(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ giáo dục và đào tạo
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay công nghệ thông tin phát triển vượt bậc, tri thức của loài người là không tưởng Các nước trên thế giới đều hướng đến giáo dục tri thức cho thế hệ kế thừa, đặt mục tiêu phát triển giáo dục làm quốc sách hàng đầu Trên đà phát triển cùng thế giới, Việt Nam ngày càng chú trọng đổi mới giáo dục Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; xác định mục tiêu cụ thể: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn” [1, tr 3] Ở Việt Nam, vấn đề dạy học theo hướng tiếp cận năng lực sớm được đưa vào nguyên lý giáo dục trong nhà trường với phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội Tuy nhiên, cho đến nay, trong thực tế soạn thảo chương trình, sách giáo khoa vẫn nặng về tiếp cận nội dung; điều này đã làm chậm sự đổi mới, ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục, sản phẩm đào tạo không đáp ứng nhu cầu thực tiễn xã hội đang phát triển [7, tr 10] Tin học là môn học vừa giúp HS rèn luyện một số kĩ năng, rèn luyện các thao tác, liên hệ nhiều thực tế Bài tập thực hành tin học trong SGK về nội dung kiến thức cơ bản là đầy đủ nhưng chưa đảm bảo cho người học hình thành và phát triển năng lực; Môn Tin học lớp 12 với mục tiêu chung nhằm cung cấp cho học sinh các kiến thức ban đầu về hệ cơ sở dữ liệu (CSDL), từ đó giúp học sinh tìm hiểu một HQTCSDL cụ thể, cung cấp các kiến thức về kiến trúc và bảo mật các hệ CSDL; Hình thành và rèn luyện cho học sinh bước đầu có những kĩ năng làm việc với một HQTCSDL cụ thể Do đó để học sinh tiếp thu và rèn luyện kĩ năng, ngoài các bài tập thực hành trong SGK, giáo viên cần xây dựng và hệ thống hóa các bài thực hành nhằm rèn luyện và nâng cao kĩ năng thực hành cho học sinh Vấn đề đặt ra là xây dựng như thế nào? Quy trình xây dựng ra sao? Cần phải dựa vào những tiêu chí gì? Dạy học bài thực hành Tin học nhằm hình thành, củng cố và phát triển những tri thức, kĩ năng trong các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học Hướng tới việc hình thành năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông cho người học [2, tr 24] Để có được năng lực thì phải rèn luyện và hình thành cho học sinh từng kĩ năng chuyên biệt Xuất phát từ những lý do trên người nghiên cứu chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn Tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo”.
Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập thực hành nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học lớp 12.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn Tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo” thực hiện các nhiệm vụ sau:
1) Nghiên cứu cơ sở lý luận về sắp xếp hệ thống bài tập và xây dựng tiêu chí đánh giá bài tập thực hành
2) Khảo sát thực trạng việc dạy học thực hành môn Tin học 12 tại trường THPT Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
3) Sắp xếp hệ thống bài tập và xây dựng tiêu chí đánh giá bài tập thực hành môn Tin học lớp 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo
4) Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính phù hợp và hiệu qủa của hệ thống bài tập đã sắp xếp và tiêu chí đánh giá bài tập thực hành.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Kiến thức, kĩ năng môn Tin học lớp 12 cho học sinh tại trường THPT Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
- Nội dung môn Tin học lớp 12: Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Tin học 12 của
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Đối tượng nghiên cứu:
Giả thuyết nghiên cứu
Bài tập thực hành đóng vai trò quan trọng trong dạy học môn Tin học Việc xây dựng và sử dụng bài tập thực hành môn Tin học cho HS tại trường THPT Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang hiện nay vẫn chưa thực sự đạt hiệu quả Nếu áp dụng bài tập mà người nghiên cứu xây dựng và hệ thống hóa bài tập thực hành có tính khoa học phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, đặc điểm của HS, đồng thời có biện pháp sử dụng chúng một cách hợp lí, thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tin học lớp 12 tại trường trung học phổ thông Giồng Riềng.
Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài này người nghiên cứu xây dựng và hệ thống hóa bài tập thực hành môn Tin học lớp 12 để giảng dạy tại trường THPT Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang Thực nghiệm trong năm học 2016-2017
Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận (giải quyết nhiệm vụ 1,3,4)
Nghiên cứu các văn bản, tài liệu khác nhau về chủ đề liên quan đến đề tài nghiên cứu bằng cách phân tích chúng một cách đầy đủ, toàn diện nhằm làm chủ được hệ thống lí luận cho đề tài nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát (giải quyết nhiệm vụ 4)
Quan sát hoạt động dạy và học thực hành môn tin học tại trường THPT Giồng Riềng, Kiên Giang
Thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu, trên cơ sở tri giác trực tiếp đối tượng và các nhân tố liên quan đến đối tượng bằng các công cụ chuyên môn một cách có hệ thống, nhằm cảm nhận và ghi lại hoạt động của đối tượng nghiên cứu để từ đó có thể rút ra những đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu
7.2.2 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi (giải quyết nhiệm vụ 2)
Dùng phiếu khảo sát để hỏi ý kiến của GV và HS trước và sau quá trình học tập và giảng dạy, để từ đó có thể đưa ra đánh giá kết quả đạt được
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm
Nghiên cứu hoạt động dạy và học của GV và HS trong dạy học thực hành môn Tin học 12, phân tích các hoạt động của GV và HS nhằm xác định trình độ phát triển trí tuệ, thái độ, hứng thú, xu hướng học tập của HS, từ đó đưa ra tiêu chí đánh giá chuẩn, quá trình học thực hành của HS
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm (giải quyết nhiệm vụ 4)
Nghiên cứu các tác động sư phạm trên hai lớp 12 học môn Tin học (lớp đối chứng và lớp thực nghiệm) trong khi giữ ổn định tất cả các yếu tố khác, trên cơ sở đó đánh giá hiệu quả học tập và giảng dạy của GV, HS đồng thời chỉ ra được mối liên hệ giữa những tác động đưa vào với kết quả cụ thể của nó
7.2.5 Phương pháp thống kê toán học
Tổng hợp, thống kê, xử lý các số liệu qua hoạt động kiểm tra nhằm đánh giá tính khả thi của việc sử dụng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 tại trường THPT Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Đóng góp của Luận văn
- Về lí luận: Tham khảo và trình bày cơ sở lí luận về xây dựng hệ thống bài tập thực hành
+ Đưa ra quy trình xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn Tin học 12 + Giáo viên dạy bài tập thực hành môn Tin học lớp 12, có những tiêu chí đánh giá : công bằng, khách quan về kĩ năng thực hành của học sinh
+ Góp phần nâng cao kĩ năng thực hành cho học sinh, học môn Tin học lớp 12.
Cấu trúc của Luận văn
Gồm các phần như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng hệ thống bài tập thực hành
Chương 2: Khảo sát thực trạng về hệ thống bài tập thực hành môn tin học
Chương 3: Xây dựng hệ thống bài tập thực hành môn tin học 12 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
C- Kết luận và kiến nghị
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THỰC HÀNH
Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đã có những luận văn thạc sĩ hay những đề tài về xây dựng bài tập, bài tập thực hành Nhằm rèn luyện kĩ năng cho học sinh nói chung và kĩ năng cho học sinh THPT nói riêng, điển hình như sau:
Trần Sinh Thành, Đặng Quang Khoa với đề tài: “ Hình thành kĩ năng phán đoán cho sinh viên kỹ thuật thông qua dạy học thực hành” (2003) [16]
Cao Cự Giác, trường đại học sư phạm Vinh có bài viết: “ Phát triển khả năng tư duy và thực hành thí nghiệm qua các bài tập hóa học thực nghiệm” (Tạp chí giáo dục số 88-2004)[3] Theo tác giả, việc sử dụng bài tập thực nghiệm không chỉ cung cấp kĩ năng, củng cố kiến thức mà còn rèn luyện các kĩ năng tư duy thực nghiệm và thao tác thực hành
Nguyễn Thị Dung, trường cao đẳng sư phạm Hà Nội có bài: “Tích cực hóa hoạt động học tập trong giờ thực hành củng cố môn Sinh học ở phổ thông” (Tạp chí giáo dục số 6-2006) [4] Tác giả cho rằng với quan niệm dạy học mới hiện nay, việc tích cực hóa hoạt động học tập trong giờ thực hành củng cố cần được coi trọng, bằng cách tạo điều kiện cho HS tự lực tìm con đường cho các vấn đề được học
Ngoài ra một số luận văn thạc sĩ các ngành vật lý, địa lý, có làm về đề tài hình thành và rèn luyện kĩ năng như: Phạm Hữu Tòng – Hình thành kiến thức, kĩ năng, phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lý - luận văn thạc sĩ năm 1996 [13]; Vũ Đình Chiến – Rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa địa lý lớp 7, luận văn thạc sĩ giáo dục học – Huế, 2003
[21]; Nguyễn Văn Phượng – Phương pháp rèn luyện kĩ năng địa lý cho học sinh lớp
Việc nghiên cứu phương pháp giải bài tập Tin học nhằm giải quyết mục tiêu của quá trình dạy học Tin học và giúp cho học sinh rèn luyện được KN, kỹ xảo cũng được đưa vào nghiên cứu trong quá trình đào tạo GV Tin học Một số tác giả đã nghiên cứu và triển khai như Th.S Nguyễn Tương Tri - Bài giảng phương pháp dạy học giải bài tập Tin học phổ thông - Huế, 2007 [19]; TS Vương Đình Thắng- Bài giảng phương pháp dạy học Tin học - Huế, 2007 [17] Trong hai tài liệu này mục tiêu chính là phương pháp giảng dạy Tin học trong nhà trường, trong đó có đề cập đến mục tiêu, chức năng của dạy học giải bài tập ở trường THPT
Như vậy, việc sử dụng các phương pháp thực hành trong dạy học đã được nghiên cứu và chú ý từ rất sớm Các công trình nghiên cứu đa số theo hướng hình thành kĩ năng thực hành cho người học qua nội dung và phương pháp rèn luyện KN thực hành, theo đặc thù riêng của từng môn học Người nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu cơ sở lý luận, việc sắp xếp lại hệ thống bài thực hành và tiêu chí đánh giá bài tập thực hành về rèn luyện KN thực hành, cũng như rèn luyện KN tự học cho người học.
Các khái niệm cơ bản
Dạy học là hoạt động đặc trưng nhất, chủ yếu nhất của nhà trường, diễn ra theo một quá trình nhất định từ t0 đến tn gọi là quá trình dạy học Đó là một quá trình xã hội bao gồm và gắn liền với hoạt động dạy và hoạt động học trong đó học sinh tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của mình dưới sự điều khiển chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của giáo viên nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học [12, tr 10]
Quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hành động dạy, hành động của người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy hoc [12, tr 10]
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên và Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên [23]: Bài tập là bài ra cho HS làm để vận dụng những gì đã học và bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng các phương pháp khoa học Bài tập là một dạng bài gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời bao gồm của bài toán và câu hỏi, mà khi HS hoàn thành chúng thì nắm vững được một tri thức, một KN nhất định hoặc cũng có thể hoàn thiện chúng Bài tập đặt ra sự cần thiết phải tìm kiếm một cách có ý thức các phương tiện thích hợp để đạt được mục đích rõ ràng nhưng không thể đạt được ngay Việc giải bài tập chính là tìm ra phương tiện thích hợp đó, bài tập là một công việc mà người ta chưa biết hoàn thành công việc đó như thế nào, vì vậy đòi hỏi người học cần phải có ý thức vận dạng hệ thống tri thức mà mình có để có thể giải được bài tập đó Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về thuật ngữ
“Bài tập” Theo Nguyễn Ngọc Quang thì “bài tập là một nhiệm vụ mà người giải cần phải thực hiện, trong bài tập có bao gồm dữ kiện và yêu cầu cần tìm” Cũng theo ông thì bài toán là một hệ thống thông tin cố định, bao gồm những điều kiện và nhiều yêu cầu mâu thuẫn với nhau, dẫn tới nhu cầu phải khắc phục bằng cách biến đổi chúng
Theo cách hiểu như trên, bài tập được sử dụng chủ yếu trong hoạt động thực hành, giải bài tập là một hình thức thực hành, chính vì vậy bài tập là một nhiệm vụ thực hành mà người học cần phải thực hiện trong quá trình học tập của mình Nhưng theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay nhằm phát huy cao độ tính tự giác, tích cực chủ động, sáng tạo trong nhận thức của người học thì phạm vi ứng dụng của Bài tập rộng rãi hơn rất nhiều Bài tập không chỉ được sử dụng nhằm mục đích giúp người học vận dụng hệ thống tri thức đã học, rèn luyện KN – kỹ xảo tương ứng mà còn được sử dụng trong quá trình cung cấp kiến thức về lý thuyết, giúp người học khắc sâu kiến thức hơn, cụ thể hơn để từ đó có thể vận dụng những kiến thức một cách hiệu quả nhất và thực hiện được các yêu cầu học tập ngày càng cao của môn học
Từ những quan điểm trên, người nghiên cứu cho rằng bài tập là nhiệm vụ học tập mà giáo viên đặt ra cho học sinh thực hiện, được trình bày dưới dạng câu hỏi, bài đã biết, qua đó nắm vững kiến thức đã học vận dụng vào thực hành các bài tập nhằm hình thành kĩ năng, kỹ xảo tương ứng
- Thực hành, bài tập thực hành
+ Thực hành được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp Thực hành (nghĩa rộng) là vận dụng sự hiểu biết để thực hiện các nhiệm vụ của thực tiễn đời sống, thực hành (nghĩa hẹp) là hình thức luyện tập để người học đào sâu tri thức, vận dụng tri thức lý thuyết, hình thành và rèn luyện các thao tác về kĩ năng – kỹ xảo hoạt động Đây chính là hoạt động thực tiễn của dạy học, là khâu quan trọng nhất đảm bảo nguyên lý giáo dục “học đi đôi với hành” Trong nhà trường khái niệm thực hành thường được hiểu theo nghĩa hẹp là hình thức luyện tập gắn liền với từng bộ môn, từng chuyên đề dưới hình thức học tập khác nhau như làm bài tập, làm thí nghiệm, viết văn, tập nghe, nói, đọc,… Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này người nghiên cứu cũng thiên về nghiên cứu thuật ngữ thực hành theo nghĩa hẹp
+ Bài tập thực hành là loại bài tập được sử dụng trong hoạt động thực hành nhằm mục đích giúp người học củng cố tri thức, phát triển năng lực sử dụng độc lập những tri thức thu nhận được, rèn luyện được các KN – kỹ xảo trong các hoạt động nhất định… gọi là bài tập thực hành Hiện nay trong các trường phổ thông thì Bài tập thường bao gồm các dạng hoạt động như: Bài tập thực hành, hoạt động nghiên cứu khoa học, …
- Tiêu chuẩn và tiêu chí
Tiêu chuẩn (Standard) là những quy định làm căn cứ để đánh giá; tiêu chuẩn còn được hiểu là chuẩn
Tiêu chuẩn thực hiện (Performance standard) là các tiêu chí được áp dụng trong một nghề, dùng để xác định xem một công việc đã được thực hiện một cách thỏa đáng hay chưa
+ Tiêu chí (Criteria) đòi hỏi học sinh phải đạt tới việc thực hiện thành thạo một mục tiêu công việc
Tiêu chí thực hiện là tính chất, dấu hiệu, thông số làm căn cứ nhận biết, xếp loại sự vật, hiện tượng, quá trình hay khái niệm [17, tr 22]
Kĩ năng (skill) là khả năng thực hiện một công việc hoặc một hoạt động nào đó một cách có chất lượng và hiệu quả theo yêu cầu, mục đích xác định trong những điều kiện nhất định ( thời gian, phương tiện, môi trường hoạt động, nguồn lực…) [23, tr 2]
Tiếp cận xây dựng hệ thống bài tập thực hành
Là nhóm các bài tập thực hành được cơ cấu theo loại năng lực phù hợp với trình độ học sinh từ đơn giản đến phức tạp
* Cấu trúc của một bài tập bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
Cấu trúc là tổng hoà các mối quan hệ bên trong của một chỉnh thể, một hệ thống các thành tố Tiếp cận quan niệm về bài tập của tác giả Thái Duy Tuyên, thông thường bài tập được cấu tạo bởi các thành tố sau [15]:
- Những điều kiện: bao hàm những điều đã cho, các thuộc tính và mối quan hệ giữa chúng đây có thể coi là “cái đã cho”, “cái đã biết”
- Những yêu cầu: là “cái cần tìm”, “cái chưa biết” mà chủ thể phải hướng tới để thoả mãn nhu cầu của mình
- Nhu cầu nhận thức: hai tập hợp các yếu tố trên không phù hợp với nhau, mâu thuẫn nhau, từ đó xuất hiện nhu cầu nhận thức ở chủ thể (người học), kích thích hoạt động nhận thức để giải quyết của chủ thể
Quá trình giải bài tập yêu cầu người học phải vận dụng tri thức vốn có của mình, sử dụng các thao tác trí tuệ hay thực hành để tìm cách khắc phục sự không phù hợp hoặc mâu thuẫn giữa các điều kiện và các yêu cầu của bài tập, biến đổi chúng để cuối cùng đưa chúng tới sự thống nhất Quá trình giải bài tập làm cho người học lĩnh hội được kiến thức mới
1.3.2 Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập thực hành
- Hệ thống bài tập thực hành phải góp phần thực hiện mục tiêu của môn học
- Bài tập thực hành phải đảm bảo tính phù hợp với trình độ, khả năng của học sinh
- Hệ thống bài tập phải góp phần tích cực hóa hoạt động học của học sinh. 1.3.3 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập thực hành
Hệ thống bài tập thực hành phải được xây dựng theo một trình tự có tính khoa học, bao gồm nhiều giai đoạn và được sắp xếp theo một hệ thống bài tập của môn học và được xây dựng theo các quy trình sau:
- Xác định mục tiêu, nội dung môn học
- Xác định hệ thống bài tập thực hành môn học
- Thu thập và khai thác nguồn dữ liệu
- Soạn thảo bài tập và sắp xếp thành hệ thống
- Xây dựng tiêu chí đánh giá bài tập vừa soạn thảo
- Vận dụng bài tập thực hành vào quá trình dạy học.
Quá trình hình thành kĩ năng thực hành
Kĩ năng có nhiều loại, nhưng chúng thường được hình thành theo những quy luật nhất định, thường bắt đầu từ việc nhận thức và kết thúc là biểu hiện ở hành động cụ thể [14] Có thể tóm tắt theo sơ đồ sau:
Lĩnh hội hiểu biết kỹ thuật Bắt chước Luyện tập
Hình ảnh, biểu tượng vận động Động hình vận động Kỹ năng Định hướng, thông tin kỹ thuật Làm mẫu hình động Huấn luyện
Hình 1.1: Quá trình hình thành kĩ năng - Hoạt động của giáo viên và học sinh
Qua sơ đồ trên cho ta thấy, quá trình hình thành kĩ năng ở học sinh gồm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: hình thành động cơ và lĩnh hội hiểu biết cần thiết cho hoạt động
Kết quả của giai đoạn này là hình thành biểu tượng và hình ảnh hành động, bao gồm nhận thức về mục địch, nhiệm vụ và trình tự các động tác cần thực hiện Để đạt được kết quả này giáo viên phải định hướng tạo động cơ học tập và các hiểu biết cần thiết cho học sinh
- Giai đoạn 2: tạo dựng động hình vận động
Nhằm chuyển biểu tượng vận động thành các vận động tay chân, hay còn gọi là động hình vận động Động hình có được nhờ quan sát và bắt chước một cách có ý thức những động tác đang và đã có trước đây Để hỗ trợ cho học sinh động hình giáo viên cần phải làm mẫu, giải thích kỹ lưỡng cho học sinh về hành động cần hình thành kĩ năng
- Giai đoạn 3: hình thành kĩ năng Ở giai đoạn này kĩ năng được hình thành dần nhờ tái hiện, lặp đi lặp lại nhiều lần những động hình đã có kết hợp với việc phân tích, điều chỉnh vận động Do đó giai đoạn này giáo viên cần tổ chức huấn luyện cho học sinh Từ việc phân tích quá trình hình thành kĩ năng trên chúng ta thấy được rằng trong dạy thực hành cần kết hợp sử dụng nhiều phương pháp đơn lẽ khác nhau tùy theo mục đích và nội dung của từng giai đoạn như phương pháp lầm mẫu – quan sát, huấn luyện - luyện tập Các giai đoạn hình thành kĩ năng là cơ sở cho việc thiết kế cấu trúc bài dạy thực hành (giai đoạn hướng dẫn ban đầu, hướng dẫn thường xuyên, hướng dẫn kết thúc)
1.4.1 Những yêu cầu khi rèn luyện kĩ năng
Rèn luyện kĩ năng nói chung và rèn luyện KN giải bài tập cho học sinh nói riêng là một quá trình lâu dài và phức tạp, có tính thường xuyên, sự kiên trì, đòi hỏi nhiều công sức và sự phối hợp chặt chẽ giữa các lớp nhằm đạt mục đích cuối cùng là học sinh biết sử dụng các nguồn cung cấp tri thức, các bài tập Tin học như là một nguồn cung cấp tri thức, định hướng dạy học khi sử dụng các cách thức và phương pháp dạy học để rèn luyện cho học sinh cần chú ý tới các yêu cầu sau:
+ Việc rèn luyện phải nhằm vào mục đích yêu cầu nhất định
+ Phải có một trình tự chặt chẽ, lúc đầu đơn giản, có làm mẫu, có thể chỉ dẫn, sau tăng dần tính phức tạp, độ khó của các hành động và sự tự lực hành động của các hành động và sự tự lực luyện tập
+ Phải nắm vững cơ sở lý luận rồi mới tiến hành luyện tập
+ Phải đảm bảo mức độ khó vừa sức đối với các hoàn cảnh khác nhau
Những yêu cầu trên đây có thể được tiến hành theo những mức độ khác nhau, tùy thuộc đặc điểm, yêu cầu của nhiệm vụ và mức độ thuần thục của học sinh [12]
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc rèn luyện kĩ năng
Việc rèn luyện kĩ năng giải bài tập cho học sinh luôn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Cụ thể:
+ Sự dễ dàng hay khó khăn trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn là phụ thuộc vào khả năng nhận dạng nhiệm vụ, bài tập
+ Nội dung của bài tập, nhiệm vụ được đặt ra được thể hiện rõ hay trừu tượng hóa làm lệch hướng suy nghĩ của học sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ + Tâm thế và thói quen cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và rèn luyện kĩ năng Tính thường xuyên hay không thường xuyên xuất hiện của vấn đề hay kĩ năng cần rèn luyện Điều này sẽ tạo cơ hội cho học sinh có nhiều hay ít rèn luyện kĩ năng giải bài toán [12]
1.4.3 Các mức độ của kĩ năng Ở các cấp học, từng đối tượng học sinh, các mức độ về rèn luyện kĩ năng cũng có những yêu cầu khác nhau Theo B.Bloom kĩ năng có các mức độ như Bảng 1.1 sau:
Mức độ Nội dung tóm tắt
Bắt chước Nhắc lại các hành động đã được biểu diễn
Thao tác Thực hiện công việc theo chỉ dẫn
Hành động chuẩn xác Thực hiện công việc đã được học một cách chính xác Hành động phối hợp Thực hiện công việc một cách nhịp nhàng, phối hợp các KN
Hành động tự nhiên Thực hiện công việc một cách thành thạo, dễ dàng, không cần cố gắng nhiều về trí lực, thể lực
Bảng 1.1: Các mức độ của kĩ năng
Tóm lại các mức độ trên đây của kĩ năng là cơ sở để xác định cách thức rèn luyện kĩ năng, sử dụng sách giáo khoa Tin học 12 cho học sinh lớp 12, do đặc điểm tâm sinh lý và trình độ nhận thức, trình độ tư duy của học sinh lớp 12 đã và đang được hoàn thiện nên cần rèn luyện gần như thuần thục các mức độ của kĩ năng như đã nêu ở trên [12]
1.5 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông [9] Chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ của Chương trình Giáo dục phổ thông (CTGDPT) được thể hiện cụ thể trong các chương trình môn học, hoạt động giáo dục (gọi chung là môn học) và các chương trình cấp học Đối với mỗi môn học, mỗi cấp học, mục tiêu của môn học, cấp học được cụ thể hóa thành chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học, chương trình cấp học
+ Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà học sinh cần và có thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, mô đun) Chuẩn kiến thức, kĩ năng của một đơn vị kiến thức là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của đơn vị kiến thức mà học sinh cần và có thể đạt được Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng thể hiện mức độ cần đạt về kiến thức, kĩ năng Mỗi yêu cầu về kiến thức, kĩ năng có thể chi tiết hơn bằng những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cụ thể, tường minh hơn; minh chứng bằng những ví dụ thể hiện được cả nội dung kiến thức, kĩ năng và mức độ cần đạt về kiến thức, kĩ năng
+ Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình cấp học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của các môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt trình các cấp học đề cập tới những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kĩ năng mà học sinh cần và có thể đạt được sau khi hoàn thành chương trình giáo dục của từng lớp học và cấp học Các chuẩn này cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc gắn kết, phối hợp giữa các môn học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của cấp học Việc thể hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng ở cuối chương trình cấp học thể hiện theo hình mẫu mong đợi về người học sau mỗi cấp học và cần thiết cho công tác quản lí, chỉ đạo, bồi dưỡng giáo viên Chương trình cấp học đã thể hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng không phải đối với từng môn học mà đối với từng lĩnh vực học tập
- Những đặc điểm của Chuẩn kiến thức, kĩ năng:
+ Chuẩn kiến thức, kĩ năng được chi tiết, tường minh bằng các yêu cầu cụ thể, rõ ràng về kiến thức, kĩ năng
+ Chuẩn kiến thức, kĩ năng có tính tối thiểu, nhằm đảm bảo mọi học sinh cần phải và có thể đạt được những yêu cầu cụ thể này
+ Chuẩn kiến thức, kĩ năng là thành phần của CTGDPT
Trong CTGDPT, Chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ đối với người học được thể hiện, cụ thể hóa ở các chủ đề của chương trình môn học theo từng lớp và ở các lĩnh vực học tập; đồng thời, chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ cũng được thể hiện ở cuối chương trình mỗi cấp học
Sự khác biệt giữa bài tập thực hành truyền thống và bài tập thực hành xây dựng
- Bài tập thực hành truyền thống: Học sinh thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên, giáo viên hướng dẫn thao tác mẫu thực hành sau đó học sinh làm theo (bắt chước), học sinh thụ động khó thực hiện đúng yêu cầu nếu thiếu sự hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả thực hành học sinh nhiều khi còn theo cảm tính, do chưa có tiêu chí đánh giá cụ thể
- Bài tập thực hành xây dựng theo chuẩn kiến thức, kĩ năng: các thao tác thực hành đã được chi tiết hóa từ phiếu kĩ năng thực hành (Occupation Skill Card), học sinh tự thực hành giáo viên không nhất thiết phải thao tác mẫu, học sinh chủ động, tích cực thực hành Từ đó học sinh cảm thấy hứng thú khi tự mình khám phá và hình thành kĩ năng cho bản thân mình Học sinh có thể tự đánh giá kết quả thực hành của mình hoặc các em có thể tự đánh giá lẫn nhau thông qua phiếu kiểm (Checklist) 1.7 Các mức độ về kiến thức, kĩ năng
Các mức độ về kiến thức, kĩ năng được thể hiện cụ thể trong chuẩn kiến thức, kĩ năng của CTGDPT [14]
Về kiến thức: Yêu cầu HS phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ các kiến thức cơ bản trong chương trình, SGK, đó là nền tảng vững vàng để có thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn
Về kĩ năng: Biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời câu hỏi, giải bài tập, làm thực hành; có kĩ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ,
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Mức độ cần phải đạt được về kiến thức được xác định theo 6 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích và
Có thể cụ thể hóa mức độ nhận biết bằng các yêu cầu:
+ Nhận ra, nhớ lạ các khái niệm, định lí, định luật, tính chất
+ Nhận dạng được (không cần giải thích) các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản
+ Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố, các hiện tượng
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Có thể cụ thể hóa mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu:
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
+ Biểu thị, minh họa, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, định nghĩa, định lí, định luật
+ Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề nào đó
+ Sắp xếp lại các ý trả lời câu hỏi hoặc lời giải thích bài toán theo cấu trúc logic
- Vận dụng (Application): Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó Yêu cầu áp dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lí, định luật, công thức để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc thực tiễn Đây là mức độ thông hiểu cao hơn mức độ thông hiểu trên Có thể cụ thể hóa mức độ vận dụng bằng các yêu cầu:
+ So sánh các phương án giải quyết vấn đề
+ Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được
+ Giải quyết được những tình huống mới bằng cách vận dụng các khái niệm, định lí, định luật, tính chất đã biết
+ Khái quát hóa, trừu tượng hóa từ tình huống đơn giản, đơn lẻ quen thuộc sang tình huống mới, phức tạp hơn
- Phân tích (Analysis): Là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ sao cho có thể hiệu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng Yêu cầu chỉ ra được các bộ phận cấu thành, xác định được mối quan hệ giữa các bộ phận, nhận biết và hiểu được nguyên lí cấu trúc của các bộ phận cấu thành Đây là mức độ cao hơn mức độ vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu cả về nội dung lẫn hình thái cấu trúc của thông tin, sự vật hiện tượng
Có thể cụ thể hóa mức độ phân tích bằng các yêu cầu:
+ Phân tích các sự kiện, dữ kiện thừa, thiếu hoặc đủ giải quyết được vấn đề + Xác định được mối quan hệ giữa các bộ phận trong toàn thể
+ Cụ thể hóa được vấn đề trừu tượng
+ Nhận biết và hiểu được cấu trúc các bộ phận cấu thành
- Đánh giá (Evaluation): Là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét, nhận định, xác định được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức, một phương pháp Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật hiện tượng Việc đánh giá dựa trên tiêu chí nhất định; đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích) Yêu cầu xác định được tiêu chí đánh giá (người đánh giá tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí) và vận dụng được để đánh giá
Có thể cụ thể hóa mức độ đánh giá bằng các yêu cầu:
+ Xác định được các tiêu chí đánh giá và vận dụng để đánh giá thông tin, sự vật,
+ Đánh giá, nhận định giá trị của các thông tin, tư liệu theo một mục đích, yêu cầu xác định
+ Phân tích những yếu tố, dữ liệu đã cho để đánh giá sự thay đổi về chất của sự vật, sự kiện
+ Đánh giá, nhận định được giá trị của nhân tố mới xuất hiện khi thay đổi các mối quan hệ cũ
Các công cụ đánh giá có hiệu quả phải giúp xác định được kết quả học tập ở mọi cấp độ nói trên để đưa ra một nhận định chính xác về năng lực của người được đánh giá về chuyên môn liên quan
- Sáng tạo: Là khả năng tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin; khai thác, bổ sung thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới
Yêu cầu tạo ra được một hình mẫu mới, một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ phân lớp thông tin) Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh vào các hành vi, năng lực sáng tạo, đặc biệt là trong việc hình thành các cấu trúc và mô hình mới
Có thể cụ thể hóa mức độ sáng tạo bằng các yêu cầu:
+ Mở rộng một mô hình ban đầu thành mô hình mới
+ Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ, cụ thể thành vấn đề tổng quát mới + Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh mớ
+ Dự đoán, dự báo sự xuất hiện nhân tố mới khi thay đổi các mối quan hệ cũ Đây là mức độ cao nhất của nhận thức, vì nó chứa đựng các yếu tố của những mức độ nhận thức trên và đồng thời cũng phát triển chúng
1.8 Các yếu tố tác động đến xây dựng hệ thống bài tập thực hành
- Trình độ chuyên môn của giáo viên: giáo viên khi dạy chỉ bám theo SGK trình bày nội dung thực hành, tháo tác mẫu, học sinh làm theo
- Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
- Nội dung chương trình giảng dạy: sách giáo khoa được biên soạn theo hướng nội dung, từng chương, bài chưa phát huy được năng lực học sinh
Các yếu tố tác động đến xây dựng hệ thống bài tập thực hành
- Trình độ chuyên môn của giáo viên: giáo viên khi dạy chỉ bám theo SGK trình bày nội dung thực hành, tháo tác mẫu, học sinh làm theo
- Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
- Nội dung chương trình giảng dạy: sách giáo khoa được biên soạn theo hướng nội dung, từng chương, bài chưa phát huy được năng lực học sinh
- Phương pháp dạy học: Giáo viên chưa mạnh dạn áp dụng phương pháp mới trong dạy học vì ngại khó học sinh chưa tiếp cận được phương pháp học mới Tổ chức dạy học chưa gây được sự thích thú cho học sinh
- Sự phát triển của khoa học công nghệ: giáo viên chậm tiếp cận với kiến thức mới dễ dẫn đến lạc hậu
- Phương tiện dạy học: Nhiều nơi chưa đáp ứng đủ trang thiết bị cho học sinh thực hành.
Đánh giá kĩ năng thực hành
Mục đích kiểm tra đánh giá kĩ năng là xác định xem HS đã làm được gì, ở m mức độ nào trong các nội dung đã học [20, tr 3]
Yêu cầu người học làm được cũng từ đơn giản nhất là bắt chước được đến làm đúng, chuẩn xác rồi đến làm nhanh và thành thao[20, tr 3]
- Kiểm tra đánh giá theo tiêu chí (Criterion Referenced Assessment)
Là loài kiểm tra đánh giá có tính tuyệt đối, đánh giá kết quả học tập của từng người học đạt được thực tế so với các tiêu chí đã đề ra Dù người học chỉ không đạt được một tiêu chí nào đó thì họ vẫn phải học lại nội dung đó, môđun đó để thi, kiểm tra lại Để kiểm tra đánh giá có tính tuyệt đối thì tiêu chuẩn và tiêu chí cần phải được quan tâm đặc biệt [20, tr 16]
- Kiểm tra, đánh giá quy trình:
Kiểm tra, đánh giá quy trình cần được thực hiện khi:
+ Cần biết người học có thể sử dụng dụng cụ hoặc thiết bị một cách hợp lý hay không
+ Thời gian để thực hiện công việc là quan trọng
+ Có những nguy hiểm về sức khỏe và an toàn trong quá trình thực hiện công việc
+ Nếu quy trình thực hiện sai hoặc không hợp lý sẽ có dẫn đến những sai sót về
Người ta thường dùng bảng kiểm (Checklist) để kiểm tra, đánh giá thông qua việc quan sát quy trình, quá trình thực hiện công việc (Bảng 1.1) [20, tr 22]
Bảng kiểm đánh giá quy trình
TT Bước thực hiện công việc Tiêu chí Đánh giá Đạt Không đạt
Bảng 1.2: Bảng kiểm dùng trong đánh giá kĩ năng
Trong chương này, người nghiên cứu đã trình bày những vấn đề thuộc về cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Đó là:
- Vấn đề về hình thành kĩ năng thực hành đã được nghiên cứu trước đây
- Các khái niệm về bài tập, bài tập thực hành, dạy học
- Nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống bài tập thực hành
- Tiếp cận xây dựng hệ thống bài tập thực hành và các yếu tố tác động đến xây dựng hệ thống bài tập thực hành
- Quá trình hành thành kĩ năng thực hành, các yếu tố tác động đến xây dựng hệ thống bài tập thực hành
- Tiêu chuẩn, tiêu chí về thực hiện và đánh giá bài tập thực hành
- Chuẩn, chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình giáo dục phổ thông
- Sự khác nhau giữa hệ thống bài tập thực hành truyền thống so với hệ thống bài tập thực hành được xây dựng theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Mục đính, mức độ đánh giá kĩ năng thực hành và đánh giá quá trình thực hành.