quả, hiệu lực truyền thông 60
Trang 10Truyền thông về chính sách đất đai hiện nay là vấn đề nóng, là tâm điểm chú ý của xã hội Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách liên quan đến đất đai nhưng do người dân chưa hiểu được nên ở nhiều nơi, nhiều địa phương, đặc biệt là các huyện ngoại thành Hà Nội thì những vấn đề liên quan đến đất đai lại càng nóng hơn bao giờ hết Có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do khâu truyền thông chưa tốt, người dân chưa nhận thức được những chính sách liên quan đến đất đai nên việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, các vi phạm, tranh chấp về đất đai vẫn còn diễn ra ở nhiều địa phương Không thể phủ nhận tầm quan trọng của phát thanh cơ sở ở trong thời kỳ chiến tranh cũng như giá trị phát thanh ở cấp cơ sở ở miền núi, hải
Trang 11đảo, vùng sâu vùng xa Hiện nay hệ thống Đài Phát thanh cơ sở có từ trung ương đến địa phương đã phát huy hiệu quả tích cực truyền thông đến người dân những chính sách của đảng và nhà nước nhất là những lĩnh vực liên quan đến đất đai Một trong những thế mạnh của hệ thống Đài Phát thanh ở cơ sở là tác động nhanh, hiệu quả cao đến đông đảo người dân Sức hấp dẫn của hệ thống loa phát thanh ở cơ sở chính là ở là sự thân mật, gần gũi với mỗi người dân, không phân biệt lứa tuổi, đối tượng Hệ thống Đài Phát thanh cơ sở không chỉ quan tâm đến việc đem lại cho công chúng những thông tin nóng hổi, bổ ích, gần gũi với cuộc sống thường ngày, mà còn bổ sung, giải đáp những thông tin pháp luật bổ ích Hệ thống Đài Phát thanh ở cơ sở đang ngày một được nâng cấp, không ngừng cải tiến về hình thức và nội dung nhằm truyền tải những thông tin pháp luật thời sự tới đông đảo quần chúng nhân dân Bên cạnh việc cập nhật các thông tin về kinh tế, xã hội, văn hóa, đời sống ở địa phương thì mảng tuyên truyền, phổ biến về pháp luật luôn được quan tâm hàng đầu Đặc biệt những thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của chính quyền địa phương liên quan đến đất đai thường xuyên được cập nhật và chuyển tải kịp thời đến bà con các thôn trong xã Hình thức tuyên truyền pháp luật qua hệ thống phát thanh cơ sở có nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, có ý nghĩa liên quan thiết thực với quyền lợi, nghĩa vụ của người dân Đặc biệt ở các huyện ngoại thành Hà Nội, các vấn đề liên quan đến đất đai lại càng nóng hơn bao giờ hết Điển hình như trong năm 2017, các vụ việc liên quan đến đất đai ở Sân bay Miếu Môn (nằm trên địa giới xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức); Những sai phạm về đất đai tại xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ ; Sai phạm trong dồn điền đổi thửa ở xã Hoàng Văn Thụ, Thanh Bình ( huyện Chương Mỹ); Hợp đồng thuê đất giữa Công ty Vương Thịnh với UBND xã Phú Minh ( huyện Sóc Sơn) cho thuê 3.666 m2 đất với giá chỉ 1.200 đồng/ m2/ năm với
Trang 12thời hạn là 5 năm từ ngày 15/11/2014 đến 15/11/2019 Mục đích sử dụng vào việc trồng cây và chăn nuôi.nhưng hơn 1/3 phần diện tích đất trên được Công
ty sử dụng sai mục đích khi ngang nhiên xây dựng nhà xưởng kiên cố phục vụ kinh doanh; Nhiều diện tích đất công cộng do UBND xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn (Hà Nội) quản lý đã bị một số người sử dụng, lấn chiếm, biến tướng thành cửa hàng, nhà hàng, bãi xe nhưng chưa được các cấp chính quyền sở tại
xử lý đến nơi đến chốn…Đều là những thông tin nóng hổi được đông đảo công chúng quan tâm
Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn về truyền thông những chính sách liên quan đến đất đai, tôi chọn nghiên cứu vấn đề “ Vai trò của đài phát thanh cơ
sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội”
Khảo sát các Đài Phát thanh Mỹ Đức, Chương Mỹ, Sóc Sơn năm 2016-2017 Vai trò của Đài phát thanh cơ sở cần được nghiên cứu về những vấn đề như:
Truyền thông nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật liên quan đến đất đai; Quan tâm đội ngũ phát thanh cơ sở, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật; xây dựng tốt thông điệp truyền thông gồm (nội dung thông điệp, hình thức thông điệp, kênh truyền dẫn) Đồng thời đề xuất những giải pháp về máy móc, nội dung, hình thức chuyển tải, con người để truyền thông chính sách đất đai được tốt hơn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước
Một số tác phẩm được dịch sang tiếng Việt như: “Hướng dẫn sản xuất
chương trình phát thanh” của tác giả Lois Baird, Trường Phát thanh Truyền
hình và Điện ảnh Ôxtrâylia (Tài liệu tham khảo nội bộ Đài Tiếng nói Việt
Nam)
Trang 13“Phát thanh truyền thống và phát thanh trực tiếp” của tác giả Carl
Defoy đăng trên Nội san Nghiệp vụ phát thanh, Đài Tiếng nói Việt Nam (đài TNVN), số 2
Chuyên luận “Các thể loại báo chí Phát thanh” của tác giả người Nga
V.V Xmirnôp được Nhà xuất bản Thông tấn dịch và phát hành năm 2004
2.1.2.Những nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về “ Vai trò của đài phát thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội” là một vấn đề có tính cấp bách Song ở nước ta hiện nay những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này còn chưa được đề cập tới thường xuyên và đối với thực tiễn xã hội đặt ra Mặc
dù vậy, đã có những công trình nghiên cứu sau:
Thứ nhất là các sách tham khảo, giáo trình có nội dung liên quan đến vấn đề truyền thông chính sách đất đai thông qua hệ thống phát thanh ở cơ sở
Giáo trình Báo phát thanh do tập thể tác giả ở Phân viện Báo chí và Truyên truyền và Đài TNVN viết (do Nhà xuất bản Văn hóa- Thông tin ấn hành năm 2002) có 7 chương, đề cập một cách khá toàn diện về những vấn đề của phát thanh Việt Nam hiện đại
Trong giáo trình của Marray Masterton và Roger Patching hợp tác với Đài TNVN, tựa đề Cẩm nang báo chí phát thanh “Sau đây là bản tin chi tiết”, xuất bản năm 2001, đã nhấn mạnh về vị trí, vai trò của tờ báo nói ở địa phương, cơ sở: “Radio là tiếng nói của thành phố hôm nay, cho những người
có quan tâm biết về những gì xảy ra trong thế giới của họ khi họ muốn” [41, tr.25]
Cuốn sách “Nghề báo nói” của tác giả Nguyễn Đình Lương, do Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin in và phát hành năm 1993
Giáo trình “Báo chí phát thanh” do các tác giả của Khoa Báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền cùng Đài TNVN biên soạn (Nxb Văn hóa -
Trang 14Thông tin, Hà Nội, 2002) Giáo trình này tập trung nghiên cứu các lý thuyết , đặc điểm, vai trò liên quan đến báo chí phát thanh
Chuyên luận “Lý luận báo Phát thanh” của tác giả Đức Dũng, do Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin in và phát hành năm 2003, bao gồm 9 chương, trong đó đề cập đến các vấn đề đặc trưng loại hình và các thể loại báo phát thanh
Tài liệu “Phát thanh-Truyền thanh nông thôn” do Ban Địa phương, Đài TNVN dịch và lưu hành nội bộ, tái bản năm 2005 Tài liệu này đã trình bày rõ các chuyên mục phát thanh, truyền thanh, các chương trình thời sự tại các vùng nông thôn trên cả nước, đồng thời cũng đưa ra các chính sách, quy định của nhà nước về các chính sách đất đai, trồng cây, vv để người dân nắm rõ
Giáo trình “Phát thanh trực tiếp” do tác giả Vũ Văn Hiền và PGS.TS Đức Dũng chủ biên, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị in và phát hành năm
2007 Tác giả đưa ra các cơ sở lý luận về phát thanh trực tiếp, đồng thời cũng chỉ ra quy trình, hướng dẫn, phương pháp giúp những cán bộ trong nghề phát thanh áp dụng hình thức phát thanh trực tiếp tại đài truyền thanh một cách hiệu quả hơn
Sách chuyên luận “ Sáng tạo tác phẩm báo chí của tác giả Đức Dũng (2002, Nhà xuất bản Văn hóa – thông tin ấn hành” có chương 2 đề cập đến vấn đề “ Nói và viết cho phát thanh, truyền hình”
Thứ hai, là các Luận văn, bài viết, tham luận trong tạp chí người làm báo, hội thảo khoa học về phóng sự truyền hình
Luận văn Thạc sĩ truyền thông đại chúng của Phạm Thị Thanh Phương (thực hiện năm 2008 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) có tiêu đề: “Hệ thống phát thanh, truyền hình các tỉnh miền Đông Nam bộ (khảo sát từ tháng 1/2007 đến tháng 6/2008)” Luận văn này tập trung phản ánh về thực trạng phát triển của các Đài PTTH địa phương trong khu vực Đông Nam bộ Tác
Trang 15giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động, đáp ứng yêu cầu về thông tin, tuyên truyền, giải trí của công chúng trong bối cảnh mới
Luận văn Thạc sĩ ngành Báo chí học của Nguyễn Thị Phước (thực hiện năm 2010, tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) với tiêu đề:
“Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh Miền Tây Nam Bộ - thực trạng và giải pháp phát triển (dựa trên tư liệu khảo sát ở Vĩnh Long và
An Giang)” Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn để làm cơ sở xem xét mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở dưới góc độ một phương tiện truyền thông đại chúng với những đặc trưng riêng phù hợp với địa bàn nông thôn ở miền Tây Nam Bộ Trong luận văn này, tác giả đã khảo sát lấy mẫu ở hai tỉnh Vĩnh Long và An Giang, phân tích những nguyên nhân chủ yếu gây ra hạn chế của Phát thanh, truyền thanh cơ sở; đề xuất một số khuyến nghị những giải pháp nhằm phát triển mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ
Cùng nghiên cứu về hệ thống truyền thanh cơ sở có Luận văn Thạc sĩ Báo chí học của Nguyễn Thanh Lâm (bảo vệ năm 2014, tại Học viện Báo chí
và Tuyên truyền) có tiêu đề: “Hoàn thiện mô hình tổ chức họat động mạng lưới truyền thanh cơ sở các huyện ven biển tỉnh Bến Tre”
Luận văn Thạc sĩ Báo chí học của Huỳnh Thiện Tài (bảo vệ năm 2014, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) với tiêu đề: “Hệ thống truyền thanh cơ
sở của tỉnh Bến Tre - Thực trạng và giải pháp phát triển” Trong luận văn này, tác giả đưa ra các cơ sở lý luận liên quan đến truyền thanh, tiếp theo phân tích thực trạng hệ thống truyền thanh cơ sở của tỉnh Bến Tre, cụ thể: kỹ năng nắm bắt vấn đề của phát thanh viên đang còn yếu, đài chưa đầu tư các trang thiết bị,vv Từ đó, tác giả cũng đề xuất các giải pháp như: đưa ra các chương trình
Trang 16đào tạo, bồi dưỡng nhân viên, đề xuất đầu tư hơn nữa các trang thiết bị phát thanh,vv nhằm nâng cao hiệu quả phát thanh tại đài phát thanh Bến Tre
Luận văn thạc sĩ Báo chí học của Kiều Thanh Nhàn ( bảo vệ năm 2015, Học viện Báo chí và Tuyên truyền) có tiêu đề: “Hệ thống Đài truyền thanh cấp huyện tỉnh Cà Mau hiện nay: Thực trạng và giải pháp phát triển” Tác giả
đã trình bày các lý thuyết về truyền thanh, đồng thời nêu ra được thực trạng của đài truyền thanh cấp huyện tỉnh Cà Mau (chương trình phát thanh chưa đa dạng, nội dung phát thanh chưa chuyên sâu, thời lượng chương trình giải trí đang ít,vv), cuối cùng tác giả cũng đưa ra các giải pháp như: đa dạng há các chương trình phát thanh, cần tuyển những nhân viên làm báo và phát thanh có kinh nghiệm , năng lực để mang đến cho khan thính giả những mảng truyền thông hay và ý nghĩa
Tác giả Dương Thị Thanh Thúy (2005, Học viện báo chí và tuyên truyền có tiêu đề:” Tổ chức sản xuất chương trình thời sự truyền hình ở Đài Phát thanh và truyền hình Đồng Tháp” Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đưa ra các chuyên mục thời sự thường phát trên sóng truyề hình, đưa ra thực trạng và giải pháp để nâng cao giúp cho việc sản xuất các chương trình thời
sự truyền hình được hiệu quả hơn
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Cẩm Nam (2005, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội) với đề tài: “ Tác động của văn hóa bản địa Nam Bộ trong công tác tổ chức và tiếp nhận chương trình thời sự, văn hóa – xã hội trên các Đài truyền hình Nam Bộ (2001-2006)
PGS.TS Vũ Quang Hào, giảng viên khoa Báo chí - Đại học Khoa học
và Xã hội Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) - người đã có nhiều năm nghiên cứu về phát thanh khẳng định: Phát thanh vẫn luôn có vai trò quan trọng và rất phù hợp trong giai đoạn hiện nay bởi loại hình báo chí này có những đặc trưng riêng và vẫn có những thính giả trông đợi thông tin từ nó
Trang 17PGS.TS Vũ Quang Hào giải thích: Ngoài việc đưa thông tin, phát thanh có ưu thế riêng và có sức mạnh rất lớn khi tham gia vào việc xử lý các khủng hoảng đặc biệt, các tình huống khẩn cấp như thiên tai, tai nạn, cháy nổ, tụ tập đám đông “Phát thanh trong xã hội hiện đại đang có cơ hội để phát triển khi thính giả có thể nghe phát thanh mọi lúc mọi nơi, kể cả khi đang di chuyển trên xe hơi, tàu hỏa, tàu biển Đặc biệt, nhờ có công nghệ phát triển mà giờ đây, ngoài các thiết bị phát thanh truyền thống, thính giả có thể nghe phát thanh qua Internet, điện thoại di động, laptop…Và họ không nhất thiết phải nghe đúng giờ phát mà có thể nghe lại các chương trình họ ưa thích bất cứ lúc nào”
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều liên quan đến thể loại phát thanh ở cơ sở Tuy nhiên, việc phân tích, đánh giá việc tuyên truyền về pháp luật đặc biệt là chính sách đất đai mới chỉ đề cập thoáng qua Tuy nhiên, tác giả sẽ kế thừa, tiếp thu kiến thức có được từ các bài viết, công trình nghiên cứu kể trên và qua trực tiếp làm nghề phân tích, đúc kết thành hệ thống lý luận và thực tiễn, góp phần có thêm kênh thông tin để những ai quan tâm đến truyền thông chính sách đất đai thông qua hệ thống đài phát thanh cơ sở ở ngoại thành Hà Nội để có thêm nguồn tư liệu để nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn nghề nghiệp
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khung lý thuyết liên quan, luận văn sẽ khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng truyền thông chính sách đất đai được chuyển tải trên hệ thống Đài Phát thanh cơ sở ở các huyện ngoại thành Hà Nội, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả việc sử dụng hệ thống này để truyền thông về chính sách đất đai góp phần nâng cao nhận thức và hành động đúng cho người dân
Trang 183.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích, tác giả xác định những nhiệm vụ nghiên cứu
sau:
- Làm rõ khái niệm về vai trò hệ thống phát thanh cơ sở, các cơ sở lý thuyết, phương pháp luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu về truyền thông các chính sách liên quan đến đất đai
- Khảo sát, phân tích, đánh giá, làm rõ được thực trạng hệ thống phát thanh ở cơ sở ở huyện Chương Mỹ, Sóc Sơn và Mỹ Đức trong việc truyền thông về đất đai trong năm 2016 - 2017
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông
về chính sách đất đai cho các Đài Phát thanh cơ sở tốt hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề “ Vai trò của đài phát thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội”
4.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát các Đài Phát thanh huyện Sóc Sơn, Chương Mỹ và
Mỹ Đức
Thời gian khảo sát: 2016 - 2017
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận các vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, thông tin và truyền thông; các lý thuyết như: Lý thuyết thông tin và truyền thông; Lý thuyết báo chí học; Luật học; Tâm lý học; Xã hội học truyền thông đại chúng
5.1.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu công cụ sau:
Trang 19- Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu trưng cầu ý kiến công chúng
Luận văn có bảng tổng hợp kết quả điều tra ý kiến, phát phiếu khảo sát, thu thập các dữ liệu, ý kiến đánh giá của của công chúng
- Phương pháp nghiên cứu, thu thập dữ liệu tài liệu
Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các đài phát thanh cơ sở tại các huyện ngoại thành Hà Nội như đài: Sóc Sơn, Chương Mỹ, Mỹ Đức Trong đó có các dữ liệu về
chính sách đất đai trên hệ thống Đài Phát thanh cơ sở ở ngoại thành Hà Nội hiện nay
- Phương pháp thống kê, tổng hợp
Được sử dụng để sắp xếp, tổng hợp dữ liệu sơ cấp thu thập được một cách khoa học nhất, biến dữ liệu sơ cấp thành dữ liệu thứ cấp phục vụ cho quá trình phân
Phát thanh cơ sở ở ngoại thành Hà Nội
- Phương pháp phân tích
Được sử dụng để phân tích và đánh giá những thành công cũng như những
thanh cơ sở ở ngoại thành Hà Nội, nhằm đề ra các giải pháp hoàn thiện.
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
6.1.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm rõ hơn về“ Vai trò của đài phát thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội”, từ đó đi vào nhận diện tìm hiểu vấn đề, giúp điều chỉnh, lựa chọn nội dung, hình thức truyền tải thông tin hợp lý để nâng cao hiệu quả tuyên truyền
Trang 206.1.2 Giá trị thực tiễn
Luận văn có giá trị tham khảo về thực tiễn thông qua những cơ sở dữ liệu xác thực, cụ thể về hoạt động hoạt động truyền thông về chính sách đất đai của hệ thống Đài Phát thanh huyện Sóc Sơn, Chương Mỹ và Mỹ Đức giúp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và cấp ủy, chính quyền địa phương, các phóng viên, biên tập viên, lãnh đạo Đài và người dân hiểu sâu sắc hơn về những chính sách liên quan đến đất đai Từ đó có chủ trương, cơ chế chính sách phù hợp trong việc tuyên truyền, quản lý, sử dụng đất đai hiệu quả hơn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 3 chương Cụ thể:
Lý luận chung về vai trò của đài phát thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội
Thực trạng vấn đề truyền thông về chính sách đất đai trên hệ thống Đài
Phát thanh cơ sở ở ngoại thành Hà Nội hiện nay
Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về chính sách đất đai trên hệ thống Đài Phát thanh cơ sở ở ngoại thành Hà Nội hiện tại và tiếp theo
Nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo các chương nói trên
Trang 21
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA ĐÀI PHÁT THANH CƠ SỞ TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT
ĐAI Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm Đài Phát thanh và truyền thanh cơ sở
- Khái niệm phát thanh: Phát thanh là kênh thông tin đại chúng sử dụng
kỹ thuật sóng điện tử và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh và hình ảnh tới công chúng nói chung hay một nhóm lớn người nghe nói riêng Âm thanh bao gồm ba yếu tố: lời nói, âm nhạc và tiếng động”
Các nước phương Tây chia phát thanh thành các loại như: đài phát thanh quảng cáo, phát thanh giáo dục, đài phát thanh thương mại, đài phát thanh chính trị xã hội,vv Thông thường, mỗi nước đều có hệ thống phát thanh của nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ công cộng, phục vụ cho các mục đích xã hội, chính trị của chính phủ Nhiều người còn gọi là đài phát thanh công cộng hay đài phát thanh quốc gia Phạm vi và quy mô ảnh hưởng của các đài phát thanh phụ thuộc vào điều kiện chính trị của mỗi đất nước
Những đài phát thanh còn lại thuộc sở hữu tư nhân Khuynh hướng chung ở các quốc gia, hầu hết các đài phát thanh lớn đều tồn tại trong cơ cấu tập đoàn hay công ty truyền thông Một số tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo cũng lập
ra đài phát thanh
Tại Việt Nam, toàn bộ hệ thống phát thanh thuộc sở hữu nhà nước do
Ủy ban nhân dân và Chính phủ quản lý Các đài khu vực và tiếng nói Việt Nam là đài phát thanh quốc gia Các đài phát thanh địa phương gồm đài cấp tỉnh, đài cấp thành phố trực thuộc trung ương, đài cấp huyện thị xã, thành phố trực thuộc trung ương; đài cấp thị xã, huyện, thành phố thuộc tỉnh, cấp xã,
Trang 22phường, hợp tác xã, thị trấn, làng bản,vv Riếng cấp huyện, thị xã và cấp xã, phường hay còn gọi là hệ thống đài phát thanh cơ sở
+ Phát thanh có 2 loại hình: Phát thanh qua làn sóng điện và phát thanh truyền qua hệ thống dây dẫn Trong đó loại hình thứ nhất là căn bản và là yếu
tố quan trọng nhất tạo nên sức mạnh to lớn của phát thanh
Các nước phương Tây thường chia phát thanh thành các loại như: đài phát thanh thương mại, đài phát thanh quảng cáo, đài phát thanh giáo dục, đài phát thanh chính trị xã hội…Thông thường mỗi nước đều có hệ thống phát thanh của nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ công cộng, phục vụ cho các mục đích chính trị, xã hội của chính phủ Người ta còn gọi đó là phát thanh quốc gia hay đài phát thanh công cộng Quy mô và phạm vi ảnh hưởng của các đài phát thanh tùy thuộc vào điều kiện chính trị của từng quốc gia cụ thể
Các đài phát thanh còn lại thuộc sở hữu tư nhân Khuynh hướng chung ở các nước, phần lớn các đài phát thành lớn đều tồn tại trong cơ cấu công ty hay tập đoàn truyền thong Một số tổ chức tôn giáo, chính trị, xã hội cũng lập ra đài phát thanh
Ở Việt Nam, toàn bộ hệ thống phát thanh đều thuộc sở hữu của nhà nước, do Chính phủ và Ủy ban nhân dân (UBND) các địa phương quản lý
Đài truyền hình Việt Nam và các đài khu vực là đài phát thanh quốc gia Các đài phát thanh địa phương bao gồm: đài phát thanh cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đài cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, cấp xã, phường, hợp tác xã, thị trấn làng bản…Riêng hai cấp huyện, thị xã và cấp xã, phường còn được gọi chung là hệ thống đài cơ sở
- Khái niệm đài phát thanh: Là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống truyền thông của một quốc gia Cơ quan này có thể thuộc sở hữu tư nhân hoặc của nhà nước Các chương trình phát thanh thường là chương trình thời sự, tin tức, chuyên mục, chương trình giải trí âm nhạc, đọc truyện,
Trang 23trò chơi phát thanh, thông tin quảng cáo Các thông tin được truyền đi bằng sóng vô tuyến từ các cột hoặc trạm phát sóng để đến được các thiết bị thu như đài radio hoặc điện thoại di động Hiện nay tín hiệu vô tuyến cũng được truyền qua đường cáp quang hoặc vệ tinh để đến được những vùng xa xôi, hẻo lánh Các chương trình phát thanh cũng được cung cấp trực tuyến trên internet và có thêm kênh truyền thanh có hình
- Khái niệm truyền thanh: Truyền thanh là truyền âm thanh đi xa bằng radio hoặc bằng đường dây đài truyền thanh, loa truyền thanh
- Khái niệm hệ thống phát thanh, truyền thanh cơ sở: Từ năm 1956, nước ta đã bắt đầu hình thành một hệ thống phát thanh 4 cấp từ Trung ương là Đài Tiếng Nói Việt Nam đến các đài phát thanh cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và dưới đó là các đài, trạm truyền thanh cấp huyện, cấp xã
Từ những năm 60 của thế kỷ trước, hệ thống đài huyện ở nước ta đã từng bước được tăng cường số lượng và nâng cao dần chất lượng với nhiệm vụ là tiếp phát sóng các đài trung ương, đài tỉnh và tự xây dựng các bản tin, các chương trình phát thanh để phản ánh về công việc của các hợp tác xã; cổ vũ những phong trào thi đua lao động sản xuất điển hình; phê phán thói xa hoa, lãng phí, quan liêu trong qu ản lý tài sản tập thể
- Khái niệm về chương trình phát thanh Chương trình phát thanh bao gồm việc tổ chức các tin tức, tài liệu trong phát thanh với thời lượng nhất định, mục đích nhất quán và nhằm vào đối tượng vào đối tượng công chúng cụ thể:” thông thường một chương trình phát thanh mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bảng lời chào tạm biệt Ngay sau nhạc hiệu là lời xướng của phát thanh viên, chỉ ra tên hoặc đặc trung của chương trình”
Trên thực tế, căn cứ vào tiêu chí phân loại, mỗi chương trình phát thanh chứa nội dung phản ánh, phương thức thể hiện và đối tượng tác động riêng
Trang 24Bạn nghe đài dễ dàng phân biệt chương trình phát thanh thời sự và các vấn đề
xã hội, thanh niên và câu lạc bộ những người cao tuổi,vv Sự phân công và chuyên môn hóa trong quá trình lao động tạo ra cho các chương trình phát thanh có sự phân định rõ ràng Bên cạnh đó quá trình tiếp nhận của công chúng cũng gắn liền với các chương trình phát thanh Các thính giả có thể hiểu được các thông tin thời sự một nhanh nhất nhờ chương trình thời sự, đồng thời họ cũng chờ đợi những hướng dẫn cụ thể nhờ chương trình chuyên
đề
Dưới đây là các đặc điểm của một chương trình phát thanh:
Mở đầu bằng nhạc chương trình hoặc nhạc hiệu Nhạc chương trình
giúp phân biệt các chương trình khác nhau của một đài, còn nhạc hiệu như một thông báo giúp người nghe phân biệt huyện này với huyện khác, tỉnh này với tỉnh khác, đài phát thanh quốc gia này với đài phát thanh quốc gia khác
Thính giả sẽ nhận diện những chương trình phát thanh ngay từ phút đầu tiên thông qua nhạc chương trình hoặc nhạc hiệu
Lời xướng của người dẫn chương trình và phát thanh viên, lời xướng
được dùng như một thông báo ngắn gọn cho tên của chương trình phát thanh
Mỗi đài sẽ có sự lựa chọn riêng, lời xướng bao gồm các yếu tố như: tên chương trình, tần số phát sóng, địa chỉ của đài…sau lời xướng “ đây là đài phát thanh Sóc Sơn “ cùng với nhạc hiệu hào cùng của bài hát tiểu đoàn 307 vang lên, báo hiệu bắt đầu chương trình phát thanh của đài phát thanh Sóc Sơn
Cấu trúc của chương trình phát thanh: Các chương trình phát thanh
đều ổn định về cấu trúc Với chương trình thời sự có ba phần, bao gồm: tiết mục-bài-tin được phân chia bằng những đoạn nhạc cắt Đối với những chương trình có thời lượng lớn, số tiết mục có thể tăng, còn đối với chương trình chuyên đề thường có hai phần trở lên và được phân cách bằng nhạc cắt
Trang 25Lời kết của chương trình hoặc lời chào bạn nghe đài: Cách chào và hẹn
gặp làm tăng sự gắn kết bạn nghe đài với chương trình phát thanh, đồng thời duy trì sự chú ý của thính giả đối với các vấn đề họ quan tâm
Có nhiều cách phân dạng các chương trình phát thanh, dựa trên đặc điểm, nội dung, mục đích thông tin và đối tượng, có thể chia chương trình phát thanh thành 4 loại chính như sau: chương trình chuyên đề, thời sự tổng hợp, chương trình tin tức, chương trình giải trí và chương trình giáo dục Việc phân loại các chương trình theo các tiêu chí đặc điểm nội dung, mục đích thông tin và đối tượng theo tác giả chỉ mang tình chất tương đối, phụ thuộc vào tính nổi trội của các đặc điểm cụ thể Do vậy, ranh giới giữa các chương trình chỉ mang tính tương đối
Bên cạnh đó, tác giả Vũ Thúy Bình cũng cho rằng:” Nếu lấy tiêu chí là lĩnh vực phản ánh, sẽ có chương trình kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng,vv Theo tiêu chí lứa tuổi sẽ có chương trình thiếu nhi, thanh niên, câu lạc bộ người cao tuổi,vv phân chia theo giới có chương trình thanh niên, phụ nữ…và nếu chia theo tính chất của thông tin và năng lực phản ánh sẽ có chương trinhf thời sự, chương trình chuyên đề Thêm vào đó, căn cứ vào phương pháp và kỹ thuật sản xuất, người ta chia chương trình phát thanh thành 3 loại như sau: chương trình sản xuất trực tiếp tại hiện trường, chương trình sản xuất tại Studio, và chương trình kết hợp giữa studio và hiện trường
Hơn nữa, trên thực tế, các đài phát thanh còn dành thời lượng cho quảng cáo với các hình thức quảng cáo đơn lẻ xen giữa các chương trình khác hoặc kết hợp trong chương trình, hoặc chương trình quảng cáo độc lập
Hiện nay 64 tỉnh, thành phố và hơn 600 quận, huyện, thị xã trong cả nước đều có đài phát thanh, truyền thanh cơ sở Các đài huyện ở nước ta được trang bị những máy phát sóng cực ngắn và sự ra đời của hàng loạt trạm phát sóng cấp xã đã tạo nên những hiệu quả thiết thực đối với công tác chỉ đạo
Trang 26tuyên truyền của các huyện, thị qua tính nhanh nhạy, kịp thời cập nhật thông tin địa phương của nó
Những năm qua, Chính phủ, Đài TNVN, đài PT & TH tỉnh và các UBND huyện, thị đã dành sự quan tâm đặc biệt, đầu tư nguồn kinh phí đáng
kể, cung cấp nhiều thiết bị phát thanh, truyền thanh cho các huyện, thị, khu phố, ấp Đặc biệt là đối với các huyện vùng núi, nông thôn, biên giới, hải đảo
và vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nhờ đó hoạt động phát thanh, truyền thanh huyện, thị luôn duy trì ổn định, nội dung chương trình và chất lượng kỹ thuật sóng phát thanh từng bước được cải tiến và nâng cao Trong những nỗ lực không ngừng ấy, các đài phát thanh, truyền thanh huyện, thị đã đảm trách ngày càng tốt hơn vai trò, nhiệm vụ của mình khi là “chiếc cầu nối” giữa Đảng - chính quyền với nhân dân, là diễn đàn để nhân dân chia sẻ, bày tỏ tâm
tư, nguyện vọng, bức xúc của mình
1.1.2 Khái niệm truyền thông và chính sách đất đai
- Khái niệm truyền thông: Theo cuốn” Truyền thông lý thuyến và kỹ
năng cơ bản do PGS.TS Nguyễn Văn Dững chủ biên thì “ Ttruyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau , thay đổi nhận thức dẫn tới hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội” Nói cách khác, truyền thông được xem là quá trình trao đổi thông tin hoặc tương tác thông tin giữa mọi người với nhau để nắm bắt được các thông tin trong nhiều lĩnh vực khác nhau Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, keo theo đòi hỏi con người cũng cần phải tiến bọ hơn, truyền thông chính là sản phẩm của xã hội con người cũng là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Ngành truyền thông là một trong những ngành có tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển trung của xã hội Truyền thông gần như có tác
Trang 27động đến mọi đối tượng, mọi mặt của đời sống Truyền thông có tính định hướng cao và sức lan tảo mạnh mẽ trong cộng đồng
Không đơn giản mà Truyền thông lại được xem là công cụ hữu hiệu số
1 để truyền đi thông điệp, định hướng và lan toả Nhờ truyền thông con người được kết nối với nhau nhiều hơn Thông tin được lan truyền mạnh mẽ hơn
Gần như vạn vật được kết nối với nhau thông qua các công cụ như tivi, mạng
xã hội, báo chí…
Truyền thông càng quan trọng hơn khi chúng được sử dụng trong kinh doanh, thương mại Các kênh, phương tiện truyền thông được khai thác một cách triệt để Hàng năm hàng tỉ đô la được chi ra cho các chiến lược truyền thông của nhiều doanh nghiệp, và nó cũng mang lại nguồn lợi khổng lồ cho các công ti cung cấp dịch vụ này
- Khái niệm chính sách đất đai
Chính sách đất đai là các hành động và hoạt động mà thông qua đó Chính phủ Việt Nam xác định cho các cá nhân và nhóm trong xã hội về quyền của họ đối với đất đai, cụ thể hóa những hoàn cảnh mà trong đó quyền về đất đai có thể được chuyển nhượng và xây dựng cơ chế để bảo vệ những quyền lợi đó và định hướng xử lý các tranh chấp có liên quan đến đất đai
- Khái niệm truyền thông về chính sách đất đai: Là tuyên truyền những chủ trương của Đảng và nhà nước được thể hiện thành những qui định thống nhất, rõ ràng, cụ thể của các văn bản luật về đất đai cho cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể sử dụng đất
1.2 Đặc điểm và vai trò của hệ thống Đài Phát thanh, truyền thanh cơ sở
1.2.1 Đặc điểm
- Chủ thể : Thông tin được truyền qua sóng điện tử, và ngay lập tức thông báo cho công chúng biết được về sự kiện ở chính thời điểm mà nó đang diễn ra Cụ thể như: Những chủ trương, chính sách, những việc lớn, việc nhỏ,
Trang 28những thông tin xác thực, trực tiếp, cụ thể về kinh tế, xã hội, đời sống đến với các tầng lớp nhân dân Bên cạnh đó đài truyền thanh cơ sở luôn được coi là phương tiện có khả năng tiếp cận phản ảnh sát thực tế trên từng địa bàn với phong cách ngôn ngữ và giọng điệu riêng phù hợp với từng đối tượng cụ thể
Ngoài những chức năng nhiệm vụ tiếp phát lại các chương trình thời sự của Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, nhiều đài truyền thanh ở cơ sở còn tích cực thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị tại địa phương
- Thông điệp
+ Nội dung: Quyết định số 52/2016 có hiệu lực từ ngày 1/2/2017 về
quy chế hoạt động thông tin cơ sở được Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định “ UBND cấp xã, phường, thị trấn sẽ quy định cụ thể nội dung chương trình, thời điểm, địa điểm, thời lượng, âm lượng phát thanh, truyền thanh phù hợp với đặc điểm riêng có của từng địa phương, cơ sở và đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân trên địa bàn” Theo đó, hoạt động thông tin cơ sở là hoạt động cung cấp thông tin thiết yếu đến người dân ở xã, phường, thị trấn thông qua hoạt động phát thanh, truyền thanh của Đài Truyền thanh cấp xã;
bản tin thông tin cơ sở; tài liệu không kinh doanh phục vụ hoạt động thông tin
cơ sở; thông tin trực tiếp qua báo cáo viên, tuyên truyền viên thông tin cơ sở;
bảng tin công cộng và các hình thức hoạt động thông tin cơ sở khác
Trong đó, Đài Truyền thanh cấp xã, phường, thị trấn sẽ sản xuất các chương trình phát thanh bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc để phát sóng trên
hệ thống truyền dẫn, phát sóng phát thanh cấp xã Nội dung các chương trình phát thanh tập trung thông tin về hoạt động chỉ đạo, điều hành của chính quyền cấp xã; cung cấp thông tin, kiến thức thiết yếu đối với đời sống hằng ngày của người dân địa phương phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan
Trang 29trực tiếp đến người dân ở địa phương và những quy định của chính quyền, hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội ở địa phương, cơ sở
+ Hình thức : Phát thanh có hình thức và con đường tác động riêng trong đó từ ngữ với phương thức biểu đạt bằng lời nói là phương tiện chuyển tải ý nghĩa và tình cảm gắn với âm nhạc và tiếng động minh họa
- Kênh truyền tải: Hiện trên mạng truyền thanh cơ sở về cơ bản đã chuyển từ mạng hữu tuyến (có dây) sang mạng vô tuyến (không dây) thế hệ mới Đây là hệ thống truyền thanh ứng dụng các công nghệ điện tử khắc phục được các nhược điểm của công nghệ hữu tuyến trước đây không bị nhiễu sóng truyền hình, đảm bảo an ninh sóng trên toàn hệ thống khi được cấp phép và quản lý tần số của từng đài phát Với những ưu việt đó, trong những năm gần đây, hệ thống truyền thanh cơ sở theo “hình thức không dây” được đưa vào sử dụng khá phổ biến, giúp cho việc tuyên truyền chủ trương chính sách các thông tin về văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị của địa phương kịp thời, đến nhanh nhất với người dân
- Công chúng : Công chúng của phát thanh chính là thính giả Với sự nhanh nhạy, linh hoạt và phương thức thông tin sinh động bằng lời nói, phát thanh giúp cho công chúng dễ dàng tiếp cận thông tin dù họ đang ở đâu, đang làm gì Đối tượng của phát thanh là đông đảo quần chúng nhân dân Phát thanh còn là người bạn tri âm của những người khiếm thị Công chúng của phát thanh rất rộng lớn và đa dạng, phân phân biệt quần thể dân cư, trình độ học vấn, mọi đối tường ( chỉ trừ người bị khiếm thính) đều có thể tiếp nhận thông tin qua đài
Công chúng phát thanh là người nuôi dưỡng chương tình phát thanh, là người đánh giá, thẩm định chất lượng cuối cùng của chương tình phát sóng
Đồng thời công chúng còn là đối tượng phản ánh, những tâm tư, nguyện vọng, những vấn đề bức xúc mới nảy sinh trong cuộc sống và là nguồn đề tài
Trang 30vô tận của người làm báo Theo một số nghiên cứu lý luận về phát thanh hiện đại , công chúng của phát thanh gồm 4 nhóm chính:
+ Đối tượng nghe dò tìm: Người nghe mở đài cố gắng dò tìm một chương trình cụ thể nào đó Tiếp đó là trạng thái tinh thần, tình cảm tập trung vào thời điểm phát chương trình
+ Đối tượng nghe tập trung tư tưởng: Do yêu cầu nghề nghiệp chyên môn người nghe luôn có mặt bên máy thu thanh hoặc dành một thời gian nhất định trong ngày cho việc nghe đài
+ Đối tượng nghe có chọn lọc: Người nghe chỉ cần tiếp nhận một bộ phận của chương trình nào đó
+ Đối tượng nghe loáng thoáng: Chương trình radio chỉ là một yếu tố động chạm đến một phần nào đó, không ảnh hưởng đến lĩnh vực nhận thức của người nghe
Công chúng ngày nay không chỉ thích nghe đài mà còn có ý thức tham gia vào các chương trình phát thanh
1.2.2 Vai trò
Là công cụ truyền thông trong lãnh đạo, quản lý của chính quyền cơ sở:
Hệ thống đài phát thanh, truyền thanh cơ sở có vai trò hết sức quan trọng trong việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Đồng thời là công cụ chỉ đạo điều hành của cấp ủy, chính quyền cơ
sở, góp phần không nhỏ trong việc phổ biến, thực hiện các nhiệm vụ của địa phương trên tất cả các mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh trật tự, sản xuất
và đời sống của nhân dân trên địa bàn Bên cạnh đó, đài truyền thanh cơ sở còn có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị xã hội ở địa phương, các huyện và khu vực lân cận Đài truyền thanh cơ sở là kênh thông tin rất cần thiết đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đồng thời là công cụ chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền cơ sở đến
Trang 31đông đảo người dân; là diễn đàn thể hiện quyền được biết, được bàn của nhân dân, góp phần trang bị kiến thức, nâng cao dân trí, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi công cuộc bảo vệ
và xây dựng quê hương đất nước
Hệ thống các đài phát thanh, truyền thanh cơ sở đã thực hiện truyền tải các thông tin như: Tiếp âm các chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội Nội dung tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, của tỉnh và các nội dung khác phù hợp với quy định của pháp luật Các thông tin về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng của thủ đô, của địa phương Các văn bản, chương trình hoạt động phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của cấp
ủy, chính quyền các cấp Đồng thời biểu dương gương tốt, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực khác Bên cạnh việc tiếp âm của đài cấp trên, nhiều đài phát thanh, truyền thanh cơ sở đã xây dựng được bản tin của địa phương như: Thông báo các văn bản chỉ đạo của Đảng
ủy, UBND xã, thị trấn, lịch thu hoạch mùa vụ, lịch gieo cấy, thông báo họp thôn, khu phố, khuyến cáo về tình hình dịch bệnh, thiên tai
Là phương tiện kết nối chính quyền với người dân:
Bà Susan Vize-quyền Trưởng Đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam đã khẳng định tại lễ kỷ niệm Ngày phát thanh thế giới hôm 13-2- 2017 tại Hà Nội “Phát thanh vẫn là một trong những phương tiện truyền thông năng động, tương tác và sôi động nhất Với những nền tảng mới trong thời đại hội
tụ truyền thông như web, mạng xã hội, internet băng thông rộng, điện thoại di động và máy tính bảng, phát thanh sẽ ở một vị thế kết nối với thính giả tốt hơn và trở nên toàn diện hơn”
Trang 32Trong thời đại bùng nổ các phương tiện thông tin truyền thông, hệ thống truyền thanh cơ sở vẫn đóng vai trò là kênh thông tin quan trọng cung cấp các thông tin chính thống, thiết thực cho cuộc sống của người dân Các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các thông tin về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước được truyền tải đến nhân dân thông qua hệ thống truyền thanh
cơ sở đều mang tính nhanh nhạy, kịp thời, hiệu quả Hệ thống truyền thanh cơ
sở vẫn là người bạn gần gũi của quần chúng nhân dân bởi tính thông tin nhanh nhạy, đa dạng, nhiều chiều; là công cụ để nhân dân thực hiện phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” góp phần thực hiện có hiệu quả “Quy chế dân chủ cơ sở” Đó là chưa kể “Truyền thanh cơ sở” được xác định là một tiêu chí cứng trong bộ tiêu chí của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Là kênh để truyền đạt tri thức, văn hóa tới người dân Tại Hội nghị phát thanh châu Á Radio Asia 2014 diễn ra tại Colombo, thủ đô Sri Lanka với chủ đề “Định vị vai trò của phát thanh trong xã hội tri thức”, Tổng Giám đốc Đài Phát thanh Quốc gia Romania khẳng định “ Phát thanh đã góp phần thúc đẩy các giá trị văn hóa sáng tạo, bản sắc dân tộc và ngoại giao văn hóa trong bối cảnh có nhiều loại hình truyền thông mới khác”
Đối với đất nước ta có hơn 90 triệu dân, trong đó có hơn 13 triệu dân là đồng bào dân tộc thiểu số thì phát thanh có vai trò vô cùng quan trọng trong việc truyền đạt tri thức, văn hóa tới người dân, đặc biệt bà con vùng đặc biệt khó khăn
Là diễn đàn để người dân bày tỏ chính kiến, quan điểm, tâm tư nguyện vọng với chính quyền
Hiện nay phát thanh không thể dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà phải chủ động thu hút khán giả Ngoài nội dung phù hợp, phát thanh còn duy
Trang 33trì các hình thức mới như giao lưu trực tiếp, tương tác, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin vừa tạo điều kiện và buộc công chúng phải chia sẻ những tâm tư, nguyện vọng tới chính quyền các cấp
Bên cạnh đó, tùy theo điều kiện thực tế, Đài Truyền thanh cơ sở thực hiện việc tiếp sóng, phát lại chương trình thời sự và các chương trình phát thanh khác của Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh cấp huyện để phục vụ nhu cầu thông tin thiết yếu của nhân dân địa phương trên hệ thống truyền dẫn, phát sóng phát thanh của Đài Truyền thanh cơ sở;phát sóng các chương trình phát thanh phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin, tuyên truyền thiết yếu của quốc gia và địa phương theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trên hệ thống truyền dẫn, phát sóng phát thanh của Đài; quản lý, vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật chuyên ngành để thực hiện việc tiếp sóng, phát lại các chương trình phát thanh của Đài cấp trên
Nói cách khác, phát thanh và truyền thanh cơ sở liên quan đến chính sách đất đai quan trọng vì những lý do sau:
+ Phát thanh cơ sở về chính sách đất đai giúp mọi người nắm bắt được các sự kiện đang diễn ra cũng như các quy định liên quan đến chính sách đất đai không những ở trong khu vực mà ở những vùng khác
+ Người dân muốn nghe tin tức, muốn gọi điện thoại đến phòng thu, muốn nghe chương trình, nghe những bản tin về nông nghiệp, đất đai hoặc thể thao bằng ngôn ngữ của chính họ
+ Phát thanh cộng đồng góp phần xây dựng, nâng cao tính cộng đồng, mang lại tiếng nói, quyền bày tỏ ý kiến, quan điểm cho thính giả, người dân
+Mọi người đều có thể tham gia vào các chương trình phát thanh, đặc biệt chương trình liên quan đến chính sách đất đai Các bạn nghe đài là những người tham gia tích cực vào mạng lưới thông tin của riêng họ Những người
Trang 34dân địa phương đều có thể trở thành thành viên, lãnh đạo quản lý, kỹ thuật viên hoặc thậm chí phóng viên của một đài truyền thanh
Có thể khẳng định những năm qua hệ thống truyền thanh cơ sở đã thông tin nhanh nhạy, kịp thời mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, huyện, xã tới người dân, tạo sự đồng thuận trong mọi tầng lớp nhân dân, góp phần quan trọng thúc đẩy sự nghiệp kinh tế - xã hội phát triển
1.3 Cơ sở chính trị và pháp lý vai trò của đài phát thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội
1.3.1 Cơ sở chính trị
- Các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng về chính sách đất đai và truyền thông chính sách đất đai
+ Các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng về chính sách đất đai:
Quyết định số 52/2016/QĐ-TTg ngày 06/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động thông tin cơ sở ghi rõ: Đài truyền thanh cấp
xã có nhiệm vụ sản xuất các chương trình phát thanh bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc để phát sóng trên hệ thống truyền dẫn, phát sóng phát thanh của Đài; phối hợp với Đài Truyền thanh cấp huyện sản xuất các chương trình phát thanh liên quan đến chính sách đất đai để phát sóng trên hệ thống truyền dẫn, phát sóng phát thanh của Đài huyện Nội dung các chương trình của Đài Truyền thanh cơ sở tập trung thông tin về hoạt động chỉ đạo, điều hành của chính quyền cấp xã; cung cấp thông tin, kiến thức thiết yếu đối với đời sống hằng ngày của người dân địa phương phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; cung cấp thông tin về chính sách đất đai, pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếp đến người dân ở địa phương; những quy định của chính quyền xã và hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội ở địa phương, cơ sở
Trang 35Bên cạnh đó, Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặc phát triển trong đời sống kinh tế – xã hội ở Việt Nam Sự đổi mới trong
tư duy kinh tế góp phần chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo nên diện mạo mới của đất nước, con người Việt Nam hôm nay Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là các chính sách, pháp luật đất đai trong nông nghiệp nông thôn được đánh dấu từ Chỉ thị 100, năm 1981 của Ban Bí thư hay còn gọi là
“Khoán 100” với mục đích là khoán sản phẩm đến người lao động đã tạo ra
sự chuyển biến tốt trong sản xuất nông nghiệp
Văn bản đầu tiên do Nhà nước ban hành về đất đai và ruộng đất thể hiện tinh thần đổi mới của Đại hội VI là Luật Đất đai năm 1987
Sau Luật Đất đai năm 1987, Thông tư liên bộ số 05-TT/LB ngày
18-12-1991 của Bộ Thủy sản và Tổng cục Quản lý ruộng đất hướng dẫn giao những
ao nhỏ, mương rạch trong vườn nằm gọn trong đất thổ cư cho hộ gia đình; ao lớn, hồ lớn thì giao cho một nhóm hộ gia đình Với những mặt nước chưa sử dụng có thể giao cho tổ chức, cá nhân không hạn chế
Ngày 15-07-1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 327/CT chính sách sử dụng ruộng đất đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước
Như vậy chính sách đất đai giai đoạn 1981-1992 chủ yếu:
Thể hiện tinh thần đổi mới nhưng rất thận trọng, thực hiện từng bước chậm, chủ yếu là mang tính thăm dò, thí điểm
Chủ yếu là điều chỉnh trong nông nghiệp và các đơn vị tập thể như nông, lâm trường, hợp tác xã
Quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của cá nhân vẫn chưa được thừa nhận
Trang 36Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VII ra Nghị quyết về Tiếp tục đổi mới vàphát triển kinh tế-xã hội nông thôn Nghị quyết là
cơ sở cho việc thông qua Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp tại
kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa IX ngày 14-07- năm 1993 Luật Đất đai 1993 thực chất là thể chế hóa chính sách đất đai cho phù hợp với yêu cầu kinh tế-xã hội đặt ra
Sau khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, Chính phủ và các bộ, ngành đã
có văn bản triển khai Luật này Nghị định 64/CP ngày27-9-1993 về đất nông nghiệp Nghị định 88/CP ngày 17-8-1994 về đất đô thị Nghị định 02/CP ngày 15-1-1994 về đất lâm nghiệp Như vậy, Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân Đồng thời giao quyền sử dụng đất và kèm theo các quyền khác như: quyền chuyển đổi, quyền thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển nhượng nhằm tăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho những người sử dụng đất
Ngày 02-12-1998 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai được ban hành và Ngày 01-10-2001 tiếp tục sửa đổi một số điều của Luật Đất đai Luật sửa đổi lần này là chú trọng đến khía cạnh kinh tế của đất đai và vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai Điều đó được thể hiện bởi những qui định về khung giá các loại đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tính giá trị tài sản khi giao đất hoặc khi nhà nước bồi thường, qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…
Ngày 10-12-2003 Luật Đất đai năm 2003 lại tiếp tục sửa đổi cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được ban hành và
có hiệu lực ngày 01-07- 2004, thể hiện trong Điều 61, 62, 63 của Luật Đất đai đã thừa nhận quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
Trang 37+ Các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng về truyền thông chính sách đất đai
* Quyết định số 1892 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án nâng cao năng lực quản lý nhà nước ngành quản lý đất đai giai đoạn 2011- 2020
Đề án này nhằm phổ biến, giáo dục và nâng cao nhận thức chính sách, pháp luật đất đai cho các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân
cư trong phạm vi cả nước, ưu tiên đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng
xa và nông thôn
* Nghị quyết số 07 ngày 22/1/2014 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19 ngày 31/10/2012 của BCH Trung ương Đảng ( khóa XI) về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nướ ta cơ bản trờ thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa Mục tiêu của Nghị quyết là xác định các nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu để các Bộ, ngành, cơ quan và địa phương xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản
lý, sử dụng đất đai, huy động tốt nhất nguồn lực to lớn từ đất đai phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường; khắc phục tình trạng lãng phí, tham nhũng, khiếu kiện về đất đai
* Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách, pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng
và được Nhà nước bảo đảm
Sau khi Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI được ban hành, Thành ủy Hà Nội đã ban hành
Trang 38Chương trình hành động số 29-CTr/TU ngày 18/01/2013 thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW; Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch số 24/KH-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2014 thực hiện Chương trình hành động
số 29-CTr/TU của Thành ủy Đồng thời triển khai chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền từ thành phố đến quận, huyện và cơ sở quán triệt nghiêm túc và làm tốt công tác tổ chức thực hiện, cụ thể hóa nhiệm vụ trong Nghị quyết số 19-NQ/TW cho phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn
vị bằng nhiều hình thức thiết thực như tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, Chương trình giao lưu trực tuyến giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với các Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chương trình đối thoại về cải cách hành chính trên sóng phát thanh truyền hình… để các tổ chức và cá nhân có thể tìm hiểu thông tin pháp luật về đất đai, góp phần đưa pháp luật đi vào cuộc sống nhân dân và xã hội nhằm tạo sự đồng thuận trong tổ chức thực hiện Sau 5 năm triển khai thực hiện, theo Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã đạt được một số kết quả như sau:
+ Hiến pháp năm 1959 đất đai được quy định với 4 hình thức, trong đó
có hai hình thức sở hữu chung là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể Hai hình thức sở hữu riêng là sở hữu của người dân lao động và sở hữu của tư bản dân tộc Hai hình thức sở hữu chung là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể được khuyến khích
Trang 39+ Hiến pháp 1980 quốc hữu hoá về đất đai với một hình thức là sở hữu toàn dân Trong đó có quy định, người dân đang sử dụng đất thì được tiếp tục
sử dụng
+ Hiến pháp 1992 quy định đất đai là sở hữu toàn dân tiếp tục được xác lập và đưa thêm nội dung thế nào là quản lí đất dai Nhà nước quản lí đất đai bằng pháp luật và quy hoạch Về sử dụng đất có quy định Nhà nước giao đất, cho thuê đất để người dân được sử dụng lâu dài
+Luật Đất đai 2003 quy định, quyền sử dụng đất là tài sản của người dân Về hộ cá nhân đã có 7 quyền như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp và góp vốn Đối với DN, tổ chức kinh tế có những quyền như chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, góp vốn
+ Luật số 13 năm 2013 của Quốc hội khóa XI về đất đai Luật này quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân
về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng công bố Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai để lấy ý kiến góp ý trong nhân dân Theo
Bộ này, dự án luật nói trên được xây dựng dựa trên cơ sở kết quả ba năm tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014
Theo đó, quá trình thực thi cho thấy nguồn lực về đất đai vẫn chưa thực sự được khai thác và phát huy đầy đủ; tình trạng tham nhũng, trục lợi và thất thoát nguồn thu ngân sách liên quan đến đất đai vẫn còn diễn ra; tình trạng vi phạm chính sách, pháp luật về đất đai diễn ra khá phổ biến; khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai vẫn chiếm tỷ trọng lớn (70%), là nguy cơ gây ra những bất ổn trong xã hội…Bộ Tài nguyên Môi trường cho rằng việc xây dựng dự
án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2013 nhằm đáp
Trang 40ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm sử dụng đất đai hiệu quả, tiết kiệm và bền vững; tăng nguồn thu từ đất đai…
15 vấn đề của Luật Đất đai 2013 dự kiến sẽ được sửa đổi, bổ sung
Trong đó có việc bãi bỏ điều 130 quy định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân; bổ sung điều 5 cho phép người sử dụng đất là cá nhân nước ngoài thuộc trường hợp được sở hữu nhà ở tại Việt Nam và chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở; sửa đổi khoản 3 điều 114 theo hướng giao thẩm quyền quyết định giá đất
cụ thể cho Ủy ban nhân dân cấp huyện trong trường hợp thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân; bổ sung đại diện người có đất thu hồi vào thành phần Hội đồng định giá đất
Từ Quyết định số 201/CP ngày 1 tháng 7 năm 1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất (sau đây gọi tắt là Quyết định số 201/CP năm 1980) đến Luật Đất đai 1987, rỏi Luật Đất đai 1993 (kể cả 2 lần sửa đổi bổ sung vào năm 1998 và năm 2001) nội dung "Ban hành văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó" lúc đầu là "Quy định các chế độ thể lệ về quản lý, sử dụng đất và tồ chức thực hiện các chế độ, thể lệđó" đều được xếp ở vị trí sau
Từ Quyết định số 201/CP năm 1980 đến Luật Đất đai 1993 đều đã quy định công tác quản lý nhà nước về đất đai gồm 7 nội dung Trong đó, ở Quyết định
số 201/CP năm 1980 nội dung này được xếp ở vị trí thứ 7; đến Luật Đất đai
1987 và Luật Đất đai 1993 nội dung này được xếp ở vị trí thứ 3 Xếp đầu tiên trong 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai ở giai đoạn từ khi thực hiện Quyết định số 201/CP năm 1980 đến Luật Đất đai 1993 là nội dung "Điều tra, khảo sát đất đai" nhưng đến nay thực tế cho thấy bất kể việc gì trong công tác