1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ USSH vấn đề định hướng dư luận xã hội trên hệ thống truyền thông thủ đô trong cơ chế thị trường

130 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề định hướng dư luận xã hội trên hệ thống truyền thông thủ đô trong cơ chế thị trường
Tác giả Nguyễn Thị Mai Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nhà Báo Hồng Vinh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Báo chí
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG NGUYỄN THỊ MAI ANH VẤN ĐỀ ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG THỦ ĐÔ TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG Khảo s t trên b o Hà Nội mới hàng ngày, Hà Nộ

Trang 1

KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG

NGUYỄN THỊ MAI ANH

VẤN ĐỀ ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG THỦ

ĐÔ TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ

HÀ NỘI, 2008

Trang 2

KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG

NGUYỄN THỊ MAI ANH

VẤN ĐỀ ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG THỦ

ĐÔ TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

(Khảo s t trên b o Hà Nội mới hàng ngày, Hà Nội mới điện tử,

s ng ph t thanh, truyền h nh của đài Ph t thanh và Truyền h nh Hà Nội

từ năm 2004 – quý III/2008)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: DƯ LUẬN XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THÔNG - VAI TRÒ ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG 9

1.1 Dư luận xã hội 9

1.1.1 Dư luận xã hội, các bước hình thành và chức năng cơ bản của dư luận xã hội 9

1.1.1.1 Khái niệm 9

1.1.1.2 Các bước hình thành DLXH 10

1.1.1.3 DLXH có các chức năng cơ bản sau 11

1.1.2 Vấn đề nghiên cứu ý kiến công chúng 12

1.1.2.1 Công chúng và ý kiến công chúng 12

1.1.2.2 Nghiên cứu ý kiến công chúng 14

1.2 Truyền thông và mối liên hệ với dư luận xã hội 15

1.2.1 Truyền thông – quá trình truyền thông 15

1.2.1.1 Khái niệm chung về truyền thông 15

1.2.1.2 Khái niệm truyền thông dưới góc độ xã hội học 17

1.2.1.3 Yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông 18

1.2.1.4 Quá trình truyền thông 19

1.2.1.5 Phân biệt truyền thông đại chúng và thông tin đại chúng 21

1.2.1.6 Các phương tiện truyền thông đại chúng 21

1.3 Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng có hiệu quả nhất và có tác động mạnh mẽ tới dư luận xã hội 24

1.3.1 Mối quan hệ biện chứng giữa TTĐC và DLXH 24

1.3.2 Báo chí là kênh thông tin quan trọng trong quá trình truyền thông 25

1.3.3 Mối quan hệ biện chứng giữa báo chí và DLXH 25

1.4 Cơ chế thị trường và những tác động của nó tới truyền thông 28

1.4.1 Khái quát về cơ chế thị trường ở nước ta 28

1.4.2 Sự tác động của kinh tế thị trường tới hoạt động truyền thông nói chung và báo chí nói riêng 29

Trang 4

1.5 Tầm quan trọng của việc định hướng dư luận xã hội trong cơ chế thị

trường ở nước ta hiện nay 33

1.5.1 Làm rõ khái niệm “Định hướng” 33

1.5.2 Tầm quan trọng của việc định hướng DLXH trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay 33

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN CỦA ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG THỦ ĐÔ TRONG 5 NĂM QUA (2004-2008) VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 37

2.1 Khái quát về hệ thống thông tin đại chúng Hà Nội nói chung và báo HNM, Đài PT-TH HN nói riêng 37

2.1.1 Khái quát về hệ thống thông tin đại chúng Hà Nội 37

2.1.1 1 Về quy mô 37

2.1.1.2 Về xây dựng lực lượng những người làm báo 38

2.1.1.3 Về chất lượng văn hoá, khoa học, giáo dục 38

2.1.1.4 Về cơ sở vật chất và phương tiện hoạt động nghiệp vụ 40

2.1.2 Vài nét khái quát Về Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội và Báo Hà Nội mới 40

2.1.2.1 Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội 40

2.1.2.2 Báo Hà Nội Mới 42

2.2 Đánh giá chất lượng định hướng dư luận xã hội của Đài Phát thanh, truyền hình Hà Nội, Báo Hà Nội Mới hàng ngày và Hà Nội mới Điện tử 43 2.2.1 Phân tích phiếu điều tra xã hội học của công chúng về chất lượng nội dung thông tin của các chương trình phát thanh, truyền hình Hà Nội, báo HNM hàng ngày và HNM điện tử 43

2.2.1.1 Nhận định về công chúng Hà Nội 43

2.2.1.2 Điều tra về đánh giá nội dung thông tin và nhu cầu của công chúng trong điều kiện kinh tế thị trường 44

2.2.2 Đánh giá về một vài nội dung định hướng cụ thể trên báo HNM hàng ngày, báo HNM điện tử, sóng phát thanh, truyền hình Hà Nội từ năm 2004 đến tháng 8/2008 54

2.2.2.1 Định hướng chính trị và các sự kiện lớn trên báo HNM và đài PT-TH HN 55

2.2.2.2 Thông tin và định hướng về lĩnh vực kinh tế 63

2.2.2.3 Thông tin định hướng lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục 67

Trang 5

2.2.3 Những sai phạm trên báo HNM và đài PT-TH HN đã bị xử lý và nhắc

nhở từ năm 2004 đến nay 84

2.2.4 Đánh giá về đội ngũ cán bộ, phóng viên của báo HNM và đài PT-TH HN 86

2.3 Những vấn đề đặt ra qua việc định hướng DLXH trên hệ thống Báo chí Hà Nội 87

CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHO VIỆC ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG THỦ ĐÔ TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG 93

3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và của Thành phố Hà Nội đối với báo chí kể từ Đại hội IX của Đảng đến nay 93

3.2 Yêu cầu, thách thức đối với hệ thống truyền thông nói chung và báo chí Hà Nội nói riêng trong cơ chế thị trường 96

3.2.1 Những tác động khách quan từ bên ngoài tới hoạt động truyền thông của nước ta 96

3.2.2 Tác động của sự biến đổi trong nước và những yêu cầu đối với việc định hướng dư luận xã hội thông qua hệ thống truyền thông 98

3.3.3 Thách thức và yêu cầu đối với báo chí và những người làm báo 99

3.3 Phương hướng, giải pháp định hướng DLXH Trên hệ thống truyền thông thủ đô trong cơ chế thị trường hiện nay 102

3.3.1 Phương hướng định hướng DLXH trên hệ thống truyền thông Thủ đô 102

3.3.2 Giải pháp định hướng DLXH trên hệ thống truyền thông Thủ đô trong cơ chế thị trường 104

3.3.2.1 Về nội dung định hướng 104

3.3.2.3 Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng đối với báo chí trong cơ chế thị trường 110

3.3.3 Đề xuất kiến nghị thực hiện giải pháp 111

3.3.3.1 Xây dựng, hoàn thiện cơ chế cung cấp thông tin 111

3.3.3.2 Coi trọng việc định hướng thông tin từng thời kỳ 112

3.3.3.3 Đề cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân của nhà báo, nhất là tổng biên tập 113

3.3.3.4 Tăng cường bồi dưỡng chính trị, gắn với nâng cao nghiệp vụ, chuyên môn 114

KẾT LUẬN 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

Trang 6

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

3 Phát thanh – truyền hình Hà Nội PT-TH HN

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mà trước hết là đổi mới nền kinh tế Nhờ sự chuyển đổi từ nền kinh

tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa, các lĩnh vực của đời sống, kinh tế - xã hội nước ta đã có nhiều khởi sắc Qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đó, diện mạo của đất nước ta đã có nhiều thành tựu đáng ghi nhận

Sự vận hành theo cơ chế thị trường của nền kinh tế đã thể hiện nhiều ưu điểm đối với sự phát triển của nền kinh tế của đất nước, đời sống nhân dân có phần được cải thiện, các hoạt động dịch vụ, xã hội phát triển… Song, nó cũng bộc lộ không ít những hạn chế, từ “mặt trái” cơ chế thị trường Những “mặt trái” đó đã và đang tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực, trong đó có cả hoạt động truyền thông mà chủ yếu là lĩnh vực báo chí trong truyền thông

Hiện nay, trong hệ thống báo chí nước ta (có cả báo chí Hà Nội) xuất hiện những tờ báo phát hành chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, có biểu hiện xa rời tôn chỉ mục đích; không coi trọng nhiệm vụ định hướng dư luận

xã hội theo hướng tích cực; Có những báo chưa nhanh nhạy, kịp thời trong phản ánh dư luận nhân dân Một trong những nguyên nhân chủ yếu là một bộ phận những người làm báo ở Hà Nội chưa năng động, sáng tạo, tư duy làm báo chưa nhạy bén, sắc sảo, chưa đáp ứng yêu cầu làm báo trong thời kỳ kinh

tế thị trường; chưa nhận thức đúng đắn về vai trò định hướng dư luận xã hội của mình;có biểu hiện chạy theo xu hướng “thương mại hoá”, gây tác động không tốt đối với nhiệm vụ định hướng dư luận xã hội của báo chí nói riêng

và của cả hệ thống truyền thông nói chung Những lý do nêu trên ít nhiều đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng định hướng dư luận xã hội

Trang 8

Bên cạnh đó, tâm lý và tư duy của công chúng trong cơ chế thị trường ít nhiều cũng thay đổi, theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực Việc phát triển đa dạng các loại hình thông tin, phương tiện truyền thông đại chúng giúp công chúng có thể tiếp cận được thông tin từ nhiều “luồng” và bằng nhiều phương tiện khác nhau, song việc kiểm soát được tính đúng đắn, chuẩn xác của những thông tin đó vô cùng khó khăn Sự bùng nổ mạnh mẽ về thông tin toàn cầu trên hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng trong và ngoài nước đang đặt ra vấn đề với chúng ta là phải có sự chọn lọc thông tin trong “rừng thông tin ấy” để

có sự định hướng dư luận một cách đúng đắn Có như vậy, mới có thể ngăn chặn những luồng thông tin xấu, trái chiều, những thông tin không có lợi cho sự phát triển về mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội

Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước ta với sự giao lưu, hội nhập quốc tế sâu rộng, việc định hướng dư luận xã hội trên hệ thống truyền thông nói chung và hệ thống báo chí nói riêng là một yêu cầu rất quan trọng, nhất là đối với hệ thống truyền thông của Thủ đô - trung tâm đầu não chính trị, kinh

tế, văn hóa của cả nước

Ngoài ra, sự phát triển của đất nước nói chung và Thủ đô nói riêng đã tạo ra nhiều mối quan hệ và có sự phân hóa rất phức tạp về nhiều mặt Điều

đó, ảnh hưởng không nhỏ tới việc thông tin trên hệ thống truyền thông, đòi hỏi phải có sự định hướng rõ ràng

Dư luận xã hội là cơ sở hình thành nên những trào lưu tư tưởng, tâm lý

xã hội, nên nó có ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển và phồn vinh của đất nước

Báo chí là một bộ phận quan trọng và cũng là bộ phận chủ yếu của hệ thống truyền thông làm nên và có sức tác động tới dư luận xã hội Do vậy, việc nâng cao chất lượng định hướng dư luận xã hội của hệ thống truyền thông Thủ đô chính là việc nâng cao chất lượng định hướng dư luận của hệ thống báo chí của Thủ đô

Trang 9

Thủ đô Hà Nội là “trái tim” của cả nước, vì vậy nhiệm vụ định hướng

dư luận xã hội, định hướng suy nghĩ và hành động của công chúng một cách đúng đắn, kịp thời trên hệ thống truyền thông (mà trực tiếp là hệ thống báo chí) của Thủ đô là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng Để làm được điều đó trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Hà Nội cần có một hệ thống truyền thông nói chung và hệ thống báo chí nói riêng hoàn chỉnh, năng động, phát triển xứng tầm với vị thế của của Thủ đô cả về quy mô, nội dung, hình thức; công tác định hướng dư luận xã hội, quản lý báo chí phải luôn đổi mới, sát hợp thực tiễn; đội ngũ những nhà lãnh đạo quản lý, những người làm báo cần được nâng tầm cả về bản lĩnh chính trị và trình độ nghiệp vụ chuyên môn

Vấn đề định hướng dư luận trên hệ thống truyền thông Thủ đô, cụ thể

là trên các báo, đài trong điều kiện kinh tế thị trường đã và đang là vấn đề cần được nghiên cứu để có những giải pháp đúng đắn, hiệu quả, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường sôi động như hiện nay

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Từ trước đến nay, có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về dư luận xã hội nói chung; có rất nhiều đề tài, sách nghiên cứu về truyền thông đại chúng Gần với đề tài này, có các nghiên cứu: Luận án tiến sĩ “Truyền thông đại chúng và công chúng – Trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh” (của nhà nghiên cứu Trần Hữu Quang); đề tài “Truyền thông đại chúng và quản lý văn hóa đô thị”

(đề xuất cho trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh) của nhà nghiên cứu Lê Thanh Bình Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết về các lĩnh vực, liên quan đến nghiên cứu xã hội học, dư luận xã hội và truyền thông cùng những vấn đề liên quan đến định hướng, quản lý báo chí Có thể điểm một vài ví dụ: “Phụ nữ nông thôn với việc hưởng thụ văn hóa qua các phương tiện thông tin đại chúng” (Tác giả: Mai Văn Hải – Tạp chí Xã hội học số 1/1992); bài viết “Tìm hiểu mức độ tiếp cận thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng của

Trang 10

người nông dân châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới” (tác giả: Trương Xuân Trường – Tạp chí xã hội học số 2/2001); Sách “Định hướng hoạt động

và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” Liên quan đến hệ thống truyền thông Thủ đô, có một số đề tài nghiên cứu những giải pháp phát triển báo chí báo chí Hà Nội đến năm 2010; đề tài “Nâng cao phẩm chất, trính trị của cán bộ, phóng viên báo, đài Hà Nội” của Ban tuyên giáo Thành

uỷ Hà Nội Tuy vậy, chưa có một cuốn sách hoặc đề tài nào nghiên cứu riêng về vấn đề định hướng dư luận xã hội trên hệ thống truyền thông của Hà Nội trong điều kiện kinh tế thị trường Chưa có đề tài nào nghiên cứu tổng hợp và đưa ra giải pháp tương đối đồng bộ để góp phần nâng cao chất lượng định hướng dư luận xã hội một cách cụ thể đối với các báo, đài Hà Nội, mặc dù đây là một

nhiệm vụ hết sức quan trọng Do vậy, tác giả luận văn lựa chọn đề tài “Vấn đề

định hướng dư luận xã hội trên hệ thống truyền thông Thủ đô trong cơ chế thị trường” làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp thạc sĩ

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

3.1 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở thực trạng định hướng dư luận xã hội trên hệ thống truyền thông của Thủ đô, chủ yếu là của hệ thống báo chí Hà Nội, đề tài xin đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng định hướng dư luận xã hội trong

điều kiện kinh tế thị trường của các báo, đài Hà Nội, bản tin Hà Nội hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Làm rõ một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: Truyền thông và báo chí; Vì báo chí giữ vai trò chủ lực trong việc định hướng dư luận xã hội trong hệ thống truyền thông, do vậy luận văn làm rõ về vai trò định hướng dư luận xã hội của báo chí, mối quan hệ giữa báo chí và dư luận xã hội; Những vấn

đề mang tính lý luận về dư luận xã hội; Cơ chế thị trường và tác động của nó tới

Trang 11

- Đánh giá thực trạng định hướng dư luận xã hội trên hệ thống truyền thông, trực tiếp là thông qua các báo, đài phát thanh, truyền hình và bản tin của

Hà Nội trong thời gian 5 năm gần đây (từ 2004 – quý III/2008)

- Đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng định hướng dư luận

xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường của hệ thống truyền thông Thủ đô

- Tổ chức điều tra công chúng (điều tra 500 phiếu), đánh giá của công chúng về những báo, đài, bản tin được khảo sát và nhu cầu của công chúng hiện nay là gì, tìm hiểu những kiến nghị của công chúng đối với báo chí

- Tổng hợp và phân tích phiếu điều tra công chúng để phản ánh đúng thực trạng tuyên truyền

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu định hướng dư luận xã hội trên hệ thống truyền thông của Thủ đô, cụ thể là trên sóng phát thanh, truyền hình Hà Nội; báo Hà Nội mới hàng ngày; báo Hà Nội mới điện tử

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Hệ thống truyền thông của Thủ đô bao gồm nhiều loại hình: báo chí, băng rôn, khẩu hiệu, áp phích… Song, báo chí (cụ thể là các báo, đài phát thanh, truyền hình, báo điện tử) là một trong những phương tiện truyền thông đại chúng là một kênh của truyền thông quan trọng và có hiệu quả nhất trong việc hình thành và định hướng dư luận xã hội trong quá trình truyền thông

Hệ thống báo chí Hà Nội hiện nay bao gồm 12 báo viết của các ban, ngành đoàn thể của Hà Nội; một đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội; 4 báo điện tử của báo Hà Nội mới, Kinh tế đô thị, An ninh Thủ đô, đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội; 14 bản tin của các sở, ngành, đoàn thể Song, trong phạm

vi một luận văn Thạc sĩ, đề tài lựa chỉ chọn nghiên cứu kênh thông tin báo chí trong hệ thống truyền thông của Hà Nội; nghiên cứu đại diện mỗi loại hình báo

Trang 12

chí 1 ấn phẩm, cụ thể như sau: sóng phát thanh, truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội là đại diện báo hình và báo nói; Báo Hà Nội mới là đại diện báo in; báo Hà Nội mới điện tử là đại diện báo điện tử nối mạng internet

Có sự lựa chọn như vậy là do Thành phố Hà Nội chỉ có 1 đài Phát thanh và Truyền hình; đối với hệ thống báo in và báo điện tử thì báo HNM là báo lớn nhất của Thành phố, có số lượng phát hành lớn nhất trong hệ thống báo chí của Hà Nội; HNM điện tử là báo điện tử đầu tiên của Hà Nội và có số lượng truy cập lớn nhất Những báo, đài nêu trên có vai trò, vị trí rất quan trọng trong việc định hướng dư luận xã hội và đồng thời được Thành uỷ Hà Nội quan tâm chỉ đạo, định hướng rất sát sao

Luận văn nghiên cứu chất lượng các tác phẩm, chất lượng thông tin của các báo, đài nêu trên Riêng đối với đài PT-TH HN thì nghiên cứu chất lượng định hướng dư luận của nội dung các chương trình phát thanh, truyền hình Tuy nhiên, không đi sâu phân tích từng thể loại tin, bài cụ thể, mà tổng hợp, khái quát, đánh giá trên cơ sở tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau

Thời gian nghiên cứu các báo HNM hàng ngày, HNM điện tử, đài phát thanh, truyền hình Hà Nội: 5 năm, từ năm 2004 đến quý III/2008

Về phía công chúng: đề tài nghiên cứu đánh giá tác động định hướng

dư luận xã hội, cũng như nhu cầu, xu hướng của công chúng về các báo, đài nêu trên trong kinh tế thị trường

Nghiên cứu về đội ngũ những người làm báo Hà Nội; đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cơ quan báo chí; các cơ quan quản lý báo chí là những nhân tố trực tiếp tổ chức, thực hiện nhiệm vụ định hướng dư luận xã hội

5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN:

5.1 Cơ sở lý luận

Tác giả dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng

Trang 13

về dư luận xã hội và kinh tế thị trường để làm cơ sở lý luận thực hiện nghiên cứu luận văn Đồng thời, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước làm cơ sở lý luận cho công trình nghiên cứu của mình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp có tổng hợp, hệ thống hoá tài liệu

có liên quan; quan sát trực tiếp; sưu tầm; thống kê; phân tích nội dung và hình thức tuyên truyền của các báo, đài Để thu thập đa dạng các thông tin, tác giả tiến hành nhiều bước: phỏng vấn, gặp gỡ các chuyên gia làm công tác quản lý báo chí, phỏng vấn lãnh đạo các cơ quan báo chí (Tổng biên tập hoặc phó tổng biên tập) để tìm hiểu sâu sắc những vấn đề liên quan đề tài

Tác giả dành nhiều thời gian thu thập tài liệu, dữ liệu, báo cáo, những vấn đề liên quan đề tài; tổ chức lập bảng điều tra xã hội học; từ đó tổng hợp, phân tích, đánh giá chất lượng định hướng dư luận xã hội của các báo, đài Hà Nội; Thông qua việc tổng hợp, đánh giá khái quát 1 báo viết, 1 báo điện tử và

1 Đài truyền hình, nhằm đưa ra những nhận định chung và giải pháp chung cho báo chí Hà Nội đối với việc nâng cao chất lượng định hướng dư luận xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN:

6.1 Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm bản chất của định hướng dư

luận xã hội và vai trò của định hướng dư luận xã hội thông qua hệ thống truyền thông đối với sự ổn định xã hội, phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô trong điều kiện kinh tế thị trường

- Góp phần làm rõ thêm những vấn đề đang đặt ra với định hướng dư luận xã hội qua hệ thống truyền thông Hà Nội, thuộc về chủ thể truyền thông, đối tượng truyền thông và bản thân dư luận xã hội cần được giải quyết trong quá trình phát triển kinh tế xã hội trong cơ chế thị trường

Trang 14

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả định hướng dư luận xã hội trên hệ thống truyền thông, báo chí được tốt hơn, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập về chủ đề định hướng dư luận xã hội trên báo chí trong các trường đào tạo và các cơ quan lãnh đạo, quản lý báo chí

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

* Luận văn gồm:

- PHẦN MỞ ĐẦU

- PHẦN NỘI DUNG: gồm 3 chương

* Chương I: DƯ LUẬN XÃ HỘI - TRUYỀN THÔNG VÀ VAI TRÒ ĐỊNH

HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

* Chương II: THỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN HỆ

THỐNG TRUYỀN THÔNG THỦ ĐÔ TỪ NĂM 2004 – 8/2008

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

* Chương III: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO

HIỆU QUẢ ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG THỦ ĐÔ TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

- PHẦN KẾT LUẬN

- TÀI LIỆU THAM KHẢO

- PHỤ LỤC

Trang 15

CHƯƠNG 1

DƯ LUẬN XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THÔNG - VAI TRÒ ĐỊNH HƯỚNG

DƯ LUẬN XÃ HỘI TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG

TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 DƯ LUẬN XÃ HỘI

1.1.1 Dư luận xã hội, các bước hình thành và chức năng cơ bản của

dư luận xã hội

1.1.1.1 Khái niệm

DLXH là sự phản ánh tâm trạng của xã hội, phản ánh sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn (của nhân dân nói chung) về những vấn đề cụ thể, về các hiện tượng đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại Cơ sở quan tâm là lợi ích xã hội, đây là những lợi ích cấp bách, cần ngay Trong phản ánh DLXH có tính chất đánh giá tốt - xấu, nên – không nên Tính chất của dư luận xã hội phụ thuộc vào tính chất của các sự kiện, vấn

đề, những quan điểm, hành động của các nhân vật trong trường hợp thông tin phản ánh đúng đắn, chính xác

Quan niệm trên cho thấy sự phản ánh thực tế trong DLXH trước hết là thái độ phán xét, ý kiến đánh giá của quần chúng nhân dân đối với các sự kiện

và vấn đề thời sự mà họ quan tâm Hay nói cách khác, DLXH có tính chất đánh giá các hiện tượng xã hội để xác định hành vi ứng xử của con người

Tính đặc thù của DLXH thể hiện ở chỗ: nó không chỉ thuần tuý tinh thần mà

nó là cấu trúc tinh thần - thực tế Tính đặc thù này chỉ ra mức độ xem xét sự thể hiện của DLXH và DLXH được xem là một hiện tượng tâm lý xã hội

Trang 16

DLXH là một trạng thái tinh thần thực tế, có thể được biểu hiện đầy đủ ở thái

độ, lời nói và đỉnh cao là hành vi

Tất cả những vấn đề đó được đặt trong quan hệ xã hội đang tồn tại Nghĩa

là khi quan hệ xã hội thay đổi, DLXH thay đổi theo, về mặt triết học, nó là tinh thần của xã hội Đây không phải là ý kiến của một ngưòi, một vài người, mà là các nhóm lớn, tập đoàn xã hội DLXH bao giờ cũng phản ánh lợi ích, nếu không

có lợi ích không thành dư luận DLXH dựa trên các quan hệ xã hội đang tồn tại

Bởi vậy, DLXH

Khách thể của DLXH có thể là những sự kiện hết sức khác nhau trong đời sống xã hội và lợi ích chung được xem là tiêu chuẩn hàng đầu để xác định khách thể của DLXH Còn chủ thể của DLXH là toàn thể xã hội nói chung, là quần chúng nhân dân, là các tổ chức Đảng, các tổ chức đoàn thể xã hội Lập trường giai cấp được xem là cơ sở để xác định chủ thể của DLXH

+ Bước thứ ba, các ý kiến khác nhau được thống nhất lại trên những quan điểm cơ bản để hình thành sự đánh giá chung về các hiện tượng, các quá trình xã hội, những đánh giá này thoả mãn được sự nhận định của đa số cộng đồng người

+ Bước thứ tư, từ việc đánh giá dẫn đến sự phán xét về hành động và rút ra những kiến nghị trong hoạt động thực tiễn

Sự hình thành dư luận xã hội diễn ra liên tục và chứa đầy các yếu tố tự phát, nhưng đây là một quá trình có quy luật Lợi ích xã hội là nhân tố chi

Trang 17

phối sâu sắc đến sự hình thành DLXH Lợi ích cá nhân thường rất nhạy bén trong sự hành thành ý kiến cá nhân Ý kiến của nhóm được coi là đơn vị đầu tiên tạo nên “chất” của DLXH Con đường vận động từ ý kiến cá nhân qua ý kiến nhóm, để tạo thành DLXH là một quá trình biện chứng Sự phát triển của các “tầng” ý kiến quy định cường độ của DLXH về một hiện tượng xã hội nào

đó Mặc dù sự phát triển của DLXH được xác định bởi các quy luật khách quan, song trong một xã hội phát triển có định hướng, thì quá trình hình thành DLXH theo con đường tự phát, tất yếu cần đến sự điều khiển của hoạt động quản lý và tổ chức xã hội

Để hoạt động này đạt được hiệu quả, cần thường xuyên quan tâm tới lợi ích của các tầng lớp nhân dân, các nhóm xã hội Việc khắc phục những khác biệt, trước hết là những khác biệt về lợi ích kinh tế, nhằm hướng tới mục tiêu chung, vì sự tiến bộ chung của xã hội, sẽ làm cho hoạt động định hướng DLXH đạt hiệu quả Việc định hướng DLXH được hình thành thuận lợi khi

có sự nhất quán trong chủ trương, chính sách với quá trình tổ chức và chỉ đạo thực hiện Nếu chủ trương chính sách được về xuất và các hành vi quản lý diễn ra theo kiểu “nói một đường, làm một nẻo” thì hoạt động định hướng của DLXH sẽ mất tác dụng

1.1.1.3 DLXH có các chức năng cơ bản sau

+ Chức năng phản ánh: là sự phản ánh về các vấn đề nóng bỏng hoặc

có liên quan trực tiếp tới lợi ích xã hội Thông qua sự phản ánh này, các cơ quan quản lý, cơ quan chức năng nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và có hướng giải quyết Từ đó, có thể điều hoà các quan hệ xã hội, không làm cho lợi ích nghiêng về nhóm nào

+ Chức năng kiểm soát xã hội: Việc kiểm soát xã hội trong DLXH diễn

ra cả ở kênh chính thức và không chính thức DLXH là độc giả, khán thính giả, thường thể hiện quan điểm, thái độ, lập trường về những vấn đề mà họ

Trang 18

quan tâm Đây là biểu hiện giám sát rất tích cực, thể hiện sự dân chủ “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, từ đó tạo nên hiệu quả truyền thông

+ Chức năng giáo dục: Ví như việc lấy khuôn mẫu chung, chuẩn mực chung của xã hội để giáo dục Bằng những nhận xét đánh giá khen chê, khuyên bảo của cộng đồng, DLXH tác động mạnh đến ý thức và hành vi của con người, nhất là đối với thế hệ trẻ

+ Chức năng tư vấn hoặc lời khuyên: Trước những vấn đề lớn của đất nước, DLXH có thể đưa ra những lời khuyên sáng suốt Ngày nay, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành các cuộc thăm dò dư luận trước khi quyết định những vấn đề quan trọng Sự ủng hộ hay phản đối của công chúng là yếu

tố then chốt cho sự thành công hay thất bại của một chính sách nhất định Các

ý kiến phản ánh của DLXH giúp cho các cơ quan quản lý có được những chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế, phù hợp với lợi ích của nhân dân

Như việc góp ý vào các dự thảo, trước khi ban hành các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Dư luận báo chí không chỉ bày tỏ sự khen, chê, mà còn đưa ra những giải pháp thiết thực

+ Chức năng giải toả tâm lý: Sự bày tỏ ý kiến, nỗi bất bình của mỗi con người với cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc giải toả tâm lý

1.1.2 Vấn đề nghiên cứu ý kiến công chúng

1.1.2.1 Công chúng và ý kiến công chúng

Trong Đại từ điển tiếng Việt (Nxb Văn hoá-Thông tin, 1999) định nghĩa:

“Công chúng là đông đảo người xem hoặc người chứng kiến việc gì, trong quan

hệ với người diễn thuyết, tác giả, diễn viên ” Như vậy, công chúng là số đông người, cùng quan tâm tiếp nhận thông tin từ một sự việc, sự kiện hay một đối tượng nào đó trong một khoảng không gian chung Chẳng hạn: công chúng của báo chí, công chúng của điện ảnh, công chúng của sân khấu

Trang 19

Công chúng là khái niệm được đề cập nhiều trong các sách, báo và các công trình nghiên cứu khoa học về truyền thông “Công chúng là quần thể cư dân mà cơ quan báo chí hướng vào để tác động (và trực tiếp hay gián tiếp chịu

sự tác động của báo chí), nhằm lôi kéo, thu phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình Công chúng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động báo chí” Sản phẩm của báo chí nói chung và truyền hình nói riêng được phát hành định kỳ, liên tục và rộng khắp cả về thời gian và không gian Do đó, công chúng của báo chí cũng rộng lớn nếu không nói là đại đa số trong xã hội

Còn “ý kiến” cũng trong từ điển tiếng Việt giải thích “ý kiến: suy nghĩ

và nhận định về một việc gì” Công chúng được tập hợp từ những cá nhân

trong xã hội, ý kiến công chúng chính là biểu thị thái độ, phán xét, đánh giá của một cộng đồng trước các sự việc, hiện tượng mà họ quan tâm Về bản chất, ý kiến công chúng chính là dư luận xã hội (hay còn gọi là công luận)

Tuy nhiên, theo nghĩa riêng thì ý kiến và dư luận có sự khác nhau Dư luận biểu hiện ra thành lời, còn ý kiến không nhất thiết biểu hiện bằng lời mà ở dưới dạng chính kiến, quan điểm

DLXH không phải ý kiến của một người, mà là ý kiến của số đông người, nó cũng không phải là tổng cộng các ý kiến phán xét đánh giá của các

cá nhân, mà là sự phán xét, đánh giá chung của đại đa số trong cộng đồng Ở nhiều trường hợp, ý kiến cá nhân trở thành DLXH rộng rãi khi nó thể hiện mối quan tâm chung, sự đánh giá chung của toàn xã hội về một vấn đề, hiện tượng nào đó

Ý kiến của con người thường phản ánh thái độ của họ đối với một vấn

đề nào đó Tuy nhiên có những trường hợp ý kiến và thái độ không đồng nhất, họ giấu giếm thái độ đích cực của mình, bộc lộ ý kiến trái ngược hẳn

“ý kiến thường phức tạp và có thể phân biệt ở nó các biến số khác nhau Các

biến số thường xuyên nhất là khuynh hướng, cường độ, bề rộng, chiều sâu”

Trang 20

Khuynh hướng thể hiện sự tán thành hay phản đối, cường độ là sức mạnh một ý kiến có được Bề rộng thể hiện phạm vi phổ biến của ý kiến Chiều sâu ý kiến thể hiện mức độ vững chắc của nó trong hệ thống các giá trị của

cá nhân Những ý kiến có chiều sâu thường khó thay đổi khuynh hướng, ngược lại những ý kiến không có chiều sâu, dù được thể hiện mạnh mẽ vẫn

dễ dàng chuyển sang khuynh hướng trái ngược

1.1.2.2 Nghiên cứu ý kiến công chúng

Nghiên cứu ý kiến công chúng là vận dụng trí tuệ để khai thác các giá trị của ý kiến công chúng vào một mục đích nhất định Trong xã hội bùng nổ thông tin, công chúng tiếp cận với nhiều nguồn thông tin bằng nhiều cách khác nhau, đó là cơ sở để nâng cao nền tri thức cho mỗi người, nhưng cũng tạo ra các luồng ý kiến đa dạng, phong phú trong xã hội Trên thế giới, các nước phát triển đã chú ý nghiên cứu ý kiến công chúng rất sớm Ở Mỹ, những cuộc nghiên cứu công luận đầu tiên có nguồn gốc từ những cuộc thăm dò bầu

cử của báo chí vào năm 1824, sau đó nó trở thành phổ biến Năm 1914, Trung tâm Quốc gia nghiên cứu công luận của Mỹ đã được thành lập Năm 1936 tờ Digest đã gửi qua bưu điện hơn 10 triệu lá phiếu thăm dò trong cuộc bầu cử tổng thống Họ đã thu về được hơn 2 triệu phiếu để thống kê, phân tích, những kết quả dự đoán sai Các nhà nghiên cứu đã phân tích nguyên nhân thất bại là

do 10 triệu lá phiếu chỉ gửi đến những người đại diện của những người nghèo

và ít học Ngoài ra, những người không nhận được và không gửi lại các lá phiếu thì không được tính đến trong mẫu chung Qua thất bại trên đây cho thấy, nghiên cứu ý kiến công chúng là một công việc đòi hỏi tính khoa học tỉ mỉ

Chưa hẳn những cuộc điều tra, nghiên cứu quy mô lớn đã cho kết quả chính xác

Ngày nay, việc nghiên cứu ý kiến công chúng được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực Ở nước ta với phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm

Trang 21

tra, là quan điểm của Đảng, thể hiện sự tôn trọng ý kiến nhân dân Nhân dân được góp ý vào những văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước, được bàn luận những chính sách xã hội có liên quan trực tiếp tới đời sống của mình

Đối với lĩnh vực truyền thông, tuỳ từng loại hình, ứng dụng các nghiên cứu ý kiến công chúng với các mục đích khác nhau Chẳng hạn những người quản

lý báo chí thì kết quả của nghiên cứu là cơ sở để đánh giá hiệu quả của tờ báo, chương trình phát thanh, truyền hình Với những nhà quảng cáo, kết quả nghiên cứu là cơ sở để quyết định đưa quảng cáo vào chương trình nào

Công cụ nghiên cứu ý kiến công chúng chủ yếu là mẫu điều tra, các cuộc phỏng vấn, một bản câu hỏi điều tra và các trang thiết bị cần thiết để thống kê

Ngày nay trong các cuộc điều tra, phiếu câu hỏi ngày càng phức tạp do các nhà nghiên cứu chuyển từ câu hỏi đơn giản kiểu trưng cầu ý kiến sang dùng các phiếu câu hỏi để đo đạc tất cả các tham số của công luận Ngoài ra, còn nhiều phương pháp nghiên cứu ý kiến công chúng như thông qua mạng lưới cộng tác viên, phương pháp quan sát, phỏng vấn, phương pháp phân tích nội dung

1.2 TRUYỀN THÔNG VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI DƯ LUẬN XÃ HỘI

1.2.1 Truyền thông – quá trình truyền thông

1.2.1.1 Khái niệm chung về truyền thông

Theo từ điển tiếng Anh, từ truyền thông có nghĩa “Communication”, là

sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông…

Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc từ tiếng Latin: “commune”, có nghĩa là chung hay cộng đồng Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội Nhờ truyền thông giao tiếp mà con người tự nhiêm trở thành con người xã hội

Truyền thông là một hoạt động gắn liền với lịch sử phát triển của loài người Đó là điều kiện để tạo nên những mối quan hệ xã hội giữa người với

Trang 22

người Thiếu truyền thông, giao tiếp, con người và xã hội loài người khó hình thành và phát triển

Tùy theo những góc độ tìm hiểu và nghiên cứu khác nhau, có rất nhiều khái niệm khác nhau về “truyền thông” Chẳng hạn như Frank Dance năm

1970 trong công trình nghiên cứu của mình về “khái niệm cơ bản về truyền thông” đã nêu ra 15 định nghĩa truyền thông của các tác giả trên nhiều góc độ khác nhau Ngoài những quan niệm của Frank Dance, còn có nhiều quan niệm khác về truyền thông, chẳng hạn như: Truyền thông là quá trình truyền thông tin giữa các cá nhân với nhau Cũng có quan niệm cho rằng Truyền thông là quá trình trong đó một cá nhân (người truyền tin) truyền những thông điệp với

tư cách là những tác nhân kích thích (thường là những ký hiệu ngôn ngữ) để sửa đổi hành vi của những cá nhân khác (chính là những người nhận tin)

Truyền thông xảy ra khi người A truyền thông điệp B qua kênh C đến người D với hiệu quả E Đó là quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt sự hiểu biết lẫn nhau…

Từ những định nghĩa trên, cho thấy tính phức tạp, tính đa dạng của truyền thông Khái niệm truyền thông bao hàm một ý nghĩa hết sức rộng lớn

Truyền thông là sự cố gắng tạo lập ra sự hiểu biết chung của con người, với mục đích làm thay đổi nhận thức và hành vi Truyền thông khác với thuật ngữ

“Các phương tiện truyền thông đại chúng” (Mass Media hay Mass Commubication), bao gồm: Sách, báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, phim tài liệu, Internet… Các phương tiện truyền thông đại chúng là một kênh của truyền thông Đó là kênh quan trọng và có hiệu quả nhất của quá trình truyền thông

Giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí - truyền thông” đã đưa ra một khái

niệm chung về truyền thông như sau: “Truyền thông là một quá trình liên tục

trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức”

Trang 23

Định nghĩa trên cho thấy truyền thông là một quá trình, nó không phải

là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không kết thúc ngay sau khi chuyển tải nội dung cần thiết, mà còn tiếp diễn sau đó Đó là quá trình trao đổi giữa cả bên cho và bên nhận

Từ khái niệm trên còn cho thấy truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông Truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành

vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa

1.2.1.2 Khái niệm truyền thông dưới góc độ xã hội học

Dưới góc độ nghiên cứu xã hội học, có thể hiểu truyền thông đại chúng

là toàn bộ những phương tiện của các thiết chế xã hội, nhằm đảm bảo phổ biến thông tin trên quy mô đại chúng, được thực hiện bằng các hoạt động phát thanh, truyền hình, hệ thống in ấn và phát hành sách, báo tới những nhóm công chúng lớn

Truyền thông tồn tại từ khi có con người, nhưng chỉ gần đây mới được nghiên cứu về mặt khoa học Lý luận thông tin đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu truyền thông Truyền thông được nghiên cứu theo lý luận ngôn ngữ học tâm lý, việc hiểu ngôn ngữ gắn liền với cơ chế tri giác Xã hội học quan tâm tới tác động của cấu trúc xã hội, quan hệ xã hội trong quá trình truyền đạt, tiếp nhận thông tin

Xã hội học quan niệm truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội, gồm 3 yếu tố: Đại chúng là các tầng lớp công chúng, là những người nhận thông tin từ các phương tiện của truyền thông đại chúng; Các nhà truyền thông và hoạt động truyền thông; các phương tiện truyền thông đại chúng được phân tích như một thiết chế xã hội Thông qua quá trình truyền thông, nhằm chuyển tải thông tin

Trang 24

Sự phát triển của xã hội học cho thấy, ngay từ đầu, hiện tượng truyền thông đã ở vị trí trung tâm Nó được xem là khái niệm cơ bản của xã hội học

Người ta nhận rõ ý nghĩa quan trọng của truyền thông đối với quá trình xã hội hóa con người cũng như việc hình thành và phát triển các cộng đồng người

Khái niệm truyền thông được sử dụng ở nhiều lĩnh vực Theo nghĩa rộng nhất, nó là sự tạo ra mối liên hệ giữa các đối tượng có thể mang bản chất

sự sống hay không Khái niệm này không chỉ ứng dụng cho các quy trình hóa học, các trường lực vật lý, các quá trình tâm lý mà còn cho các phương thức hành vi trong xã hội

1.2.1.3 Yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông

Trong quá trình truyền thông, có các yếu tố cơ bản sau: Nguồn thông tin; Thông điệp; Mạch truyền (Kênh); Người tiếp nhận

Nguồn (Source), hay còn gọi là người gửi thông tin, đây là yếu tố khởi nguồn của một quá trình truyền thông Đó là một cá nhan nói, viết, vẽ, hay làm động tác Yếu tố khởi xướng có thể là một nhóm người, một tổ chức truyền thông như các cơ quan báo chí

Thông điệp (Message), là yếu tố thứ hai của quá trình truyền thông

Thông điệp có thể bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng văn bản, sóng trên không trung… hoặc bằng bất cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu được, trình bày ra một cách có ý nghĩa Điều quan trọng là ngôn ngữ phải được diễn

tả bằng thứ ngôn ngữ mà người cung cấp và người tiếp nhận đều hiểu được

Có thể là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, ngôn ngữ kỹ thuật trọng khoa học kỹ thuật, hay ngôn ngữ văn học nghệ thuật…

Mạch truyền, hay còn gọi là Kênh là yếu tố thứ 3 cấu thành quá trình truyền thông Thông qua Mạch truyền, làm cho người ta nhận biết thông điệp bằng các giác quan Mạch truyền là cách thể hiện thông điệp để con người có thể

Trang 25

nhìn thấy, hoặc nghe thấy thông qua các thể loại hình ảnh, trực quan, qua các phương tiện nghe, nhìn, đọc; Hoặc những dụng cụ khác như: sờ, nếm, ngửi…

Người tiếp nhận, hay còn gọi là nơi tiếp nhận là yếu tố thứ tư của truyền thông Đó là những người nghe, người xem, người giải mã, người giao tiếp Đối tượng tiếp nhận có thể là một người, một nhóm người, một đám đông thành viên của một tổ chức hay của đông đảo công chúng

Quá trình truyền thông còn có những yếu tố khác, đó là yếu tố “phản hồi” (Feedback); yếu tố “Nhiễu” do vật lý hay do khách quan

1.2.1.4 Quá trình truyền thông

Nghiên cứu về quá trình truyền thông, có thể chia thành hai giai đoạn như sau: Quá trình A - Nguồn (source) có thể là một người, một tổ chức, một

cơ quan chuyển một thông điệp cho đối tượng trong đó chứa đựng những thông tin mã hoá (encode) là tìm tòi một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nào

đó diễn đạt nội dung thông điệp Thông điệp (message) là những thông tin thực sự được chuyển theo một mạch truyền (chanel) này hay kênh khác đến đối tượng

Quá trình B: Giải mã (decode), là quá trình từng cá nhân bằng con đường riêng của mình làm rõ ràng, rành mạch thông điệp được chuyển đến

Mỗi thông điệp chuyển đến có thể được chấp nhận và hiểu biết theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào kiến thức, thái độ của người tiếp nhận và cũng tuỳ thuộc vào người cung cấp và nội dung thông điệp

Nơi nhận (destination), người nhận (receiver) là điểm cuối cùng giải mã thông điệp, có quá trình và sự tích luỹ của người tiếp nhận

Phản hồi (feeback) là dòng chảy thông tin mà những bước đi từ thông tin gốc đến nơi tiếp nhận và ngược lại Nhưng nó chỉ được thực hiện với điều kiện người tiếp nhận giải mã được thông tin và người cung cấo thông tin có những thông tin thích hợp với hiện tại Phản hỏi là khoá cạnh quan trọng nhất

Trang 26

của quá trình truyền thông, là công cụ cho phép nối hau đường truyền thông lại với nhau Nó không còn tồn tại hoặc bị cản trở khi một trong hai bộ phận truyền thông bị vô hiệu quá hoặc với sự chống lại của bộ phận tiếp nhận Một hạn chế của truyền thông là có thể xảy ra hiện tượng không phản hồi

Yếu tố “phản hồi” là sự tác động ngược trở lại từ nơi tiếp nhận, cụ thể khi công chúng khi tiếp nhận thông tin trong quá trình truyền thông Đây chính

là vấn đề mà đề tài đang tập trung nghiên cứu, bởi dư luận xã hội chính là phản hồi của công chúng trong quá trình truyền thông Muốn định hướng được dư luận xã hội thì phải nghiên cứu những phản hồi của công chúng, từ đó nắm bắt, phân tích và mới đưa ra được những giải pháp định hướng đúng đắn, phù hợp

và thực tế Hiểu biết được đối tượng truyền thông là một yếu tố hết sức quan trọng để tạo nên hiệu quả trong quá trình truyền thông Đối tượng của truyền thông chính là con người Mỗi người có thể trả lời, đáp ứng thông điệp của người khởi xướng tuỳ theo xu hướng, thái độ, trình độ học vấn, địa vị xã hội của riêng họ Vì vậy, biết đối tượng không phải là đơn giản Nó đòi hỏi người truyền thông phải đi sâu vào bản chất, nhu cầu, nghiên cứu kỹ đối tượng dùng chính ngay ngôn ngữ của đối tượng để làm giảm bớt những “rào cản” đến mức thấp nhất

Quá trình truyền thông là quá trình trao đổi thông tin hai chiều, đây là một chu trình khép kín Quá trình truyền thông giữa con người bao giờ cũng diễn ra trong môi trường xã hội, xác định rõ giữa những người khởi xướng và người tiếp nhận Để truyền thông đạt hiệu quả, kinh nghiệm của người khởi xướng và người tiếp nhận có giá trị đặc biệt khi tiến hành Thông điệp muốn truyền thông phải qua các bước mã hoá, truyền đi tiếp nhận và giải mã Mỗi thông điệp chuyển từ người khởi xướng đến người tiếp nhận thường giảm độ chính xác và cường độ, nên phải tìm cách tăng thêm sức mạnh cho thông

Trang 27

điệp Mỗi thông điệp được người tiếp nhận nghiên cứu và chỉ biết được sức mạnh, hiệu quả của nó khi người tiếp nhận có thông tin phản hồi

1.2.1.5 Phân biệt truyền thông đại chúng và thông tin đại chúng

Truyền thông đại chúng là thuật ngữ chỉ quá trình truyền đạt thông tin:

tri thức, tin tức, giá trị tinh thần, những chuẩn mực đạo đức pháp lý một cách rộng rãi Quá trình truyền thông chủ yếu thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như: Báo chí, truyền hình, điện ảnh, phát thanh, sách, quảng cáo, Internet, băng đĩa hình, âm thanh v.v

Như vậy, truyền thông đại chúng bao gồm cả thông tin đại chúng;

thông tin đại chúng là nòng cốt, là lực lượng chủ yếu của truyền thông

Truyền thông là một dạng căn bản của hành vi con người trong xã hội “Đó là

cơ chế để các liên hệ của con người tồn tại và phát triển”

Ngày nay, các phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò hết sức to lớn trong đời sống xã hội, nó tham gia ngày càng tích cực vào hoạt động tổ chức, quản lý xã hội

1.2.1.6 Các phương tiện truyền thông đại chúng

Phương tiện truyền thông đại chúng là phương thức chuyển tải thông tin tới công chúng, bao gồm:

- Sách: là loại hình sản phẩm truyền thông đại chúng không định kỳ,

được chế tác bằng in ấn và nhằm chuyển tải tri thức của con người Có các loại sách: Sách chuyên biệt, sách tra cứu, sách chuyên khảo, sách giáo khoa, sách thương mại, sách tôn giáo…

- Các ấn phẩm báo: Là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung

thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội Có các hình thức báo ngày (nhật báo), báo tuần, nguyệt san, bán nguyệt san, một tháng và hai – ba tháng Tính thời sự trong nội dung thông tin của các ấn phẩm này được hiểu là sự phản ánh nhanh những sự kiện trong xã hội và thiên

Trang 28

nhiên, đây cũng là những vấn đề, sự kiện được cả xã hội quan tâm Sản phẩm báo chí được phát hành rộng rãi, song đối với từng loại hình báo, tạp chí đều

có một đối tượng xác định Do những đặc điểm đặc của mình, báo chí là phương tiện truyền thông nhanh và hiệu quả nhất Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, báo điện tử (internet) đã xuất hiện ở Việt Nam và phát triển một cách nhanh chóng không ngờ Với tốc

độ thông tin và lượng thông tin phong phú, báo điện tử đang dần chiếm ưu thế

so với các loại hình báo khác

- Bản tin: Là một ấn phẩm ra định kỳ hoặc không định kỳ, nhằm

chuyển tải những nội dung về một loại thông tin nhất định, có tính chất nội

bộ, không bày bán trên thị trường Bản tin cũng sử dụng các phương pháp chuyển tải thông tin như báo chí, nhưng không phải là một dạng báo chí được Luật Báo chí điều chỉnh

- Phát thanh: Là một trong những loại hình truyền thông đại chúng,

trong đó nội dung thông tin được chuyển tải bằng âm thanh Âm thanh trong phát thanh bao gồm lời nói, âm nhạc, các loại tiếng động làm nền hoặc minh họa cho lời nói bằng những âm thanh nhân tạo và âm thanh tự nhiên của cuộc sống Thuật ngữ phát thanh bao gồm cả hai loại hình nhở trong đó là phát thanh qua làn sóng điện và truyền thanh qua hệ thống dây dẫn Tuy nhiên, trong lịch sử của phát thanh thì loại hình thứ nhất là căn bản, là yếu tố quan trọng nhất làm nên chất lượng và sức mạnh to lớn của phát thanh, có thể chuyển thông tin đến gần như bất cứ đâu Phát thanh có khả năng to lớn trong việc cung cấp thông tin cho công chúng một cách nhanh nhất so với loại hình truyền hình và báo

- Truyền hình: Là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng

chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh Nguyên nghĩa của nó là

vô tuyến truyền hình Với sự kết hợp giữa âm thanh và truyền hình, mang lại

Trang 29

cho con người cảm giác về một cuộc sống rất thật như đang hiện diện trước mắt Nếu lấy mục đích làm tiêu chí để xem xét, người ta có thể chia truyền hình thành các loại: truyền hình thương mại, truyền hình giáo dục, truyền hình công cộng… Nếu lấy kỹ thuật làm tiêu chí thì có thể thấy truyền hình có hai loại hình chính là truyền hình sóng và truyền hình cáp Truyền hình sóng ra đời trước, được thực hiện theo nguyên tắc kỹ thuật: hình ảnh động và âm thanh được mã hóa dưới dạng các tín hiệu sóng và phát vào không trung Do vậy, truyền hình sóng phục vụ cho các đối tượng công chúng, không có khả năng đáp ứng nhu cầu hay dịch vụ cá lẻ

Truyền hình cáp ra đời nhằm khắc phục những hạn chế trên của truyền hình sóng, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu, dịch vụ cá lẻ mà truyền hình sóng không thực hiện được Truyền hình cáp thực hiện theo nguyên tắc tín hiệu được truyền trực tiếp qua cáp nối từ đầu phát đến từng máy thu hình

- Điện ảnh: là nghệ thuật của những hình ảnh động, được ghi lại trên

phim nhựa (hoặc băng từ, đĩa CD và gần đây là kỹ thuật số), sau đó chiếu lên màn ảnh hoặc màn hình, đem lại ảo giác giống như cuộc đời thực Nghệ thuật điện ảnh gồm 4 nhóm thể loại phim sau: Phim thời sự - tài liệu; phim khoa học; phim hoạt hình; phim truyện

- Quảng cáo, tuyên truyền, cổ động: Thực chất là phương pháp truyền

thông tin từ người có nhu cầu quảng cáo, tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông đại chúng đến với đông đảo người trong xã hội Trong xã hội hiện đại, người ta bắt gặp quảng cáo ở khắp nơi, dưới mọi hình thức, bằng mọi phương tiện và không thể thiếu trong đời sống Đó là các chương trình quảng cáo trên đài phát thanh, truyền hình, trên báo, tạp chí, biển hiệu, pano,

áp phích, băng-rôn, biển hiệu ngoài trời, sự trưng bày… Ngoài ra hình thức tuyên truyền miệng cũng là một phương tiện truyền thông đại chúng

Trang 30

1.3 BÁO CHÍ LÀ PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG CÓ HIỆU QUẢ NHẤT VÀ CÓ TÁC ĐỘNG MẠNH MẼ TỚI DƯ LUẬN XÃ HỘI

1.3.1 Mối quan hệ biện chứng giữa TTĐC và DLXH

Mác từng nói: sản phẩm của TTĐC là DLXH Thực tế hoạt động của TTĐC, cho thấy các phương tiện TTĐC hướng đến việc hình thành DLXH, đồng thời hệ thống này cũng là kênh thể hiện DLXH TTĐC và DLXH có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, nhằm hướng tới một sự công bằng, dân chủ, công khai minh bạch

Các phương tiện TTĐC là nơi phát đi các nguồn thông tin tới công chúng (nhóm xã hội lớn), là căn cứ của việc hình thành nên DLXH Nhưng, các phương tiện TTĐC không chỉ tạo nên DLXH, mà những thông tin phản hồi từ DLXH có tác động ngược trở lại tới hoạt động TTĐC Phản hồi là những “dòng chảy” của thông tin ngược lại từ nơi tiếp nhận (là nhóm công chúng) Thông tin phản hồi chỉ hình thành khi người nhận giải mã được thông tin từ nguồn Phản hồi là yếu tố quan trọng của quá trình truyền thông, tạo nên

sự khép kín của quá trình truyền thông

Mối quan hệ giữa báo chí và công chúng trong việc hình thành và thể hiện DLXH mang tính chất biện chứng Một mặt các phương tiện TTĐC nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu ngày càng tăng của công chúng, mặt khác, bản thân công chúng lại đặt ra yêu cầu mới đối với hoạt động của hệ thống này

DLXH được tạo ra dưới tác động của các phương tiện TTĐC qua các kênh

Thông qua các kênh đó, bằng con đường giao tiếp, bằng hoạt động thảo luận

về nội dung và các thông tin mà công chúng tiếp nhận được để hình thành DLXH

Với tác động của hệ thống TTĐC, DLXH diễn ra tuần tự: Công chúng tiếp nhận những vấn đề được báo chí gợi ý hoặc đề xuất; Bằng cách đăng bài của các chuyên gia am hiểu về một chủ đề nào đó, nhằm kích thích lợi ích xã

Trang 31

hội về chủ đề đó Việc trình bày các quan điểm khác nhau trong cách nhìn nhận đánh giá để tạo nên cơ sở cho tranh luận; Tiến hành tranh luận trên

phạm vi đại chúng, tạo thành DLXH

1.3.2 Báo chí là kênh thông tin quan trọng trong quá trình truyền thông

Như đã phân tích ở trên, để có thể thực hiện được quá trình truyền thông, phải thông qua các phương tiện, gọi là phương tiện TTĐC Các phương tiện TTĐC bao gồm: sách, báo, phát thanh, truyền hình, phim tài liệu, báo điện tử internet… đó là kênh quan trọng nhất của quá trình truyền thông

Quá trình truyền thông thông qua các loại hình báo chí, cho thấy báo chí trở thành phương tiện của toàn dân, nhờ đó, mỗi liên hệ giữa cá nhân và xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng trở nên chặt chẽ và phức tạp hơn Với khả năng tác động một cách rộng lớn, nhanh chóng và mạnh mẽ vào xã hội, báo chí có khả năng và vai trò rất lớn trong việc hình thành và định hướng dư luận xã hội Báo chí là phương tiện tạo dư luận xã hội và định hướng dư luận xã hội có hiệu quả nhất bằng khả năng thông tin kịp thời, sinh động và phong phú các sự kiện hiện tượng tới đông đảo công chúng

Báo chí không chỉ truyền đạt thông tin về mọi lĩnh vực, mà còn là diễn đàn của nhân dân, có khả năng thu hút, tập hợp quần chúng nhân dân Nhân dân có thể phát biểu ý kiến, tâm tư nguyện vọng của mình về các vấn đề trong

xã hội Bởi báo chí có chức năng thông tin 2 chiều, nhiều chiều, do đó vai trò hình thành và định hướng dư luận trong quá trình truyền thông là hết sức to lớn

1.3.3 Mối quan hệ biện chứng giữa báo chí và DLXH

Mối quan hệ giữa báo chí và DLXH là mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, như hình với bóng Cơ sở của mối quan hệ này chính là sự quan tâm của công chúng trong mỗi thông điệp, mỗi bài báo, mỗi ấn phẩm báo chí nói chung

Trang 32

Thứ nhất: Báo chí có vai trò khơi nguồn cho DLXH Trước hết, báo chí

có tác động mạnh mẽ vào ý thức quần chúng, tác động vào DLXH bằng những thông tin, bài báo sản phẩm cụ thể

Thứ hai: Báo chí có vai trò phản ánh DLXH Báo chí không chỉ hình thành DLXH, đồng thời đây cũng là kênh thể hiện DLXH rất hiệu quả Để thực hiện được vai trò đó, hệ thống truyền thông đại chúng nói chung và hệ thống báo chí nói riêng có các nhiệm vụ: Làm tăng cường và phát triển dân chủ hóa các mặt của đời sống xã hội Tổ chức và động viên nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý xã hội; Thông tin cho nhân dân về tình trạng xã hội, về các vấn đề bức xúc xã hội, nhất là những vấn đề mang tính cấp bách; Tác động lên các thiết chế

xã hội và đề xuất phương án hành động; Hình thành DLXH về một vấn đề nào

đó, nhằm thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của thực tế đó; Xây dựng lòng tin, thế giới quan và ý thức quần chúng; Điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong xã hội, làm tăng cường tính tích cực chính trị - xã hội của quần chúng

Phản ánh DLXH trực tiếp, bằng cách in các bức thư của người đọc, người nghe, người xem, hoặc lời phát biểu của đại diện các tầng lớp công chúng trên các trang báo hoặc trên sóng phát thanh, truyền hình Cho in trên báo, hoặc phát trên sóng phát thanh và truyền hình các bài phát biểu của đại diện các tầng lớp nhân dân, hoặc các tổ chức, đoàn thể xã hội về một chủ đề nào đó,

có kèm theo lời bình của cộng tác viên hoặc của Ban biên tập… Trên cơ sở nghiên cứu, tập hợp, phân tích các ý kiến về một vấn đề nào đó, các nhà báo viết bài và cho in, hoặc phát trên sóng phát thanh, truyền hình…

Sự phản ánh DLXH của báo chí càng kịp thời, sâu sát và đầy đủ bao nhiêu thì báo chí càng sinh động và hấp dẫn bấy nhiêu Tuy nhiên, phản ánh DLXH đòi hỏi nhà báo vừa phải nhạy cảm, vừa phải tỉnh táo, có phương thức cụ thể để tránh khỏi rơi vào đơn điệu khô cứng, áp đặt hoặc tự nhiên chủ nghĩa

Trang 33

Thứ ba: Báo chí và TTĐC có vai trò định hướng và điều hoà DLXH, điều hoà tâm lý, tâm trạng xã hội Đây là vai trò có ý nghĩa quyết định hiệu quả tác động cảu báo chí Dù khơi nguồn, phản ánh như thế nào, cuối cùng báo chí cũng thực hiện chức năng định hướng DLXH, tức là định hướng nhận thức, hướng dẫn nhận thức và định hướng tư tưởng cho nhân dân

Định hướng không chỉ là yêu cầu của nhà báo, nhà truyền thông, mà còn là yêu cầu khách quan của công chúng cần thống nhất nhận thức, thái độ

và hành vi của quần chúng nhân dân trong đời sống xã hội

Sự tác động, định hướng của báo chí đối với DLXH là rất toàn diện, hệ thống này không chỉ tỏ rõ vai trong các đợt vận động chính trị, tuyên truyền những chủ trương chính sách lớn, mà còn đi sâu vào những hiện tượng thường ngày, nhất

là các hiện tượng mang tính cấp bách, đột xuất Điều đó, được biểu hiện cụ thể ở những vấn đề như: Tập hợp sức mạnh đại đoàn kết dân tộc ủng hộ chủ trương, đường lối của Đảng, đấu tranh với cái xấu, cái ác, vạch trần những âm mưu đen tối của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, bảo vệ Đảng, bảo

vệ chế độ; Việc nghiên cứu báo chí trong việc tạo ra dư luận xã hội và định hướng

dư luận trong điều kiện cơ chế thị trường, hội nhập toàn cầu là hết sức quan trọng

Thứ tư: Cùng với DLXH và bằng DLXH, báo chí thực hiện chức năng giám sát xã hội Báo chí vừa là cơ quan ngôn luận, là công cụ thể hiện quyền lực chính trị của Đảng và Nhà nuớc, vừa là diễn đàn dân chủ thể hiện quyền lực của nhân dân và

là công cụ của nhân dân giám sát các hoạt động kinh tế – xã hội

Thứ năm: DLXH được coi là đối tác của báo chí Báo chí không chỉ tạo ra DLXH mà DLXH cũng tác động trở lại tới hoạt động này, thông qua những thông tin phản hồi trong quá trình truyền thông Một mặt, DLXH là đối tượng tác động, đối tượng phản ánh, đối tượng điều chỉnh của báo chí; mặt khác, DLXH là nguồn dữ liệu phong phú vô tận của báo chí Càng gắn chặt với DLXH, phản ánh đầy đủ diện mạo DLXH thì báo chí càng sinh động, hấp

Trang 34

dẫn Do đó, việc nghiên cứu, nắm bắt DLXH, phát huy vai trò thực tế của DLXH trong đời sống xã hội thông qua báo chí, truyền thông có ảnh hưởng rất lớn tới sự biến đổi ý thức xã hội

1.4 CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI TRUYỀN THÔNG

1.4.1 Khái quát về cơ chế thị trường ở nước ta

Cơ chế thị trường là cơ chế kinh tế tất yếu, vì chỉ thông qua cơ chế thị trường mới liên kết được các nhà sản xuất riêng lẻ vào hoạt động kinh tế của quốc gia Cạnh tranh là tất yếu để tồn tại trong nền kinh tế thị trường Đặc tính cạnh tranh của kinh tế thị trường đã mở rộng biên độ cũng như tính chất hoạt động sống mới, phá bỏ quan hệ đặc quyền, đẳng cấp giữa các cá nhân, tạo cho mỗi cá nhân môi trường cạnh tranh tự do, làm cho mỗi thành viên xã hội bình đẳng với nhau theo nguyên tắc “giỏi thắng, kém thua” trên tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh Sự hình thành quan hệ bình đẳng đã tạo điều kiện và thời cơ cho mọi thành phần và đơn vị kinh tế Sự tự do kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành theo tiêu chí con người với tư cách động lực và mục tiêu đã giải phóng, phát huy cao độ tiềm lực và khả năng của cá nhân cũng như toàn thể nhân dân lao động; nó có ý nghĩa to lớn trong việc kích thích,

mở rộng tiềm năng sáng tạo của con người, của mọi thành phần kinh tế

Mỗi đơn vị kinh tế là một chủ thể tự do, tự chủ kinh doanh theo pháp luật Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng trong việc làm sống động thị trường Tiền tệ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh

tế Đồng tiền được phát huy đầy đủ chức năng của mình, đồng tiền quốc gia từng bước hòa nhập đồng tiền quốc tế Thị trường quốc gia là một thể thống nhất, không thể chia cắt theo ranh giới hành chính và từng bước hội nhập thị trường trong khu vực và quốc tế Thị trường bao gồm không chỉ là thị trường hàng hóa và dịch vụ, mà còn là thị trường các yếu tố sản xuất Nhà nước điều

Trang 35

khiển thị trường thông qua hệ thống luật và chính sách, trong đó Luật Tthương mại được xem như luật chơi cơ bản của thị trường

Cơ chế thị trường là thành quả quan trọng và tất yếu nảy sinh từ luật cung – cầu của nhân loại Nó là yếu tố cân bằng bên trong giữa sản xuất và tiêu dùng, tạo thành cơ chế điều chỉnh lợi ích của những nhóm xã hội khác nhau Cơ chế thị trường được hình thành trong mọi nền sản xuất hàng hóa

Quan hệ chủ yếu xuyên suất cơ chế thị trường là hàng hóa và tiền tệ Đồng tiền vừa là phương tiện trao đổi, vừa là mục đích của quá trình trao đổi, nhằm thu lại lợi nhuận tối đa Đó cũng là nguyên nhân cơ bản của những biến đổi từ

sự tác động tới mọi mặt hoạt động trong đời sống xã hội

1.4.2 Sự tác động của kinh tế thị trường tới hoạt động truyền thông nói chung và báo chí nói riêng

Trong bất cứ nền kinh tế thị trường nào, tính hai mặt của kinh tế thị trường là đặc điểm vốn có của nó Bên cạnh những mặt tích cực, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa cũng mang lại không ít “tai họa” cho con người, cho xã hội và cho cả giới tự nhiên Từ trước đến nay, đối với tất cả các nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, việc kiếm được nhiều tiền và thu được lợi nhuận tối đa thông qua cạnh tranh là mục đích cao nhất của các nhà tư bản Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, chứ hoàn toàn không chủ trương phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Mặc dù thời gian mà chúng ta đi theo hướng phát triển kinh tế thị trường còn ngắn, nhưng trong đời sống xã hội đã xảy ra nhiều biến động, thay đổi tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường

Bởi trong giai đoạn chuyển đổi là giai đoạn nhạy cảm nhất, rất dễ bị “tổn thương” Sự nhạy cảm đó có thể dẫn đến các khả năng và các trạng thái khác nhau trong việc tiếp nhận những tác động nhiều mặt từ bên ngoài Nền kinh tế đang chuyển đổi của bất cứ quốc gia nào cũng đều nằm trong tình trạng tương

Trang 36

tự như vậy Và, nền kinh tế Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp bước đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó

Chính tính chất chuyển đổi này, hay theo một nghĩa nào đó cũng có thể nói là tình trạng “tranh tối tranh sáng”, đang cùng với tình trạng thiếu pháp luật hoặc sự chưa hoàn chỉnh của pháp luật, của các công cụ quản lý và điều tiết của Nhà nước làm cho các biến động trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực truyền thông, báo chí, trở nên đáng lo ngại

Ảnh hưởng lớn nhất tới truyền thông nói chung và báo chí nói riêng, đó

là sự cạnh tranh và tính dịch vụ về mọi mặt trong hoạt động truyền thông;

những biểu hiện suy thoái về đạo đức của một bộ phận những người làm báo

Ở nước ta, tư nhân tham gia rất nhiều vào hoạt động truyền thông nói chung Tuy trong lĩnh vực báo chí, không có báo chí tư nhân, nhưng báo chí cũng chịu tác động của kinh tế thị trường, luôn phải cạnh tranh lẫn nhau giữa báo chí trong nước và báo chí nước ngoài Kinh tế thị trường, đã thúc đẩy sự phát triển các dịch vụ truyền thông (số lượng, loại hình truyền thông tăng lên đáng kể) Sự phát triển của kỹ thuật, như việc sử dụng kỹ thuật vệ tinh đã dẫn tới sự bành trướng quá mức các dịch vụ truyền thông Sự quá tải về dịch vụ truyền thông khiến cho các nhà cung cấp dịch vụ ngày càng “đấu tranh” để giành giật công chúng, trong khi độc giả, khán giả, thính giả chỉ có một quỹ thời gian và tiêu chí có hạn Nhu cầu và yêu cầu của công chúng ngày một cao, ngày càng khó tính hơn, tác động mạnh hơn và cũng không kiên định, gắn bó vào một loại hình truyền thông nào Do vậy, cuộc cạnh tranh đó diễn ra ngày một gay gắt

Báo chí là một hoạt động cơ bản của truyền thông và cơ chế thị trường

đã góp phần tạo ra xu hướng “thương mại hóa báo chí” Tình trạng thương mại hóa ở báo chí hiện nay đã và đang được nhắc nhở, phê phán, biểu hiện ở

Trang 37

những mặt tiêu cực Tuy nhiên, cụm từ “thương mại hóa báo chí” có thể có nhiều cách hiểu khác nhau Bởi báo chí được coi là một loại hàng hóa, yếu tố hàng hóa được thể hiện ở chỗ báo chí cũng hoạt động trong nền kinh tế thị trường với các quy luật của giá cả, giá trị và bị quy luật cung – cầu chi phối, nên nó cũng chịu sức ép của cạnh tranh trên “thị trường báo chí”, “thị trường thông tin” Báo chí được xác định khác so với các loại hàng hóa thông thường

ở chỗ nó không lấy lợi nhuận làm mục đích cao nhất, duy nhất mà đặt lợi ích chính trị, văn hóa, tinh thần của xã hội lên hàng đầu Lợi ích xã hội ở đây là lợi ích của dân tộc, của đất nước và lợi ích của đa số người lao động

Bằng những biểu hiện tiêu cực, thì “thương mại hóa báo chí” trong cơ chế thị trường còn được hiểu là tình trạng xa rời tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, xa rời chức năng, nhiệm vụ chính của tờ báo Nội dung và hình thức báo chạy theo thị hiếu tầm thường, cốt sao bán được càng nhiều càng tốt, nhằm lấy số lượng bù đắp cho chi phí, hạn chế thất thu do số lượng phát hành

ít Cụ thể, trên một bản in, nếu in với số lượng càng ít thì giá thành càng cao, ngược lại, in càng nhiều, giá thành càng hạ Để chạy theo số lượng phát hành, một số tờ báo đã dùng nhiều cách làm báo nhằm câu khách Phổ biến nhất trong cách làm báo này là nhặt nhạnh nhiều vụ án để đăng tải Trong mỗi số báo, họ cho đăng tới 5-7 vụ án các dạng, khiến bạn đọc có ấn tượng nặng nề,

bi quan đối với xã hội Trên thực tế, tình trạng gia tăng tội phạm là có thật, song bức tranh toàn cảnh của xã hội ta không đúng như một số tờ báo phản ánh Cùng với những chuyện bạo lực giật gân, một số tờ báo dùng những chuyện yêu đương, tình dục dưới nhiều dạng khác nhau để khêu gợi, câu khách Đó là những chuyện tình ái, ủy mị, mùi mẫn, rẻ tiền, những hình ảnh gợi cảm; quảng cáo những dịch vụ thiếu lành mạnh… nhằm phục vụ thị hiếu thấp kém của một bộ phận bạn đọc trẻ tuổi Quan niệm của một số người biên

Trang 38

tập cho rằng đây chỉ là những mảng thư giãn, giải trí, coi nhẹ tác hại của các bài báo đó

Hay như gần đây, việc khai thác đời tư của những nhân vật nổi tiếng, chính khách nước ngoài cũng là đề tài được báo chí khai thác nhiều nhằm thu hút bạn đọc Một đề tài khác được các báo khai thác để câu khách, đó là mê tín

dị đoan, trong đó “đời sống tâm linh” của con người được đề cập và bàn luận nhiều nhất “Tâm linh” và “ngoại cảm” có những biểu hiện trong thực tế khá huyền ảo, có khi hầu như thuyết phục, song khoa học còn đang khám phá và lý giải, chưa có kết luận rõ ràng Nếu báo chí đi sâu vào lĩnh vực đang nghiên cứu này với cách nhìn võ đoán thì dễ dẫn dắt bạn đọc vào mê cung của sự mơ hồ, ảnh hưởng đến lòng tự tin của mỗi người và tinh thần lạc quan của xã hội

Bên cạnh đó, do tác động “mặt trái” của kinh tế thị trường, có hiện tượng phóng viên thông tin thiếu trung thực, bao che cho những đơn vị và cá nhân làm ăn phi pháp, hoặc dùng báo chí như một công cụ đe dọa, tống tiền, hoặc thực hiện thủ đoạn bịa đặt, nói xấu nhằm hủy hoại uy tín, chất lượng hàng hóa của doanh nghiệp khác để cạnh tranh gian dối

Một trong những biểu hiện nữa là tình trạng báo chí quảng cáo tràn lan, không quan tâm tới chất lượng, độ tin cậy của mặt hàng quảng cáo, thậm chí coi thường công chúng, miễn sao thu được nhiều nguồn kinh phí từ quảng cáo (như đối với truyền hình, việc tận dụng quảng cáo quá nhiều 2-3 lần trong một tập phim, vừa gây phản cảm, vừa tạo cảm giác khó chịu, bị coi thường của khán giả)

Tuy nhiên, tất cả những hiện tượng nêu trên không thể quy một cách đơn giản là hoàn toàn do kinh tế thị trường gây nên Nhưng cũng có thể khẳng định rằng, mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường, nhất là kinh tế thị trường chưa hoàn thiện trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đã tạo nhiều cơ hội

và điều kiện cho những hiện tượng tiêu cực xã hội nảy sinh và phát triển

Trang 39

1.5 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.5.1 Làm rõ khái niệm “Định hướng”

Để hiểu được vấn đề định hướng, cần hiểu khái niệm từ “định hướng”

Theo Từ điển Tiếng Việt 2008, từ “Định hướng” có nghĩa là xác định phương hướng Hiểu rộng hơn vấn đề định hướng dư luận xã hội trong hoạt động báo chí nói riêng, truyền thông nói chung, thì “định hướng” ở đây có nghĩa là xác định phương hướng cho dư luận công chúng theo một hướng nhất định, giúp

dư luận đi theo đúng hướng, có sự thống nhất, ổn định

1.5.2 Tầm quan trọng của việc định hướng DLXH trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay

Việc định hướng dư luận cho công chúng trong cơ chế thị trường, nhằm phát huy những mặt tích cực, đẩy lùi những mặt tiêu cực trong nhận thức và hành động của công chúng Mặt khác, giúp cho nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực, hạn chế bớt “mặt trái” của kinh tế thị trường

Trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường hội nhập quốc tế và bùng nổ thông tin hiện nay, hoạt động báo chí

là trận địa nóng bỏng trên mặt trận tư tưởng - văn hoá Việc định hướng DLXH trên truyền thông đại chúng nói chung và báo chí nói riêng đang đặt ra nhiều thách thức to lớn

Ở nước ta hiện nay, hoạt động báo chí có những biểu hiện chệch hướng

xã hội chủ nghĩa, làm giảm hoặc phản tác dụng thông tin tuyên truyền: không

ít trường hợp báo chí phản ánh, bình luận sai hiện thực, làm lộ bí mật quốc gia; khuynh hướng “thương mại hoá” hoạt động báo chí ngày càng gia tăng;

rất nhiều tờ báo chỉ khai thác mặt trái, mặt tiêu cực nhưng lại không chú ý nêu gương nhân tố mới, điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt Có tờ báo đặt lợi ích của mình lên trên hết, không tuân thủ đường lối kinh tế, đường lối đối ngoại

Trang 40

của Đảng và Nhà nước Trong khi khai thác thông tin của các phương tiện truyền thông đại chúng nước ngoài, vì “câu khách”, nên không cảnh giác chú ý chọn lọc nên đã đưa những nội dung không phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc, thậm chí tuyên truyền bạo lực, đồi truỵ, vô hình trung đã tiếp tay cho các thế lực thù địch thực hiện âm mưu "Diễn biến hoà bình" bằng thông tin báo chí Do vậy việc tăng cường quản lý và nâng cao vai trò định hướng của truyền thông và vô cùng cần thiết

Việc định hướng DLXH trong hoạt động truyền thông nói chung và hoạt động báo chí nói riêng là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa mang tính cấp bách, vừa là quy luật khách quan của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X của Đảng đã khẳng định rõ: "báo chí phải đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hoá dân tộc, những tinh hoa văn hoá thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội”

Hiện nay sự phát triển của khoa học - công nghệ diễn ra như vũ bão, các trào lưu tư tưởng cũng có điều kiện nở rộ và truyền bá rộng rãi đến mọi nơi trên thế giới, mà nước ta cũng không phải là ngoại lệ Bên cạnh những trào lưu tư tưởng tiến bộ mà chúng ta có thể tiếp thu, chọn lọc, vận dụng thì cũng có không ít những trào lưu tư tưởng phản tiến bộ, lỗi thời, bảo thủ hoặc

"cấp tiến" thái quá, thậm chí cả những tư tưởng phản động như "Diễn biến hoà bình" mà các thế lực thù địch đang âm mưu sử dụng để chống phá nước

ta

Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng ở nước ta, xuất hiện nhiều luồng văn hóa, tư tưởng đan xen, ảnh hưởng không nhỏ tới mọi mặt đời sống xã hội

Ngày đăng: 09/12/2022, 12:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Thanh Bình, Báo chí truyền thông và kinh tế - văn hóa – xã hội (NXB Văn hóa – Thông tin Hà Nội 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông và kinh tế - văn hóa – xã hội
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin Hà Nội
Năm: 2005
[2] Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS. Nguyễn Văn Phúc, Mấy vấn đề đạo đức trong điền kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (NXB Chính trị Quốc gia 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề đạo đức trong điền kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
[3] Vũ Hiền, Chống “Diễn biến hoà bình” trên các phương tiện thông tin đại chúng (NXB Chính trị Quốc gia 2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống “Diễn biến hoà bình” trên các phương tiện thông tin đại chúng
Tác giả: Vũ Hiền
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[4] Vũ Đình Hoè, Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo và quản lý (NXB Chính trị Quốc gia 2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo và quản lý
Tác giả: Vũ Đình Hoè
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[5] Võ Đại Lược, Kinh tế Việt Nam đổi mới và phát triển (NXB Thế giới 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam đổi mới và phát triển
Tác giả: Võ Đại Lược
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2007
[6] Mai Quỳnh Nam, Những vấn đề xã hội học trong công cuộc đổi mới (NXB Chính trị Quốc gia 2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề xã hội học trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Mai Quỳnh Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[7] Trần Quang Nhiếp, Định hướng hoạt động và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (NXB Chính trị Quốc gia - 2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng hoạt động và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Trần Quang Nhiếp
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
[8] Phan Quang, Về diện mạo báo chí Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia 2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về diện mạo báo chí Việt Nam
Tác giả: Phan Quang
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[9] Nguyễn Văn Sanh, Giáo trình đại cương về xã hội học (NXB Tài chính 2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đại cương về xã hội học
Tác giả: Nguyễn Văn Sanh
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2008
[10] Vũ Duy Thông, Mác – Ănghen – Lênin, Hồ Chí Minh bàn về báo chí xuất bản (NXB Chính trị Quốc gia 2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác – Ănghen – Lênin, Hồ Chí Minh bàn về báo chí
Tác giả: Vũ Duy Thông
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
[11] Lưu Minh Trị, Một số vấn đề về công tác tư tưởng và nghiên cứu dư luận xã hội ở Hà Nội (NXB Chính trị Quốc gia 1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về công tác tư tưởng và nghiên cứu dư luận xã hội ở Hà Nội
Tác giả: Lưu Minh Trị
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[12] Báo chí trong kinh tế thị trường (NXB Thông tấn 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí trong kinh tế thị trường
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2003
[13] Dự thảo Lịch sử báo chí Hà Nội 1905 – 2000 – BCĐ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Hội Nhà báo Thành phố Hà Nội (NXB Chính trị Quốc gia 2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Lịch sử báo chí Hà Nội 1905 – 2000
Tác giả: BCĐ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Hội Nhà báo Thành phố Hà Nội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
[14] Kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới (1986 - 2006) - Trường Đại học KTQD (NXB Đại học Kinh tế quốc dân 2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới (1986 - 2006)
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân 2006)
[15] Luật Báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành (NXB Chính trị Quốc gia 2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[16] Những vấn đề lý luận và phương pháp tâm lý học (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và phương pháp tâm lý học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
[17] Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng - Ban Tư tưởng văn hoá TW, Hội Nhà báo Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia 2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hoá TW, Hội Nhà báo Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
[18] Tư tưởng Hồ Chí Minh về Báo chí cách mạng – Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương (Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Báo chí cách mạng
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2004
[19] Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIII Đảng bộ Thành phố Hà Nội - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIII Đảng bộ Thành phố Hà Nội - 2001
Tác giả: Đảng bộ Thành phố Hà Nội
Năm: 2001
[20] Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIV Đảng bộ Thành phố Hà Nội - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIV Đảng bộ Thành phố Hà Nội
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w