1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Các giải pháp tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân ở tỉnh Quảng Nam

92 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các giải pháp tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân ở tỉnh Quảng Nam
Tác giả Phạm Ngọc Hà
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 20,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Các giải pháp tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân ở tỉnh Quảng Nam trình bày hệ thống hóa một số vấn đề lý luận, phân tích đánh giá những kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chính sách BHXH tự nguyện; đề xuất những giải pháp có tính khoa học để đưa vào thực hiện BHXH tự nguyện cho người nông dân Quảng Nam.

Trang 1

CÁC GIẢI PHÁP TANG CƯỜNG BẢO HIẾM XÃ

HỌI TỰ NGUYỆN CHO NÔNG DÂN Ở TỈNH

QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TE

2011 | PDF | 92 Pages buihuuhanh@gmail.com

Da Nẵng - Năm 2011

Trang 2

MO DAU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội (BHXH) nói chung và bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) cho nông dân nói rêng là một chính sích lớn của Đảng và Nhà nước Chính sách BHXH ở Việt Nam đã trải qua một chặng đường dài trên

nữa thế kỷ và có thể cha thành hai thời kỳ chính: Thời kỳ bao cấp trước khi

có Bộ luật lao động, Luật BHXH thì đối tượng tham gia chỉ giới hạn với cán

bộ, công nhân, viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước và lực lượng vũ trang, nguồn chỉ BHXH cơ bản từ ngân sách Nhà nước và thời kỳ sau khi có

Bộ luật lao động theo hướng xoá bỏ bao cấp

‘Sau dai hội lần thứ VI của Đảng, nước ta thực hiện chính sách đôi mới, chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước Trong bối cảnh đó, quan hệ lao động theo cơ chế mới cũng hình thành, người lao động,

mọi thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật, thị trường lao động

phát trên, người lao động có quyền tự do tìm kiếm việc làm; Thực tế này đòi hỏi phải có sự thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính

sich Bảo hiểm xã hội nói riêng; Năm 1994, tại kỳ họp thứ S Quốc hội khoá

IX da thông qua Bộ luật lao động, trong đó có một chương quy định về chính

sách BHXH bắt buộc theo nguyên tắc có đóng có hưởng, cân đối thu - chỉ với

5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu tí, tử

tat

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X Đảng ta đã đề m mục tiêu là từng bước thực hiện chế độ BHXH cho mọi người lao động Kỳ

họp thứ DX Quốc hội khoá XI đã thông qua luật Bảo hiểm xã hội và có hiệu

luật từ ngày 01/01/2007 đối với BHXH bắt buộc, từ ngày 01/01/2008 đối với BHXH tự nguyện, đây là hành lang pháp lý quan trọng để trên khai thực hiện

Trang 3

chính sách BHXH nói chung và BHXH tr nguyện cho nông dần nói riêng

Sau hơn 3 năm thực hiện luật BHXH về BHXH tự nguyện Đối tượng tham

gia được mở rộng đến mọi người lào động thuộc các thành phần kinh tế, đặc

biệt người lao động ở khu vực nông nghiệp nông thôn Tuy nhiền đến nay đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên cả nước còn quá khiêm tốn mới có

trên 9,1 triệu người tham gia, chiếm tý lệ I I,5% tông dân số

Quảng Nam vốn hà tỉnh có nền nông nghiệp lạc hậu, nhất là các huyện miền núi nên mặc dù đã trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lỗi đổi mới và

đang trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thu

hút đầu tư, song nông nghiệp nông thôn và lao động nông nghiệp vẫn giữ một

vị trí hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trên 70%, dân cư của tỉnh vẫn sống ở nông thôn và 40% lực lượng ho động xã hội vẫn

đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, đời sống thu nhập của nông dân tuy được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn Vì vậy, thực hiện BHXH cho mọi người lao động nói chung và bản thân người nông dân nói riêng được

xem vừa là mục tiêu vừa l giải pháp tích cực góp phần thực hiện công bằng

xã hội trong hệ thống các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo cho mọi người

dân, không phân biệt thành phẩn kinh tế, điều kiện kinh tế, nghề nghiệp, vị trí địa W, tuổi tác, giới tính đều được &ham gia và hưởng các chế độ BHXH

theo quy định của pháp kuật

Qua nhiều năm trực tiếp làm việc trên lĩnh vực này bản thân tôi đã có nhiều trăn trở, cần phải có những giải pháp tích cực và phù hợp để tăng cường

BHXH tự nguyện cho nông dân, nên tôi chọn đề tài "Các giải pháp tăng cường Bão hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân ở tỉnh Quảng Nam" làm

luận văn tốt nghiệp cửa mình

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

~ Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về BHXH tự nguyện cho

nông dân

~ Phân tích đánh gú thực trạng tham gia BHXH tr nguyện của nông

dân tỉnh Quảng Nam trong những năm qua Phân tích những kết quả đạt được,

những thuận lợi khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chính sách BHXH tự nguyện, những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến việc tham gia BIIXH tự nguyện của nông dân

~_ Đề xuất những giải pháp có tính khoa học để đưa vào áp dụng trong

thực tiễn một cách có hiệu quả nhằm tăng số người tham gia BHXH tự

nguyện, góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng, nhà nước đề ra “Bảo hiểm xã

hội cho mọi người lao động”;

3 Đối tượng và phạm vỉ nghiền cứu

~ Đắi trợng nghiên cứu:

Để đạt được mục tiêu trên, để tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về

triển khai thực hiện chính sách BHXH tự nguyện cho nông dân trên địa bản

tỉnh Quảng Nam, phân tích ầm rõ những vấn đề còn tổn tại, vướng mắc cả về

cơ chế lẫn Ö chức thực hiện;

~ Phạm vi nghiên cứu:

~ Về không gian: Tỉnh Quảng Nam

~ Thời gian nghiên cứu: Các tài liệu đánh giá thực trạng được thu thập

qua 03 năm (từ 2008- 2010) Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua BHXH

tỉnh Quảng Nam;

.4 Phương pháp nghin cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học, hồng

kê, tông hợp, phân tích, so sinh Ngoài ra luận văn còn kế thừa và phân tích

Trang 5

các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, các bải viết trên tạp chí của BHXH có liên quan đến đề tài nghiên cứu;

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Hệ

chung và BHXH tự nguyện nói riêng

ống hoá được những vấn đề lý luận và thực tễn về BHXH nói

~ Đề tài nêu ma cho được thực trạng chính sách BHXH tự nguyện cho

nông dân tĩnh Quảng Nam, những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện cũng như những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến việc tham gia của người dân

~ Trên cơ sở đó để ra các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi để nhằm tăng cường phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyên cho nông dân trong

những năm đến, góp phẳn thực hiện Bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động

theo mục tiêu của Đảng đề ra;

6 Cấu trúc của luận văn

Tén dé tài: Các giải pháp tăng cường Báo hiểm xã hội tự nguyện cho

nông dân tỉnh Quing Nam

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

của luận văn được chia thành 3 chương,

Chương I: Cơ sở lý luận về Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân Chương 2: Thực trạng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông

dân tỉnh Quảng Nam Chương 3: Các giải pháp tăng cường bảo hiểm xã hội cho nông dân ở

tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến

Trang 6

CHUONG 1

CO SG LY LUAN VE BAO HIEM XA HOI TU NGUYEN

CHO NONG DAN

1.1 Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân

Ad

Có rất nhiều khái niệm về nông đân, chẳng hạn như:

Nông dần: Bắt cứ người nào điều hành một trang trại hay gián tếp liên quan đến việc canh tác trên đất, sở hữu hay trực tiếp kiểm soát các cây trồng

Khái niệm về nông dân

và vật môi [24]

Hãy theo Bách khoa toàn thư Việt Nam:

Nông dân: Những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất

nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, su đó đến các ngành

nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch

sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đắt Họ hình thành

nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội [3 1]

Nong din là một người, tham gia vào nông nghiệp, người nuôi sinh vật

bằng thực phẩm hoặc nguyên liệu, thường bao gồm chăn nuôi gia súc và trồng

trọt như sản xuất và ngũ cốc Một người nông dân có thể sở hữu đất hoặc có thể làm việc như một người lao động về đất đai thuộc sở hữu của người khác, nhưng trong nền kinh tế tiên tiến, nông dân thường một chủ trang trại, trong

khi nhân viên cửa trang trại à ho động nông nghiệp.[31]

Tir quan điểm trên có thể khái niệm Nông dân là những người lao động

cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu

bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính b dat đai, chăn nuôi và trồng trọt

Trang 7

1.1.2 Khái niệm về Bảo hiễm xã hội tự nguyện cho nông dân Bảo hiểm xã hội nói chung và BHXHTN cho nông dân nói riêng tồn tại

là tắt yếu khách quan, có nhiều khái niệm về BHXHTN khác nhau và theo

điều 3 luật BHXH thì Bảo hềm xã hội tự nguyện là loại hình Bảo hiểm xã hội

mà người lao động tự nguyện tham gia, được kra chọn mức đóng và phương, thức đóng phủ hợp với thu nhập của mình hưởng Bảo hiểm xã hội [23]

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một bại hình BHXH do Nhà nước ban

hành để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao

động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mắt khả năng ho

động bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự

nguyện đóng góp một phần thu nhập của người ho động, người sr dụng ho

động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội [26]

Vậy Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân: một loại hình BHXH do

nhà nước ban hành và quản lý để vận động, khuyến khích người lao động là nông dân tự nguyện tham gia; được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng

phù hợp nhằm đảm bảo bù đấp một phần thu nhập cho chính bản thân người nông dân và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mắt nguồn thu nhập do gặp phải

những rủi ro xã hội, như tuổi già, tử tuắt , đồng thời góp phần đảm bảo công

bằng và an sinh xã hội

Như vậy, loại hình BHXH tự nguyện cho nông dân chỉ có thể được

"hình thành và thực hiện trên cơ sở:

~ Có nhiều người lao động là nông dân tham gãa với điều kiện:

~ Có nhu cầu thực sự về BHXH;

~ Có kha năng tài chính để đóng phí BHXH tự nguyện;

Trang 8

~ Có sự thống nhất với những quy định cụ thể (mức đóng, mức hưởng

quy trình thực hiện, phương pháp quan lý, sử dụng quỹ BHXH tự nguyện ) của loại hình BHXH tự nguyện

~ Có tổ chức, cơ quan đứng ra thực hiện BHXH tự nguyện

~ Được Nhà nước bảo hộ và hỗ trợ khi cần thiết 1.1.3 Bản chất, vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân 1.1.3.1 Bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân

Ban chat kinh tế của BHXHTN cho nông dân thể hiện ở chỗ những

người tham gia cùng đóng góp một khoản tiền trích trong thu nhập để lập

một quỹ dự trữ Mục đích của việc hình thành quỹ này đề trợ cấp cho những người tham gia BHXH tự nguyện khi gặp rủi ro dẫn đến giảm hoặc mắt thu nhập Xét trên phạm vỉ toàn xã hội, BHXH R một quỹ tài chính được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu về BHXH như ốm đau, sinh đẻ, già yếu, chết Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện theo cả chiều dọc và chiều ngang Phân phối theo

chiều ngang là sự phân phối giữa chính bản thân người lao động theo thời gian (giữa thời gan ho động và thời gian nghỉ hưu) Phân phối theo chiều

dọc l sự phân phối giữa những người khỏe mạnh với người ốm đau; giữa

người trẻ và người gầ; giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập

thấp Nhờ sự phân phối lại thu nhập mà đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo trước những bắt trắc và rủi ro xã hội

Tóm hi, BHXH tự nguyện được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH tự nguyện

nhằm góp phần ôn định cuộc sống của người tham gia và gi đình họ khi gặp

rủi ro làm giảm hoặc mắt khả năng thu nhập từ ho động

'Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện cho người nông dân được thê

hiện ngay trong mục tiêu của nó BIIXH hoạt động không vì mục tiêu lợi

Trang 9

nhuận Mục tiêu của bất kỳ hệ thông BHXH nào cũng là mục tiêu xã hội

Điều này được thể hiện thông qua việc chỉ trả chế độ BHXHTN Người tham gia BHXH tự nguyện sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập

khi họ bị giảm hoặc mắt khả lao động Do có sự chia sẻ rủi ro giữa những

người tham gia BHXH tự nguyện nên mặc dù chỉ đóng một phần nhỏ trong

thu nhập của mình cho Quỹ BHXH tự nguyện, nhưng có thể được bồi hoàn

một khoản thu nhập đủ lớn để giúp họ tang trải rủi ro Ở đây, Quỹ BHXH

tự nguyện đó thực hiện nguyên tắc "lấy của số đông, bù cho số ít" và BHXH

tự nguyện được hiểu như một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho

người lao động khi thu nhập của họ bị giảm, bị mắt Trên góc độ vĩ mô,

BHXH tự nguyện gúp phần ôn định an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội

góp phần xóa đói, giảm nghèo

Tom hi, hoạt động BHXH tự nguyện không vì mục tiêu lợi nhuận, mà

hoạt động vì mục đích bảo đảm sr phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp

phần ôn định và thúc đây tiến bộ xã hội Điều này giải thích tại sao BHXH

được coi là một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia

Tuy nhiên bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH TN không tách rời mà đan xen với nhau Khi nói đến sự đảm bảo kinh tế cho người lao

động và gia đình họ là nói đến tính xã hội của BHXH Ngược lại khi nói đến

sự đóng góp ít, nhưng lại được bù đắp đủ trang trải mọi rủi ro, thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH [1]

1.1.3.2 Vai trò Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân

Trong đời sống kinh tế - xã hội, BHXH xã hội nói chung và BHXH ty nguyện cho nông dân nói riêng đóng vai trò to lớn được thể hiện trên các mặt

sau:

- BHXH tự nguyện góp phần ôn định đời sống của nông dân tham gia

BHIXHTN, đảm bảo an toàn xã hội Nông dân tham gia BHXH tự nguyện thì

Trang 10

bản thân và gia đình họ sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi

họ bị suy giảm, mắt khả năng lao động, mắt việc làm hoặc chết Nhờ có sự

đảm bảo thay thé hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà nông dân tham ga BHXH

tự nguyện nhanh chóng khắc phục được những tổn thất vật chất, sớm phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tếp tục quá trình lao động, hoạt động bình

thường của bản thân

- BHXH tự nguyện cho nông dân góp phần thực hiện công bằng xã

hội Phân phối trong BHXH là sự chuyển dich thu nhập mang tinh xi hội, là

sự phân phối lại giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập

của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm, thu nhập ổn định cho

những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất

và trong cuộc sống Vì vậy, BHXH tự nguyện góp phần làm giảm bớt khoảng

cách giữa người giầu và người nghèo

- BHXH tự nguyện cho nông dân góp phần phòng tránh và hạn chế

tôn thất, đảm bảo an toàn cho sản xuất và đời sống xã hội của người nông

dân

- BHXH tự nguyện cho nông dân góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đắt nước [11]

1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân

Nguyên tắc BHXH tự nguyện cho nông dân là những quy định nhằm

đảm bảo cho các hoạt động BHXH tự nguyện diễn ra bình thường, đạt được

mục tiêu mong muốn của nó Nguyên ắc của BHXH tự nguyện cho nông dân

là những định hướng, những quy định và những phương thức hoạt động của

cả hệ thống BHXH nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Theo nghĩa đó, BHXH tự nguyện cho nông dân phải được xây dựng trên nền tảng các nguyên

tắc cơ bản sau:

Trang 11

1.1.4.1 Nguyên tắc tự nguyện tham gia và hưởng BHXHTNỀ

BHXH tr nguyện cho nông dân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của nông dân với tư cách là người tham gia BHXHTN cũng là người hưởng

BHXHTN Trước hết chúng ta cần làm rõ chủ thể tham gia BHXHTN xét về mặt quan hệ sản xuất và quan hệ lao động Đối tượng này vừa là chủ tư liệu sản xuất (chủ yếu là ruộng đất, công cụ lao động thủ công, nhà xưởng gắn liền

với nơi ở, vốn tự có là chính .), vừa là chủ sức ho động (là người vừa tham

gia quản lý, vừa tham gia lao động) Họ không tham gia trực tiếp vào thị trường sức lao động (nếu họ không di chuyển nghề), nhưng sản phẩm hàng

hóa lầm ra lại tham gã vào thị trường và chấp nhận cạnh tranh quyết liệt Họ

tự hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tự quyết định phân phối, quyết định đầu tư và chỉ tiêu ngân sách trong thu chỉ gi đình Bởi vậy, quan

hệ của họ với BHXH là quan hệ "lỏng" hoặc quan hệ "mềm", không mang

tính bắt buộc như quan hệ ho động trong Bộ luật Lao động điều chỉnh Bởi

vậy họ tham gia BHXH mang tính "tự nguyện”, trên cơ sở suy nghĩ về "tính

lợi ích" khi tham gia BHXH Do đó, mọi chính sách BHXH có tính áp đặt,

cưỡng chế và bất lợi (cả trước mắt và lâu dài) đều dẫn đến khả năng thực thi

thấp hoặc thất bại

1.1.4.2 Nguyên tắc Nhà nước phải có trách nhiệm đối với quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân

Nha nude có vai tò quản lý vĩ mô mọi hoạt động KT-XH trên phạm

vi cả nước Với vai trò này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của

mình Cùng với sự tăng trưởng, sự phát triển của KT-XH, cũng có những kết quả bắt lợi không mong muốn Những kết quả bắt lợi này trực tiếp hoặc gán tiếp sẽ dẫn đến những rủi ro cho người nông dân tham gia BHXHTN Khi xảy

ra tình trạng như vậy, nếu không có BHXH thì Nhà nước vẫn phải chỉ Ngân

Trang 12

sách để giúp đỡ nông dân dưới một dạng khác Sự quan tâm của Nhà nước

trong việc thực hiện chính sách BHXHTN làm cho đời sống nông dân én đnh

mà còn làm cho sản xuất ôn định, KT-XH của đắt nước phát triển

1.1.4.3 Nguyên tắc lẫy số đông bù số ít và kết hợp hài hòa lợi ích như cẳu

BHXHTN cho néng dan

BHXHTN cho nong dan li hình thức chia sẻ rủi ro của số ít người cho

số đông người cùng gánh chịu Chỉ có thực hiện việc san sẻ này thì nông dân

mới có thể được đảm bảo vẻ thu nhập khi họ bị gảm hoặc mắt thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp khi gặp phải những biến cố (còn gọi là "rủi ro xã hộï'

Nhu cau BHXHTN cho nông dân là cần thiết đối với mọi nông dân

Song nhu cầu đó phải dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa lợi ích, các khả năng của

người tham gia BHXH cũng như của Nhà nước Khi người nông dân sử dụng

thu nhập của mình để tham gia BHXHTN thì trước hết họ phải dành phần lớn chỉ cho chỉ tiêu sinh hoạt đời sống hàng ngày của bản thân và gia đình, phần còn lại mới có thể xem xét để đóng phí BHXHTN Nếu thu nhập thắp dẫn đến

sự lựa chọn mức đóng thấp thì lợi ích trước mắt của người nông dân sẽ tăng

lên, nhưng khi họ có nhu cầu được BHXH thì đương nhiên chỉ nhận được trợ

cấp thấp Ngược lại, muốn được hưởng trợ cấp BHXH cao, lẽ đương nhiên sẽ phải đóng phí cao hơn, phần chỉ cho đời sống hàng ngày lại phải giảm đi Nếu người tham gia BHXHTN đóng phí BHXH thấp mà hưởng trợ cấp BHXH cao, sẽ ảnh hưởng đến mức độ an toàn của quỳ BHXH Tính chất lâu dài của

chính sích BHXHTN sẽ ít có khả năng thực thị còn nếu buộc Nhà nước phải

bi đắp toàn bộ chênh lệch đó, thì ảnh hưởng đến Ngân sách Nhà nước Dic biệt là ở nước ta hiện nay đang trong tình trạng bội chỉ Ngân sách Nếu Nhà

nước không có trách nhiệm đối với quỹ BHXH tự nguyện thì ảnh hưởng đến

quyền lợi của người tham ga BHXH tự nguyện, bởi lề tiền lương hưu và trợ

cấp BHXH thực tế sẽ thắp hơn danh nghĩa do đó tính hấp dẫn của chính sách

Trang 13

cũng như khả năng thực thỉ của chính sách BHXH tự nguyện cho nông dân về lâu dài là không thể thực hiện được Vì vậy trong nghiên cứu xây dựng các

thiết chế hoặc trong điều hành BHXHTN cu thé cần phải tìm ra giải pháp để

kết hợp hài hòa lợi ích lâu dài của người lao động, cũng như đảm bảo kết hợp

hài hòa giữa lợi ích của người tham gia BHXH và lợi ích của Nhà nước

1.1.4.4 Nguyên tắc mức hướng tiền lương hưu tỷ lệ thuận với mức đóng góp

bảo hiểm xã hội

Là hình thức tự nguyện, không bao hàm chính thức trợ cấp ưu đãi nên BHXH tự nguyện cho nông dần phải được xây dựng trên nguyễn tắc mức

hưởng tiền lương hưu phải tỷ lệ thuận với mức đóng góp BHXH, đồng thời cũng là nguyên tắc đảm bảo quỳ BHXH an Đàn, khuyến khíh người ho

động tham gia BHXH tự nguyện

Phần đóng góp và hưởng thụ của người tham gia BHXH tự nguyện

cần phải được tiền tệ hóa Nguyên tắc này đảm bảo thuận tiện cho việc quản

lý quỹ BHXHTN Tuy nhiên môi quan hệ giữa đóng góp và hưởng thụ cũng

cần được xem xét trong mối quan hệ với giá cả của các sản phâm thiết yếu trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày Giải quyết được vấn để này đảm bảo

cho chính sích BHXH tự nguyện nông dân mang tính thực thi cao

1.1.4.5 Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân phải được phát triển dầm từng bước phù hợp với các điều kiện KT-XH của đắt nước trong từng giai

đoạn phát triển

BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện kinh tế - xã hội, với cơ chế và trình độ quản W, đặc biệt là với sự đồng

bộ, hoàn chỉnh của nền pháp chế nước đó Trong khi nền kinh tế thị trường

theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang hình thành, nhều lĩnh vực kinh

tế - xã hội đang chuyển dịch mạnh Vì vậy việc xây dựng và phát triển BHXH

Trang 14

tự nguyên cho nông dân phải đảm bảo chắc chắn, tính toán thận trọng và phải có

bước điphù hợp,

Sự phát triển của BHXH nói chung biểu hiện trên nhiều mặt: cơ cấu các bộ phận của hệ thống, số lượng và cơ cấu các chế độ trợ cấp, mức trợ cap,

lệc để hưởng tợ cấp, mức đóng phí BHXHTN Nếu không

cân nhắc thận trọng và lựa chọn bước đi hợp W sẽ có thể phát sinh trục trặc không thể kiểm soát được [11]

1.2 Nội dung chính sich báo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân Theo quy định của luật BHXH về BHXHTN thì nội dung chính sách

'BHXHTN cho nông dân, gồm các nội dung cơ bản cụ thể su:

1.2.1 Đối tượng áp dụng

Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện của nông dân là tắt cả các nông

dan Việt Nam trong độ môi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ

đủ 15 tuổi đến đủ 5S tuổi) mà không thuộc diện áp dụng của pháp luật về BHXH bắt buộc, bao gồm

trong các hợp tác xã, liên hợp tác xã nông nghiệp

Ngoài ra, déi tượng nông dân tham ga BHXHTN có thể là người nông

dân trước đây đã tham gia BHXH bắt buộc tại các cơ quan nhà nước, các

doanh nghiệp nhưng do quá trình sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và cải cách

hành chính Những lao động thuộc diện "dôi dư" đó chưa nhận trợ cấp bảo

hiểm một lần còn trong độ tuổi và khả năng lao động thuộc đối tượng tham gia

BHXHTN

Trang 15

~ Lao động do bầu cử tại xã, phường được bỗ nhiệm vào các tô chức dân cử như Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp cơ sở, các đoàn thẻ và tô chức quần chúng sau khi hết nhiệm kỳ không được bằu lại, không tiếp tục làm việc và đóng BHXHBB có nhu cầu tếp tục tham gia BHXHTN

Như vậy, người lao động là nông dần không thuộc diện tham gia

BHXH bắt buộc thì thuộc đối tượng tham gia loại hình BHXH tự nguyện Mặt khác, những người trước đây đã tham gia BHXH bắt buộc nhưng vì nhiều lý:

do khác nhau nay không tham gia BHXH bắt buộc nữa cũng được phép chuyên

sang tham gia BHXH tự nguyện và được lên thông dé tính thời gian và mức

tiền đồng góp để thực hiện chế độ hưu trí và tứ tuất

1.2.2 Mức đóng, phương thức đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện nông dân

BHXH tự nguyện nông dân thực hiện tiên cơ sở tự nguyện của người tham gia Để được hưởng BHXH, người nông dân phải đóng BHXHTN theo

phương thức hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần Mức đóng BHXH

bằng tỷ lê % đóng BHXH nhân với thu nhập tháng của người tham gia BHXH Người tham gia BHXH tự nguyện được lưa chọn mức đóng và phương thức đóng phủ hợp với thu nhập của mình Mức đóng này tính trên co

sở mức thu nhập tháng đóng BHXH nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung

1.2.3 Các chế độ Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân

Người nông dân tham gia BHXH tự nguyện được hưởng hai chế độ:

hưu trí và tử tuất

~ Chế độ hưu trí: Theo quy định của luật, người tham gia BHXH tự nguyện đủ điều kiện hưởng lương hưu nếu đủ một trong các điều kiện sau:

Nam đủ 60 tuôi, nữ đủ 5Š tuổi và có 20 năm đóng BHXH trở lên; nam từ 55

tuổi trở Ên và nữ từ đủ 50 tuổi trở lên đối với người tham gia BHXH tự nguyện mà trước đó có tổng thời gian đóng BHXH bắt buộc đủ 20 năm trở

Trang 16

Is

lên, trong đó có 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc; người tham gia BHXH tự nguyện mà trước đó có tổng thời gian đóng BHXH bắt buộc đủ 20

năm trở lên, bị suy giảm khả năng ho động từ 61% trở lên

Tỷ lệ lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2% đối với

nam và 3% đối với nữ, mức tối đa bằng 75% Mức bình quân thu nhập tháng

được tính bằng thương số của tổng các mức thu nhập đóng BHXH với tông số

tháng đóng BHXH Mức này được lấy làm cơ sở để tính mức trợ cắp một lần khi nghỉ hưu; mức hưởng BHXH một lần; tính hưởng chế độ hưu trí đối với

người tham gia BHXH tr nguyện trước đó đã tham gia BHXH bắt buộc

~ Chế độ từ tuắt: người lào động đã có ít nhất 5 năm đóng BHXH tự

nguyện hoặc đang hưởng lương hưu khi chết, người lò mai táng được nhận trợ

cắp mai táng bằng 10 tháng tiền lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định

Người lao động đóng BHXHTN, người đang hưởng hương hưu hoặc người lo động đang báo lưu thời gian đồng BHXH khi chết thân nhân được

hưởng trợ cắp một lần Mức trợ cắp một lần cứ 01 năm đóng BHXHTN bằng

1.5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH Còn đối với thân nhân

người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu Nếu chết trong 2 tháng đầu khi nghỉ hưu thì được tính bằng 48 tháng

lương hưu đang hưởng Còn chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm Ì tháng hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu Người tham gia

BHXH tự nguyện được cắp số BHXH, hưởng BHYT khi đang hưởng lương

hưu và được phép ủy quyền cho người khác nhận lương hưu và trợ cấp

BHXH B} [5] [23]

Trang 17

1.3 Nội dung thực hiện tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho

nông dân

Theo từ điển tiếng việt thì đăng cường nghĩa là làm cho tăng thêm về số lượng, vẻ khả năng [13]

Như vậy tăng cường bao gồm những nội dung cơ bản sau:

~ Sự gia tăng về số lượng;

~ Quy mô được mở rộng;

~ Tăng khá năng đáp ứng cho đối tượng được phục vụ

Vi vay, ndi dung tăng cường Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân

là việc mở rộng về quy mô, gia tăng về số lượng và tăng khả năng đáp ứng

các dịch vụ cho nông dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Nội dụng cụ

thể, gồm;

1.3.1 Đánh giá nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân Nhu cầu được hầu là tất cả những đòi hỏi và mong muốn của con người cần được đáp ứng và thỏa mãn Về thực chất nhu cầu h một cảm giác thiếu thốn, là một trạng thái căn thăng liên quan đến những đòi hỏi của cá

nhân, tự nhiên và xã hội [20, tr 19]

Để xác định nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân, người ta thường tô chức điều tra, đánh giá trên diện rộng nhu cầu và khả năng

tham gi BIIXHTN của nông dân

Những năm vừa qua ở một số địa phương như, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh đã tiến hành việc tổ chức BHXHTN cho một bộ phận hao

động nông thôn Song qua nghiên cứu cho thấy các mô hình đó vẫn chưa thấy

rõ tính xã hội, tính hiệu quả và bền vững, về cơ bản các thí điểm này là thất

bại, trừ BHXH nông dân Nghệ An tổn tại đến ngày nay, song nguy cơ vỡ quỹ

trong dài hạn là rất cao Điều này thể hiện ở một số nét su:

Trang 18

+ Mức đóng góp rất thấp, trong khi chỉ số gi tiêu ding (CPI) lại biến động, biện pháp bảo toàn chủ yếu là gửi tiết kiệm nên mức chỉtrả rất thấp, chỉ có

ý nghĩa về tỉnh thẳn, không có ý nghĩa về mặt kinh tế, ồn định đời sống người

lao động lúc tuổi già; khả năng vỡ quỹ là khôngkhó tránh khỏi

+ Chưa có một nghiền cứu và điều tra nào ở quy mô lớn về nhu cầu thật

sự và khả năng đóng BHXH tự nguyện cửa người nông dân Tức là nhu cầu

có khả năng đáp ứng trên cơ sở phân tích thu nhập, hạch toán cân đối thu - chỉ

ngân sách gia đình các Hộ gia đình, nên thiếu cơ sở để xác định mức đóng

góp của người tham gà Bảo hiểm

+ Chưa được thực hiện trên cơ sở thết kế hệ thống BHXH, mà làm theo kiểu cục bộ và hành chính, nghiệp dư, nên rất dễ rơi vào tình trạng hoạt động tự phát, lỏng lẻo và không ồn định, lâu bẻn

+ Thiếu cơ sở pháp lý ở tầm cao, nhất là về điều lệ hoạt động, cơ chế quản lý quỹ, chính sách BHXH nên rất khó khăn trong tô chức thực hiện và

xử lý những tỉnh huống phát sinh

Các khó khăn trên đây, nếu được phân tích kỹ và có biện pháp xử K tốt

thì mới có khả năng từng bước thực hiện BHXHTN cho đối tượng này thong

qua một mô hình BHXH thống nhất của Nhà nước

Tiên đây là mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năng (điều kiện) tham gia

BHXH của lao động khu vực nông nghiệp được xem xét về mặt nguyên lý, lý

thuyết Tuy nhiên, khi thiết kế một chính sách BHXH cho lao động nói chung

cho lao động khu vực nông nghiệp nói riêng, cần phải dựa trên quan điểm thực chứng tức là phân tích nhu cầu và khả năng thực tế thông qua kết quả

điều tra, khảo sát cơ bản hoặc nghiên cứu tình huống Viện KHLĐXH, năm

2006, đã tiến hành khảo sát vẻ triển vọng tham gia BHXH tự nguyện của bo động nông thôn tại 10 tỉnh, trong đó có tỉnh Quảng nam, với cỡ mẫu 3.412 hội

gia đình (gọi tắt cuộc điều tra là VSIR) [27]

Trang 19

Kết quả điều tra (VSIIS) nhu cầu tham gia của BHXH ở khu vực này cho

BH hưu trí, 65 42%/ tổng mẫu khảo sát, số

người được hỏi có nhu cầu (42,06% muốn tham gia BH hưu trí tự nguyện và 23,36% muốn tham gia BH hưu trí bắt buộc) Có tới 45,79% số đối tượng

khảo sát sẵn sàng tham gã chế độ tử tuắt (24,30% muốn tham gia chế độ tử

tuất tự nguyện và 21,5% bắt buộc), nhu cầu về tham gia BHYT tự nguyện

chiếm 82,24% tính chung lại, nhu cầu sẵn sảng tham gia các bại hình BHXH là 47,8% là tỷ lệ khá cao, nếu dùng tỷ lệ này suy rộng ma thì nhu cầu

tham gia BIIXHTN cả nước lên tới gần 192 triệu người Nhu cầu này l hoàn toàn chính đáng, song khả năng thực tế là không thể, vì yết

ố quyết định để

Trang 20

người lo động có thé tham gia BHXHTN li khả năng đóng BHXH dựa trên thu nhập của chính người nông dân

Người lao động khu vực nông nghiệp chủ yếu là người thuộc điện nghèo,

cận nghèo đời sống rất khó khăn nên khả năng tham gia BHXH tự nguyện

rất thấp Nếu muốn tham gia phải có sự hỗ trợ của nhà nước hoặc người thân

Tuy nhiên, khả năng hỗ trợ của người thân cũng rất hạn chế

1.3.2 Tăng cường quản lý, mở rộng đối tượng tham gia và tỗ chức thu phí

bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân

Nông dân Việt Nam chiếm tỷ lệ khoảng trên 70% dân số, xét về lịch sir, mang những giá trị văn hoá đặc trưng, chứa đựng những nét bản sắc văn hoá

dân tộc Nhưng xét về góc độ kinh É thì lại chứa đựng những yếu tố cản trợ

sự phát triển của BHXHTN Đó là: Tỷ lệ thất nghiệp (tỷ lệ giờ lao độngnhàn

rỗi) cao gây áp lực tài chính nếu tham gia vào hệ thống BHXH Tính tự phát

và sự rời rạc trong hoạt động kinh tế nông nghiệp khiến cho việc tham gia BHXHTN gap nhiều khó khăn;

Độ "trễ" trong nhìn nhận các vấn đề mới của xã hội, trong đó đặc biệt

là vấn để BHXH cho người già Với quan điểm và nét văn hoá Á Đông "Trẻ

cậy cha, già cậy con" khiến cho quy mô tham gia BHXHTN, đặc biệt tham gia BHXHTN của người nông dân không thực sự trở thành một vấn đề cấp

thiết Một hệ thống BHXH nhân văn, hiện đại sẽ có mục đích bao phủ toàn bộ

số dân, bắt kể nông thôn hay thành thị Cho dù có thực hiện BHXH tự nguyện thì chắc chắn độ bao phủ vẫn rất thấp vì với những điều kiện để tham gia BHXH tự nguyện hiện tại còn nhiều điểm không phủ hợp đối với đại bộ phận

nông dân và dân cư nông thôn

~ Việc mở rộng phạm vi, đối tượng tham gia BHXH cho lao động khu

vực nông nghiệp phải có bước đi thích hợp, không thể làm ỏ ạt, tràn làn, mà

phải mở rộng dân từng bước vững chắc Bởi vì, khi người nông dân nhận thức

Trang 21

20

từ lợi ích đêm lại của BHXH tự nguyện đối với họ thì họ sin sing tham gia,

Song khi họ quyết định tham gia rồi thì phải thông qua một hình thức dịch vụ

như, cam kết bằng văn bản có giá trị pháp lý (chẳng hạn có bảng đăng ký

tham gia BHXH tự nguyên) được thỏa thuận đôi bên để ràng buộc trách

nhiệm giữa cơ quan BHXH và người tham ga BHXHTN, đồng thời cần phải đây mạnh dịch vụ quảng cáo, tuyên truyền, thông qua các kênh, đài, báo, trang Web để người nông dân nhận thức được quyền lợi, kết hợp với việc tăng cường vận động mạnh mẽ đề người nông dân tự giác tham gia

Trong khu vực nông nghiệp do không có quan hệ lao động hoặc có

quan hé lao động nhưng tắt sơ khai đơn giản, nên cần thiết phải có có chính

sich BHXHTN cho người nông dân một cách phù hợp để họ có thể tham gia

BHXH tự nguyện

Nguyên c cơ bản của chính sích BHXH tự nguyện cho nông dân là sự

tham gia tự nguyện của người nông dân khi còn trong độ tuôi lao động và có việc làm, có thu nhập đóng góp vào quỹ BHXH tự nguyện Thuận lợi cơ bản

là chính sích BHXH tự nguyện cho người nông dân đã được luật hóa phù hợp với chủ tương lớn của Đảng và Nhà nước về BHXH cho người lao động

trong mọi thành phần kinh tế, được thể chế hóa trong lật BHXH về

BHXHTN và được tập trung chỉ đạo thực hiện Mặt khác, nhu cầu tham gia

BHXH tự nguyện của lao động khu vực nông nghiệp là rất lớn, khi nhà nước

có chính sách, cơ quan tổ chức thực hiện tăng cường các dịch vụ từ công tác

thu, chi trả các chế độ BHXHTN cho người nông dân tham gia tốt, chất

lượng tạo ra sản phẩm phủ hợp với lợi ích của người nông dân, thì họ sẽ

nhiệt tinh tham gia Đây là điều kiện hết sức quan trọng để mở rộng phạm vi

đối tượng nông dân tham gia BHXHTN theo luật định Tuy nhiên, BHXHTN

ở khu vực nông nghiệp cần chọn con đường nào? Cách nào? Hay nói cách

khác là giải pháp gì để tăng quy mô, mở rông về người nông dân tham gia

Trang 22

21

BHXH tự nguyện một cách nhanh hơn đề có thể thực hiện được mục tiêu

BHXH cho mọi người lao động theo Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng

là việc làm cần thết đối với cơ quan BHXH tỉnh

Cơ sở để xác định và tổ chức thực hiện công tác thu phí BHXHTN là đối tượng nông dân tham gia BHXHTN còn mức đóng cũng như phương thức

đóng BHXHTN đối với người nông dân là căn cứ vào trình độ phát triển KT-

XH của mỗi quốc gia và được cụ thể hóa trong các nội dung văn bản của nhà

nước Về nguyên tắc thì mọi người lao động có nhu cầu đều được tham gia BHXH tự nguyện Tuy nhiên, hầu hết ở các nước đều thực hiện cách tiếp cận

từ từ để mở rộng đối tượng trong hệ thống BHXH tự nguyện Khi quản lý

được đối tượng tham gia và những đối tượng bị loại trừ khỏi hệ thống

BHXHTN Việc xác định này dựa trên cở sở điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, trình độ quản lý của cơ quan BHXH và các điều kiện khác như tuyền thống, văn hóa, dat đai, mùa vụ và những thên tái, giá cả

được đám bảo và én định theo quy định của luật BHXH thì đối tượng tham

gia BHXH tự nguyện nông dân là nông dân Việt Nam có từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ, không thuộc diện áp dụng của

pháp luật về BHXH bắt buộc là đối tượng mà cơ quan BHXH phải có trách nhiệm quản lý để tăng cường, tuyên truyền vận động họ tham gia

Về mức đóng góp, phương thức đồng: Người nông dân tham gia BHXH tự

nguyện bao gồm nhiều loại hình ho động có các hình thức thu nhập khác nhau, nên phải xác định mức đóng BHXH tự nguyện sao cho nhiều đối tượng có thể

tham gia, đảm bảo cho việc hạch toán cân đối thu chỉ BHXH tự nguyện được

thống nhất, dễ dàng Vì vậy, công thức được xác định như sau

Trang 23

Mức đóng BIIXH tr nguyện của nông dân được xác định theo công thức sau

- Mức thu nhập thắng người tham ga = Lmin + m x

50.000(đồng/tháng)

~_ Lmin: là mức lương tối thiểu chung do nha nước quy định từng thời

điểm.,m: số nguyên > 0, m= 0,1,2,3 n

Mức thu nhập tháng người tham gia BHXH ty nguyện lựa chọn bằng

mức lương tối thiêu chung, cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung do

nhà nước quy định từng thời điểm

Ty lệ % đóng BHXTN của người nông dân cần xây dựng một cách linh

hoạt, phủ hợp với điều kiện của người nông dân, bởi khi người nông dần thu

nhập không ôn định hịi thấp nên lúc có thu nhập cao do được mùa, do thời

sian nông nhàn người ta có đi ầm thu tạo thêm thu nhập, thu nhập từ các

nguồn khác cho nên chính sách cần đưa ra mức đóng hết sức mềm dẽo lĩnh

hoạt để kích thích cho người nông dân tham gia BHXH tr nguyện

Phương thức đóng phí bảo hiểm cần mở rộng hơn không nên quy định

quá gò bó gây khó khăn cho người nông din, vi người nông dân không phái lúc nào cũng có tiền mà phải qua một thời vụ mới có thu nhập, khi có thu nhập mà quá thời hạn đóng phí thì không có cơ hội để đóng sẽ làm người ta

nãn chí không muốn tham gia cho nên cần phải tăng thêm thời gian đóng, tạo

ra sự hài lòng cho đối tượng dé thu hút người nông dân tham gia BHXHTN

ngày càng ñng cả quy mô về số lượng và chất lượng [2]

Trang 24

B

1.3.3 Mở rộng các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân

Trong Công ước 102 (ILO, 1984) quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội của Tổ chức lao động quốc tế quy định 9 chế độ BHXH, nhưng không bắt buộc các quốc gia phải thực hiện cả 9 chế độ đó mà chỉ khuyến khích các nước thành viên thực hiện ítnhất 3 chế độ (đặc biệt lưu ý chế độ 3, 4, 5, 8, 9)

1 Chăm sóc y tế; 2 Phụ cấp ốm đau; 3 Trợ cấp that nghiệp; 4 Trợ

cấp mỗi già; 5 Trợ cấp tai nạn lo động; 6 Trợ cắp gia đình; 7 Trợ cắp thai sin; 8 T rợ cấp tàn phế; 9 Trợ cắp mắt người nuôi dưỡng

Cơ sở để xác định thực thi mdi chế độ BHXHTN là căn cứ vào trình

độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Hiện tại ở Việt Nam, BHXHTN cho nông dân chỉ áp dụng 2 chế độ, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất là chưa phù hợp, theo điều tra của đề tài trên (trang 19) ở đối tượng BHXHTN được khảo sát thì ngoài nhu cầu tham gia BHXHTN ở 2 chế độ hưu trí, tir tat ho còn có nhu cầu tham gia BHYT tự nguyên(44.86%), chế độ tai nạn lao động

23%, dưỡng sức 24% điều đó có nghĩa là chính sách chế độ BHXHTN đối với người nông dân cần được tăng cường nhằm tạo ra một sản phẩm mới phù

hợp đáp ứng nhu cầu của người tham gia [20]

1.3.4 Tăng cường chất lượng dịch vụ bảo hiễm xã hội tự nguyện cho nông

dân Theo TCVN và ISO-9000, thì chất lượng dịch vụ là mức phù hợp của

sản phẩm dịch vụ thoả mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua

CLDV là sự tạo nên trừu tượng, khó nắm bắt bởi đặc tính rêng có của dịch vụ, sự tiếp cận chất lượng được tạo ra trong quá trình cung cấp dịch vụ, thường xảy ra trong sự gặp gỡ giữa khách hàng và nhân viên giao tp

CLDV chính là sự thoả mãn khách hàng được xác định bởi việc so sinh

giữa chất lượng cảm nhận và chất lượng trông đợi (P&E) [30]

Trang 25

Chất lượng chính là các đáp ứng sự kỳ vọng của khách hàng Vì vậy, phải coi BHXH tự nguyện nông dân thực sự là một dịch vụ, là một dịch vụ

thể hiện ở các điểm:

~ Cần có sự lĩnh hoạt trong quan hệ đóng góp, khi người nông dân có

nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện, thay vì họ phải tìm đến cơ quan BHXH

để tìm hiểu thông tin, cách thức đóng góp thì cán bộ BHXH cần chủ động tiếp xúc cộng đồng dân cư để có thông tín từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho người

nông dân trong việc tham gia đóng gop

~ Cần có sự linh hoạt trong việc cung cấp thông tin, tổ chức thu, chỉ trả

BHXH tự nguyện cho người nông dân kịp thời, đầy đủ, tin nơi, khi có phát

sinh quyền lợi BHXH:

~ Người tham ga BHXH tự nguyện là nông dân cho nên việc di chuyển

lao động giữa các vùng miền, các địa phương dễn ra tắt thường xuyên và phổ

biến, vì vậy hệ thống BHXH tự nguyện cần có sự ứng dụng công nghệ thông

tin rất cao trong toàn hệ thống nhằm nói mạng cập nhật thông tin về nhân thân của người lao động kịp thời nhằm tạo điều kiện cho họ được thụ hưởng quyền

lợi khi phát snh

Chủ thể tham gia BHXH xét về mặt quan hệ sản xuất và quan hệ ko

động là Hộ gia đình Họ vừa là chủ tư liệu sản xuất, vừa là chủ sức lao động

Hình thức Ö chức sản xuất kinh doanh chủ yếu là quy mô Hộ gia đình &nh'

tế hộ gia đình), hoặc làm nghề tự do, hoặc làm thuê ở khu vực phi chính thức

Họ tự hạch toán kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tự

quyết định phân phối, quyết định đầu tr và chỉ tiêu trong ngân sách thu - chi gia đình hoặc nhận tiền công, tiền lương ở mức thấp Tóm lại, họ là chủ thể của một thực thê kinh tế - "kinh tế Hộ gia đình" hoặc tự làm và làm thuê

không có hợp đồng lao động Từ đó, việc tham gi BIIXH là hoàn toàn mang

tính cá nhân, tự nguyện Về cơ bản, họ chưa có dịp tiếp cận và sống quen với

Trang 26

2s

đời sống, môi trường BHXH Bởi vậy, chính sách BHXH đối với họ phải gin liền với cuộc vận động trong nhân dân, trên cơ sở họ suy nghĩ về " tính lợi ích" của mìh khi tham ga BHXH tự nguyện Đây là vấn đề rắt mới và phức tạp Mọi chính sách BHXH có tính áp đặt, cưỡng chế và bắt lợi (cả trước mắ

và lâu đài) cho họ đều không khả thi hoặc thất bại Điều này đòi hỏi phải kiên

trì mở rộng các sản phâm dịch thông qua kênh tuyên truyền, thuyết phục, làm

từng bước, tạo cho họ quen dẫn với môi trường BHXH hay nói cách khác là

phải tăng cường các dịch vụ về BHXH tự nguyện để người nông dân có đều

kiện tiếp cận và tự giác tham gia

1.3.5 Tăng cường mạng lưới làm công tác Bảo hiễm xã lội tự nguyện cho nông dân

Do đặc điểm của người nông dân sinh sống trong địa bản nông thôn rông lớn, phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, việc tiếp cận được với người

nông dân chủ yếu sau giờ mà người nông dân kết thúc công việc đồng án, thường là giờ trưa, tối cho nên để tuyên truyền vận động được người nông dân tham gia thì một trong những điều kiện có tính chất quyết định thực hiện

sự nghiệp BHXHTN là phải xây dựng, mở rộng được hệ thống cán bộ làm

công tác BHXHTN Điều kiện này thể hiện chủ yếu ở các mặt sau:

~ Việc tổ chức thực hiện chính sách BHXHTN cho người nông dân phải

có bước đi thích hợp, không ở ạt, tràn lan theo kiểu phong trào Mà ngược bi,

phải thực hiện thận trọng, chặt chẽ, su đó mới mở rộng dẫn từng bước cho

phi hop

~ Bộ máy quản lý sự nghiệp BHXHTN ở các cắp, phải thật tỉnh gon

Đặc biệt là phải xây dựng hệ thống đại diện BHXHTN ở xã phường, trên cơ

sở đó phải mở rộng mạng lưới làm công tác BHXHTN từ thôn, bản, khối phố,

thông qua mạng lưới này để trực tiếp thực hiện công tác tuyên truyền vận

động, tổ chức thu, chỉ trả các chế độ BHXHTN cho người nông dân, khi mở

Trang 27

26

rong thì mạng lưới này phải được nhà nước quy định cụ thể, rõ ring về chức

năng, nhiệm vụ và quyền hạn

~ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là linh hồn, là hạt nhân của tổ

chức Bộ máy mạnh hay yếu, phát huy hiệu quả cao hay thấp là tuỳ thuộc vào vấn đề cán bộ Do đó đố sự nghiệp BHXHTN

phải đảm bảo các yêu cầu tối thiểu về chuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt phái

là người có đạo đức trong sáng có tỉnh thần phục vụ tân uy đối với NLĐ, tất

cả vì sự nghiệp BHXH của toàn dân Chỉ có như vậy, sự nghiệp BHXHTN của nông dân mới có thể thực hiện va phát triển được ở Việt Nam [10]

~ Kiểm tra: một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu thập thông tin để có

được những phán đoán, xác định xem việc thực hiện tăng cường bảo hiểm xã

hội tự nguyện cho nông dân đã triên khai như thế nào và kết quả ra sao

~ Đánh giá: quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những lượng giá về bản chất và phạm vi của kết quả việc thực hiện tăng cường bảo hiểm xã hội tự

nguyện cho nông dân so với các tiêu chí và tiêu chuẩn thực hiện đã để ma [17]

Chương trình thực hiện tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân được đánh giá, xem xét thông qua các tiêu chí như: xem xét nhu cầu tham gia BHXHTN như thế nào? mục tiêu thực hiện có đạt được hay

không Việc kiểm tra, đánh giá là một khâu cơ bản, l một nhiệm vụ thường

xuyên không thể thiếu được của cơ quan BIXH và các đơn vị liên quan

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện tăng cường bảo hiểm

xã hội tự nguyện cho nông dân 1.4.1 Hệ thống luật pháp và chính sách về bảo hiểm xã hội tự nguyện Việc ban hành chính sách pháp luật về BHXH tự nguyện xuất phát từ một vấn đề xã hội lớn và khá bức xúc của nhân dân là: Trong những năm qua

Trang 28

ốm đau, từ trần, họ không được hưởng BHXH

Luật BHXH về BHXH tự nguyện có hiệu lực thi hành từ ngày

1/1/2008 Như vậy, sau nhiều năm mong đợi đến nay những người lao động

không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, đó là người nông dân đã có cơ

hội tham ga BHXH tự nguyện, họ đã thực sự bình đăng như mọi người lo

động khác về chính sách BHXH

Người nông dân tham ga BHXH tự nguyện sẽ thực hiện hai chế độ dài

hạn R hưu trí và tử tuất BHXH tự nguyện trước hết B một loại hình BHXH,

phản ánh đầy đủ bản chất của BHXH cả tính kinh tế và xã hội, đó là đảm bảo

6n dinh đời sống cho người ho động trước những rủi ro bắt ngờ, giáp họ vượt qua những khó khăn Tính xã hội trong BHXH được hiểu là sự thống nhất về phương thức đóng - hưởng và điều tiết xã hội trong phạm vi cả nước do nhà

nước đứng ra chịu trách nhiệm Đồng thời tính xã hội của BHXH còn thể hiện

ở chỗ không phân biệt đối với người ho động thuộc các thành phần kinh tế

khác nhau, thuộc các loại hình ho động khác nhau Do vậy, với chế độ hưu

tri, tir twat thì khi đóng góp theo phương thức giống nhau phải được hưởng

thụ theo phương thức như nhau và chỉ đóng góp khác nhau mới hưởng thụ khác nhau [27]

1.4.2 Nhận thức của nông dân

Do BHXH tự nguyện cho người nông dân mới được áp dụng rộng rãi trên quy mô cả nước từ năm 2008 nên trình độ nhận thức của các nhà quản lý,

của xã hội và người dân đối chính sách này không đồng đều còn nhiều hạn

Trang 29

28

chế Theo kết quả điều tra của đề tài KH 02.02/06-10, năm 2007 thì tỷ lệ người dân chưa có hiểu biết về BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói

riêng chiếm tỷ lệ khá cao, trong đó, nông dân chiếm tỷ lệ 35,92% thuimg

nông dân có trình độ dân trí thấp, phần lớn là ho động phổ thông không qua

đào tao về kĩ năng, không được đào tạo về kỹ thuật nghề nghiệp, không có tay nghề là chủ yếu

Đối với cơ quan hoạch định chính sách trong thời gian qua mới tập

trung vào khu vực làm công ăn lương, có quan hệ lao động là chủ yếu, chưa

quan tâm thật đúng mức đến công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho

người nông dân để họ nắm bắt được chủ trương chính sách BHXH tự nguyện

1.4.3 Nhân tố về phát triển kinh tế Đây là nhân tố cơ bản quyết định trực tiếp để người nông dân có thể lựa

chọn tham gia BHXHTN được hay không Bởi vì nó liên quan đến việc đóng góp dé hình thành quỹ BHXHTN Lao động hoạt động trong các ngành sản

xuất nông nghiệp muốn tham gia BHXHTN thì phải có khả năng đóng BHXH

lúc đó "nhu cầu tham gia BHXH" mới trở thành "cầu tham gia BHXH" Chỉ

khi đó BHXHTN mới có thể ra đời và phát trên được Nghĩa là nông dân phải

có điều kiện để tiến hành sản xuất, kinh doanh để có thu nhập Hơn nữa, thu nhập này không những phải bảo đảm bù đắp đủ các chỉ phí sin xuat, trang trải các tiêu dùng trong cuộc sông cho cá nhân và gia đình, mà còn phải có phần

dư ra để tích luỹ Một phần tích luỹ được sr dụng để đầu tư thêm cho sản xuất, kinh doanh, thực hiện tái sản xuất mở rộng, phần còn lại của tích huỹ mới dùng để dự phòng cho cuộc sống tương lai của bản thân và trang trải những khi gặp rủi ro xã hội bị giảm hoặc mắt nguồn thu nhập thông qua việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXHTN nhằm đảm bảo cuộc sống cho tương lai khi hết tuổi lao động về gầ

Trang 30

Như vậy, điều kiện kinh tế cho việc ban hành và thực hiện loại hình

BHXHTN cho nông dân, chính là việc giải bài toán về tô chức sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ và phân phối thu nhập trong nền kinh tẾ nói chung và trong

từng gia đình người ho động nói rêng, sao cho có hiệu quả và thiết thực

Người nông dân, chỉ khi nào mà điều kiện knh tế khá giả thông qua việc thu

nhập ồn định từ phát triển sản xuất nông nghiệp ồn định, đảm bảo được mức

sống của mình và gia đình mình từ trung bình và khá trở lên, có tích luỹ mới

có thể có phần dư ra để tham gia đóng góp vào quy BHXHTN

1.4.4 Nhân tố về thu nhập 'BHXHTN là một bộ phận cấu thành của chính sách xã hội, là nhân tố góp phần ôn định, vừa là động lực thúc đây phát triển kinh tế- xã hội, độ bao

phủ của BHXHTN đối với người nông dân muốn tăng lên chủ yếu là phải dựa trên cơ sở phát triển kinh tế, tăng thu nhập, nâng cao mức sống nhân dân để từ

đó phát sinh (kích thích) nhu cầu, bởi vì người nông dân muốn tham gia BHXH tự nguyện thì phải có thu nhập bằng tiền Mức thu nhập đó phải đảm

bao mức sống tối thiểu và có một phần tiết kiệm Khoản tiết kiệm đó, người

nông dân mới có khả năng tham gia BHXHTN Theo

sống dân cư do Viện khoa học lao động và các vấn đề xã hội thì một hộ gia

đình ở nông thôn có thu nhập lên tới 1,13 triệu đồng/ tháng, bình quân thu

nhập ở nông thôn là 369.810đồng/tháng/lao động Do thu nhập tăng , đời sống

người nông dân từng bước được cải thiện, số hộ nghèo có xu hướng giảm dẫn,

+ quả điều tra mức

tỷ lỆ hộ khá giả và giàu tăng lên Đây là điều kiện kinh tế vững chắc để người

nông dân tham gia BHXH tự nguyện [18]

Theo kinh nghiệm của Quốc tế

it Quốc ga muốn phát tiên BHXH

tự nguyện thì GDP bình quân đầu người tương đối cao, khoảng 1.000USD/ng/năm trở Kn, thi khả năng mở rộng BIIXHTN tỷ lệ thuận với

mức tăng GDP đầu người Khi mức GDP bình quân đầu người dưới 450USD

Trang 31

30

(chưa vượt qua chuẩn nghèo thế giới) thì đối tượng tham gia sẽ không tăng

do đó việc việc mở rộng đối tượng không thể làm tràn lan cho tất cả mọi

người ho động được mà chỉ tập trung ở những người có mức thu nhập khá trở

ấp, không ổn định như nông dân muốn tham gia BHXH tự nguyện thì nhà nước phải có cơ chế hỗ trợ một

lên Như vậy những người có mức thu nhập

phần mức đóng để tạo điều kiện cho nông dân tham ga BHXHTN

1.4.5 Thể chế tổ chức bộ máy và cán bộ

Vì theo Luật Bảo hiểm xã hội, nội dung BHXH tự nguyện cho nông

dân chỉ triển khai hai chế độ đó l hưu trí và tử tuắt, đồng thời hai chế độ này

có rất nhiều điểm chung với chế độ hưu trí và tử tuất đối với loại hình BHXH bắt buộc Như vậy về mặt kỹ thuật tính toán cũng như tổ chức thực hiện thu — chỉ có sự tương đồng rất cao giữa hai hệ thống bắt buộc và tự nguyện.Thêm nữa, hiện nay ngành Bảo hiểm xã hội có một hệ thống tổ chức quản lý 3 cấp

khá hoàn chỉnh Vì vậy việc Chính phủ quyết định giao cho cơ quan Bảo hiểm

xã hội Việt Nam tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện cho nông dân là phủ

hợp, đã góp phần giảm chỉ phí trong quá trình tổ chức thực hiện, cũng như tận

dụng năng lực và kinh nghiệm của lực lượng cán bộ lầm công tác thu BHXH

bắt buộc hiện có Tuy nhiên, đối với tổ chức BHXH tự nguyện là nhiệm vụ

hết sức khó khăn, phức tạp vì đối tượng đa dạng, hình thức tham gia đơn lẽ,

phạm vi rộng Công tác thu BHXH tự nguyện của nông dan là thu trực tiếp

bằng tiền mặt của người tham gia tại các xã cho nên khối lượng công việc tăng, nên chính phủ cần có kế hoạch tăng cường bổ sung chức năng, nhiệm vụ

và bổ sung cán bộ cho cơ quan BHXH, ngành BHXH các cấp cần tuyển dụng

cán bộ có phẩm chắt, trình độ năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu đề

ra và nguồn kinh phí phục vụ cho quá trình tổ chức thực hiện BHXH tự

nguyện đối với người nông dân [26]

Trang 32

31

1.5 Kinh nghiệm tăng cường BIIXHTN cho nông dân ở tỉnh Nghệ An

Ở tỉnh Nghệ An, từ năm 1982 đến 1997 đã có 198 xã xây dung "Quy

hỗ trợ tuổi già" Năm 1998, UBND tỉnh Nghệ An ra quyết định thành lập BHXH nông dân Nghệ An và ban hành điều lệ tạm thời về BHXH nông dân

Nghệ An Từ ngày 5/1/1999 đã tiến hành cấp số BHXH nông dân cho §86

nông dân đầu tiền của § xã thuộc huyện Quỳnh Lưu và đến 31/5/2002 đã có

54.345 người tham gia Tổng số tiền Quỹ thu được gần 18 tỷ đồng, đã tÖ chức chỉ trả chế độ hưu cho 22 người, chế độ tử tuất cho 67 người, trợ cấp 1 lần

cho 30 người và trợ cấp khó khăn cho 7 người

Điều lệ tạm thời về BHXH nông dân Nghệ An có quy định rõ : Khi đã

đóng đủ 20 năm BHXH thì được hưởng 50.000 đồng/tháng với mức đóng,

10.000 đồng/tháng ; 100.000 đồn, 1g với mức đóng 20.000 đồng/tháng và 150.000 đồng/tháng với mức đóng 30.000 đồng/tháng Bên cạnh đó còn một

20 năm đóng vào quỹ BHXH nông dân có biến động bắt lợi

Ba là, tiền quỹ hiện nay thu được chủ yếu đầu tư tăng trưởng bằng mua trái phẩu, gởi tết kiệm có kỳ hạn chưa có giải pháp đầu tư kinh doanh phát triển tiền quỹ để có lãi suất cao

Bắn

hệ thống tổ chức, chức năng nhiệm vụ chưa được ban hành

đồng bộ Đây là vấn để bức xúc, kìm hãm sự phát triển, nhất là công tác quản

lý quỹ

Trang 33

2

Kinh nghiệm rút m từ việc thực hiện BHXH tự nguyện cho nông, dân ở tỉnh Nghệ An

~ Đối tượng tham gia BHXHTN cho nông dân thường gặp phải rủi ro

xã hội nhiều hơn so với các đối tượng phải tham gia BHXHBB

~ Vị thế kinh tế yếu kém của nông dân dẫn đến thu nhập của họ rất thấp, lại thất thường, không ổn định

~ Nhận thức về BHXHTN thấp vì vậy khi ban hành và thực hiện chính sách BHXHTN cần có:

+ Chính sách phải “mởm đ¿ø”(nhiều mức đóng góp, nhiều phương thức đóng góp, nhiều mức thụ hưởng và tính riêng cho từng chế độ sẽ áp dụng )

để cho nông dân tự giác lựa chọn tham gia

+ Luôn đảm bảo nguyên tắc tự nguyện

+ Quỹ phải được hạch Đán độc lập, quản lý tập trung thống nhất theo

quy định quản lý tài chính của nhà nước, đảm bảo công bằng, công khai và

dân chủ trong toàn hệ thống

+ Quỹ phải được nhà nước bảo hộ, hỗ trợ thêm khi cần thất và thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, kiểm soát

Trang 34

3

CHƯƠNG2

'THỰC TRẠNG TĂNG CƯỜNG BẢO HIẾM XA HOI TU NGUYEN

CHO NONG DAN TINH QUANG NAM

2.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Quảng Nam ảnh hưởng đến việc

tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân ở tỉnh Quảng Nam 2.1.1 Vị trí địa lý

Quảng Nam là tỉnh ven biển, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miễn

“Trung, có 18 huyện, thành phố ( trong đó có 2 TP Tam Kỳ và Hội An); tổng, diện tích tự nhign 10.406 km’, nằm ở trung độ của cả nước Phía đông gấp với biển đông, phía tây gip với tnh Kon Tưm và tỉnh Xê Kông (Lào), phía

nam giáp với tỉnh Quảng Ngài, phía bắc gáp với thành phố Đà Nẵng và tỉnh

“Thừa Thên - Huế

Phía đông có bờ biển chạy dài trên 125km, vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 40.000 km” nhiều ngư trường với nguồn lợi hải sản phong phú để phát triển nghề khai thác thuỷ sản Vùng ven biển có hai cửa sông lớn ăn

thông với biển là Cửa Đại - Hội An và cửa An Hoà - Núi Thành, hình thành

hai vùng cửa lạch làm nơi đi lại và trú đậu thuận tiện cho tàu thuyền đánh cá

Phía đông bắc có cum đảo Cù Lao Chàm cách thành phố Hội An 15km về phía đông đã được công nhận là khu snh quyền thế giới Có đô thị cổ Hội An

và khu vực đền tháp Mỹ Sơn được UNESCO công nhận 2 di sản văn hoá Sân bay Chu Lai có diện tích 2.275 ha, đường băng dài trên 3.000 mét,

rộng 60 mét, quy mô công suất hiện nay phục vụ khoảng 500.000 hành

khách/năm và 500.000 tắn hàng/năm và đạt | triệu lượt khách/năm, l triệu tấn

hàng/năm vào năm 2020 Là một bộ phận trong hệ thống cảng bẩn Việt Nam, cảng Kỳ Hà hiện tại có 2 cầu cảng Mạng lưới go thông đường bộ đã được

phát triển đồng bộ và rộng khắp: Quốc lộ 1A ở phía đông, đường Hỗ Chí

Trang 35

Minh ở phía ây, nối quốc lộ LA với đường Hồ Chí Minh có quốc lộ 14 ở phía

Bắc, quốc lộ I4E ở giữa, đường Nam Quảng Nam ở phía Đông; đường Thanh

niên ven biển, đường Đông Trường Sơn từ Thành Mỹ đến Quảng Ngãi, trong

tương hi gần sẽ có đường cao tốc Liên Chiểu- Dung Quắt

Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy qua Quảng Nam có chiều

đài 95Km Hệ thống điện đã được phủ rộng trên địa bàn tỉnh với 7 trạm biến

áp 110 KV cùng với lưới điện, trạm biến áp 35, 22, 15 KV tăng lên gần 4 lần

so với năm 197 Mạng lưới bưu chính, vễn thông phát trấn khá tốt; 100%

số xã trên địa bản tỉnh đã có điện thoại cố định, mật độ điện thoại và Internet

tăng trưởng nhanh

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Nam

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Sau hơn 10 năm, tình hình dân số và lao động của tỉnh có nhiều chuyển biến cả về số lượng và chất lượng Quy mô dân số trung bình năm 2010 toàn

tính có 1.425.395 người (730.184 nữ), trong đó dân số thành thị 270.028

Trang 36

3s

người chiếm 18,94%, nông thôn người chiếm 1.155 367 người chiếm 81,06%

'Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm qua các năm từ 12% năm 2006 giảm xuống

còn 9,04%onăm 2010

Số người trong độ tuổi lao động năm 2010 là §99 536 người chiếm

63,1% tổng dân số, trong đó số ao động đang hoạt động trong các ngành

nghề kinh tế có 812.196 người tăng gần 8% so với năm 2006, tỷ lệ thất nghiệp

khu vực thành thị là 4,79%, số lao động được tạo việc tăng lên hằng năm từ

31 ngàn người năm 2005 lên 36 ngàn người năm 2010

Bảng 2.1: Chỉ số tăng GDP tỉnh Quảng Nam theo giá so sinh

Nguồn: Niễn giảm thông kế tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam được đánh giá là tỉnh có bước đột phá mạnh vẻ tốc độ phát triển kinh tế Với tổng sản phẩm GDP bình quân hàng năm tăng 11.59%

Riêng năm 2010 đạt 12.5%, trong đó khu vực có mức tăng trưởng nhanh nhất

là Công nghiệp - Xây dựng mỗi năm bình quân tăng gần 20%, tiếp đến là khu vực Dph vụ tăng bình quân 14.2% và tăng thấp nhất là khu vực Nông lâm

thủy sản bình quân tăng 2.2% năm

Trang 37

36

elt

[GPP binh quan/ngwoi (trigu déng/ngudi/nam)

|~#—Tóc độ tăng trueng kinh té (%)

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam

'Hình 2.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (%) và GDP bình quân đầu người

(triệu đồng/người/năm) của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006-2010

2010

Cơ cấu kinh được chuyển đổi theo hướng tích cực, Trong GDP, ty trọng của ngành công nghiệp, xây dựng tăng từ 38,63% năm 2009 lên 40,06%

năm 2010, du lich dich vy tir 38.36% Kn 39.05% va giim ty trong ngành

nông lâm ngư nghiệp từ 23.01% xuống còn khoảng 21 16% năm 2010 Điều

đáng nói là một tỉnh trước đây chưa có một khu, cụm công nghiệp nào thì nay

đã hình thành được 5 khu công nghiệp các cụm công nghiệp, thu hút trên

37.000 lao động có việc làm hằng năm Bên cạnh đó tỉnh đã ban hành nhiều

cơ chế để fhu hút 78 dự án đã đi vào hoạt động Với tông số vốn 52.800 tỷ đồng hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau đã và đang góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động và cải thiện đời sống vật chất va tinh thần đáng kể cho người dân Quảng Nam

Trang 38

kinh tế tính Quảng Nam giai đoạn 2006-2010 (giá hiện hành, ĐVT: %)

Công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống sinh hoạt

cho người dân, nhất là đối với khu vực miền núi, đồng bào dân tộc trong thời

gian qua cũng đặc biệt chú trọng, các công trình giao thông quan trọng đã được đưa vào sử dụng như: đường Hồ Chí Minh, phát triển công trình thủy điện vừa và nhỏ, làm mới được 752 km đường nhựa và bê tông, khôi phục và

làm mới 259 cầu cống với tổng chiều dài 4256 km

Nam 2010 toàn tỉnh có 100% số xã phường có trường tiểu học, 87,5%

số xã có trường trung học cơ sở Tỉnh Quảng Nam đã được công nhận đạt

chuân về phổ cập tiểu học và chống mù chữ vào năm 1997, trong đó có

237/241 xã, phường, thị rắn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi đạt 98%; có 13

huyện với 215 xã đạt chuẩn về phổ cập trung học cơ sở đạt 89% Số trường

trung cấp, cao đẳng, đại học năm 2010 là 11 đơn vị, trong đó có 3 trường

Trung cắp chuyên nghiệp, 6 trường Cao đẳng và 2 trường Đại học, hằng năm

dao tao được trên 26 ngàn học sinh sinh viên với trên 970 giáo viên thường

xuyên tham gia giảng dạy, trong đó 250 giáo viên có trình độ trên đại học

Trang 39

16 ThăngBình | 49503 | 10,743 | 2170 8618 | 1741

Nguôn: UBND tỉnh Quảng Nam

Mang lưới y tẾ trong những năm qua đã có sự phát triển toàn diện cả về

cơ sở, trang thiết bị, mạng lưới, cán bộ y tế, chất lượng khám chữa bệnh Năm

2010 toàn tỉnh đã có 8 bệnh viện tuyến tỉnh, 15 bệnh viện tuyến huyện, 10

phòng khám đa khoa khu vực, 100% số xã phường có trạm y tế Cùng với

Trang 40

39

việc phát triển mạng lưới cơ sở y tế số giường bệnh cũng được tăng cường

đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tốt hơn [2]

Sau 36 năm giải phóng, từ một tĩnh thường xuyên thiếu lương thực đến nay sản lượng lương thực tăng 3.5 lần, tỷ lệ đói nghèo từ 32% xuống còn 24%

theo chuẩn mới

'Nhờ các chủ trương, giải pháp phát triển KT-XH của tỉnh, đặc biệt là

lĩnh vực tạo việc làm cho người lao động, là tiền đề, là cơ sở để BHXH tỉnh Quảng Nam mở rộng đối tượng tham gia BHXH và thực hiện các chế độ

chính sách BHXH cho người lao động trên địa bản tỉnh

Hiện nay cơ cấu lao động nông nghiệp và nông thôn năm 2010 của

tỉnh: Nông nghiệp, lâm ngư - nghiệp chiếm 59.24% trong tổng số lao động

đang làm việc, công nghiệp và xây dựng 19.32%, dịch vụ 21 44% Điều này

thể hiện ở hình sau:

Nguồn: Niên giảm thống kê tỉnh Quảng Nam năm 2009-2010)

Hình 2.4 Cơ cấu lao động các ngành ở tỉnh Quảng Nam (ĐVT: %)

Với đặc tính của nền kinh tế thị trường, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng

giảm trong các ngành kinh É thay vào đó là ngành công nghiệp dịch vy ting

Ngày đăng: 09/12/2022, 12:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm