1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ USSH vận dụng quan điểm hồ chí minh về đời sống mới trong xây dựng đời sống văn hóa ở huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang

97 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng Quan điểm Hồ Chí Minh Về Đời Sống Mới Trong Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa Ở Huyện Hiệp Hòa, Tỉnh Bắc Giang
Tác giả Nguyễn Thị Phúc
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Phúc An
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã Hội & Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Hồ Chí Minh học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, các công trình sách trên còn có sự nhìn nhận đ nh gi về danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng của Người vào quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đ

Trang 1

=======***======

NGUYỄN THỊ PHÚC

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỜI SỐNG MỚI TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

=======***======

NGUYỄN THỊ PHÚC

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỜI SỐNG MỚI TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành: Hồ Chí Minh học

Mã số: 60.31.02.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS TRẦN THỊ PHÚC AN

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 2 tháng 11 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Phúc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn các quý Thầy Cô khoa Khoa học chính trị, phòng Đào tạo sau Đại học trường Đại học khoa học Xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nôi

Xin trân trọng cảm ơn T Trần Thị h c n, giảng viên Trường Đại học

M Địa chất, người trực tiếp hướng dẫn luận văn, đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi tìm ra hướng nghiên cứu, tiếp cận thực tế, tìm kiếm tài liệu, xử

lý và phân tích số liệu, giải quyết vấn đề và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành Luận văn Cám ơn những cán bộ công tác tại phòng Văn h a huyện iệp òa đã cung cấp cho tôi những tài liệu quý giá liên quan đến đề tài luận văn của tôi

Xin trân trọng cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo tham gia hội đồng bảo vệ luận văn đã c những nhận xét, đánh giá khoa học sâu sắc, bổ sung những thiếu x t của luận văn để luận văn được hoàn thiện hơn Kính ch c các Thầy, các Cô sức kh e, hạnh ph c, thành đạt và ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu khoa học quý báu hơn nữa để có những đ ng g p tích cực trong

sự nghiệp giáo dục của nước nhà

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 2 tháng 11 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Phúc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỜI SỐNG MỚI 11

1.1 Khái niệm đời sống mới, đời sống văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa 11

1.2 Sự cần thiết phải xây dựng đời sống mới 17

1.3 Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đời sống mới 20

1.3.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức mới 20

1.3.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về lối sống mới 32

1.3.3 Quan điểm cuả Hồ Chí Minh về nếp sống mới 1.4 Tiểu kết chương1 38

CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở HUYỆN HIỆP HÕA THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 40

2.1 Điều kiện kinh tế- xã hội ảnh hưởng tới công tác xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Hiệp Hòa 40

2.2 Thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa theo quan điểm của Hồ Chí Minh ở huyện Hiệp Hòa trong giai đoạn hiện nay 46

2.2.1 Những thành tựu đạt được 46

2.2.2 Một số hạn chế 63

2.2.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 66

2.3 Một số giải ph p xây dựng đời sống văn hóa theo tư tưởng của Hồ Ch Minh ở huyện Hiệp Hòa, t nh c Giang 71

2.3.1 Tăng cường sự lãnh đạo, ch đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự phối hợp của đoàn thể các cấp trong tổ chức và thực hiện 71

2.3.2 Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân 74 2.3.3 Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho

c n bộ làm công t c văn hóa tại cơ sở

Trang 6

2.3.4 Nâng cao tr ch nhiệm của c c cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn huyện trong công t c xây dựng đời sống văn hóa

2.3.5 Tăng cường nguồn vốn đầu tư cho ph t triển văn hóa 80

2.4 Tiểu kết chương 2 81

KẾT LUẬN 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Ch Minh được UNESCO tôn vinh anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất cho những đóng góp của Người đối với thế giới và dân tộc Việt Nam Trong suốt cuộc đời hoạt động, Người luôn quan tâm sâu

s c đến sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa mới Việt Nam Nền văn hóa đó có sự kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và nhân dân Việt Nam Ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vai trò của văn hóa và dày công xây dựng nền văn hóa mới dân tộc, khoa học và đại chúng, đặt nền tảng cho sự th ng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong cả một chặng đường lịch sử

Sau khi c ch mạng tháng Tám thành công, nhằm gi o dục cho c n bộ, nhân dân nếp sống mới, yêu nước, cần, kiệm, liêm, ch nh, đồng thời bài trừ

c c hủ tục, tập qu n lạc hậu cũng như c c thói hư tật xấu, Hồ Ch Minh viết

t c phẩm Đời sống mới với bút danh là Tân Sinh để ch đạo và động viên

nhân dân tham gia thực hành phong trào xây dựng đời sống mới Nội dung

ch nh của phong trào là thực hiện nếp sống mới, lối sống mới và đạo đức mới

Phong trào xây dựng đời sống mới do Hồ Ch Minh khởi xướng được nhân dân ủng hộ nhiệt tình ởi đây là những hoạt động rất thiết thực và gần gũi với nhân dân Đó là việc giữ lại những nét đẹp vốn có trong đời sống văn hóa của dân tộc, xóa bỏ những c i xấu, c i cổ hủ, lạc hậu, cản trở đến sự ph t triển của đất nước Thực hiện phong trào đời sống mới, nhân dân Việt Nam đã thu được nhiều kết quả to lớn, góp phần quan trọng vào th ng lợi của sự nghiệp

c ch mạng Việt Nam

Trang 8

Việc tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nền văn hóa mới có ý nghĩa thực tiễn sâu s c và cần thiết trong

sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước

Hiện nay, Việt Nam đang ph t triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập nền kinh tế đã đặt ra cho Việt Nam rất nhiều cơ hội và th ch thức ên cạnh những thuận lợi để phát triển về kinh tế, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn về văn hóa như: lối sống thực dụng, các tệ nạn xã hội và những tiêu cực khác của kinh tế thị trường, làm băng hoại những giá trị văn hóa truyền thống, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước Do vậy, việc xây dựng một nền văn hóa mới có sự kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại là hết sức quan trọng

Huyện Hiệp Hòa, t nh B c Giang là một địa phương giàu truyền thống văn hóa c ch mạng Cùng với sự phát triển của đời sống vật chất, đời sống tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, trình độ dân trí ngày càng được nâng lên Nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, lành mạnh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, các hủ tục trong xã hội cũ được bãi bỏ Người dân tự giác thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về văn hóa, tích cực tham gia xây dựng thôn xóm sạch, đẹp.Tuy nhiên, do tình hình kinh tế của huyện còn nghèo cũng như sự du nhập của văn hóa bên ngoài t c động vào mà tình hình tệ nạn xã hội vẫn còn diễn biến phức tạp Các sản phẩm văn hóa độc hại, mặt trái của cơ chế thị trường tiếp tục t c động, ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức, lối sống và xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trong nhân dân Do vậy, việc xây dựng một đời sống văn hóa mới để làm động lực cho sự phát triển kinh tế và hạn chế những mặt tiêu cực của đời sống xã hội là

cần thiết Với tất cả lý do trên, tác giả đã chọn đề tài : Vận dụng quan điểm

Trang 9

Hồ Chí Minh về đời sống mới trong xây dựng đời sống văn h a ở huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang” làm luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đã có không t c c nhà khoa học trong và ngoài nước, nói, viết về văn hóa với nhiều cách tiếp cận khác nhau, dưới nhiều hình thức: công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học, tạp chí, sách chuyên khảo, sách tham khảo, bài phát biểu, báo cáo khoa học…Nhưng đều tựu chung là khẳng định sức sống trường tồn, cùng những giá trị tư tưởng sống mãi với thời gian và sức lan tỏa của văn hóa Hồ Chí Minh với nhân dân trong nước và thế giới Do đó có thể phân chia tình hình nghiên cứu về vấn đề văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa thành c c mảng sau:

2.1 Các công trình sách nghiên cứu về tư tưởng văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa của Hồ Chí Minh

Lê Xuân Vũ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn h a Việt Nam”, Nxb

Sự thật, Hà Nội, 1989 Tác giả đã trình bày tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh được soi s ng dưới lý luận của chủ nghĩa M c- Lênin Do vậy mà tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh vừa có yếu tố truyền thống, vừa có yếu tố thời đại Đồng thời, tác phẩm cũng trình bày sự ch đạo của Hồ Chí Minh trong hoạt động xây dựng đời sống văn hóa

Thành Duy: “Cơ sở khoa học và nền tảng văn h a của tư tưởng Hồ Chí

Minh”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998 Tác phẩm đã trình bày được

những yếu tố cơ bản cho sự ra đời của tư tưởng văn hóa của Hồ Ch Minh Đó

là những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hoa văn hóa của nhân loại… Tất cả đã tạo nên bản s c văn hóa riêng trong tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh

GS.TS Đỗ Huy: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển nền

văn h a mới ở Việt Nam”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000 Những vấn đề

Trang 10

về xây dựng một nền văn hóa mới theo tư tưởng Hồ Ch Minh được tác giả trình bày một cách hệ thống và khoa học Trên cơ sở những quan điểm về xây dựng đời sống văn hóa của Hồ Ch Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản s c văn hóa dân tộc

Lê Anh Vũ: “Trong ánh sáng tư tưởng văn h a ồ Chí Minh”, Nxb Văn

học, Hà Nội, 2003 Tác phẩm là sự tổng hợp nhiều bài viết của tác giả trên Tạp chí Cộng sản trong nhiều năm Trong đó thể hiện nội dung: Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với sự phát triển của văn hóa Đồng thời tác giả trình bày sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam dựa trên mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong giai đoạn hiện nay

GS Đặng Xuân Kỳ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn h a và con

người”, Nxb Ch nh trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Tư tưởng văn hóa và con người

là một trong những lĩnh vực phong phú, sâu s c, và có giá trị bền vững trong hệ thống tư tưởng Hồ Ch Minh Đây là lĩnh vực mà Hồ Chí Minh có những đóng góp vô giá cho nhân loại và dân tộc Người được thế giới tôn vinh là “ Nhà văn hóa lớn” Những tư tưởng về văn hóa và con người của Hồ Chí Minh không ch

có giá trị về mặt lý luận mà còn có giá trị về mặt thực tiễn Đặc biệt là trong công tác xây dựng đời sống văn hóa trong giai đoạn hiện nay

Tóm lại, những công trình trên từng bước làm rõ nguồn gốc, quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa Những cống hiến

và sự nghiệp văn hóa đồ sộ của Hồ Chí Minh cho dân tộc và nhân loại Ngoài

ra, các công trình sách trên còn có sự nhìn nhận đ nh gi về danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng của Người vào quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản s c dân tộc

2.2 Các bài viết đăng trên tạp chí nghiên cứu về tư tưởng văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa của Hồ Chí Minh

Trang 11

Nghiên cứu về tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh, cũng như về xây dựng đời sống văn hóa đã có rất nhiều bài viết được đăng trên c c tạp chí

“Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển giá trị văn h a dân tộc và nhân

loại”, Hồ Văn Chiểu, Tạp chí Cộng sản, số 34, 2003 Trong bài viết tác giả đã

trình bày nguồn gốc ra đời của tư tưởng về văn hóa Hồ Ch Minh Tư tưởng

về văn hóa của Hồ Chí Minh là sự kế thừa những giá trị văn hóa của dân tộc cũng như của nhân loại, có sự tiếp thu yếu tố thời đại Do vậy mà tư tưởng về văn hóa của Hồ Chí Minh vừa có yếu tố dân tộc vừa có yếu tố thời đại

“Giá trị tác phẩm đời sống mới và việc vận dụng trong thực tiễn văn

hóa hiện nay”, của Nguyễn Ngọc Hòa, Tạp ch Tư tưởng văn hóa, số 7/2007

Tác phẩm khẳng định giá trị lý luận, thực tiễn của Tác phẩm Đời sống mới, và

sự vận dụng vào công cuộc xây dựng đời sống văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

“Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, giải pháp của Đảng ta để văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội” của PGS,TS Hoàng Đình Cúc,

Tạp chí Lý luận và truyền thông, số 4, 2008 Đây là bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành đưa ra quan điểm, giải ph p, phương hướng đê xây dựng nền văn hóa trong thời kỳ mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh

“Giữ gìn và phát huy bản sắc văn h a dân tộc trong quá trình phát

triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế”, Hoàng Thị Hương, Tạp chí Cộng

sản, số 815, 2010 Tác giả đã trình bày một số giải ph p để xây dựng nền văn hóa mới của Việt Nam trước xu thế hội nhập và phát triển kinh tế thị trường hiện nay

“Văn h a ồ Chí Minh, giá trị và ý nghĩa”, Hoàng Chí Bảo, Tạp chí

Cộng sản, số 825, 2011 Tác giả đã khẳng định giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh Những giá trị này là cơ sở để Nhà nước Việt Nam xây dựng và phát triển một nền văn hóa mới trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

“Xây dựng nền văn h a Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn h a dân

tộc trong xu thế hội nhập quốc tế”, Mai Hải Oanh, Tạp chí Cộng sản, số 893,

2017 Bài viết đã trình bày những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong quá trình hội nhập, và đề xuất một số giải ph p để xây dựng một nền văn hóa mới, tiên tiến, đậm đà bản s c dân tộc

Tất cả các công trình trên phần nào đã làm rõ nội dung, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đó là những gợi mở có tính chất tham khảo cho tác giả trong quá trình viết luận văn của mình

2.3 Các luận văn, luận án nghiên cứu về tư tưởng văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa của Hồ Chí Minh

“Vận dụng tư tưởng văn h a ồ Chí Minh vào xây dựng nền văn h a Việt Nam hiện nay”của TS Hoàng Anh, đề tài cấp cơ sở trọng điểm năm

2008, Học viện báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Đề tài là sự tổng kết các quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh về cơ sở nền tảng, tính chất của nền văn hóa Việt Nam và nêu lên thực tiễn, sự vận dụng tư tưởng của Người vào xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay

“Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về tính dân tộc của văn h a nghệ

thuật vào xây dựng nền văn h a nghệ thuật đậm đà bản sắc văn h a dân tộc ở nước ta hiện nay”, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thu Hiền, 2008, Trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

“ Tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn bản sắc văn h a dân tộc, tiếp thu

tinh hoa văn h a nhân loại và sự vận dụng vào xây dựng nền văn h a ở nước

ta hiện nay”, luận văn Thạc sỹ của Doãn Thị Mai Thủy, 2010, Trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn h a vào việc giữ gìn và phát huy di sản văn h a của dân tộc Ê đê ở Đăk Lăk trong giai đoạn hiện nay”,

Trang 13

luận văn thạc sỹ của Bùi Thị Hiền, 2011, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn h a trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn h a dân tộc ’Mông ở Sa Pa- Lào Cai hiện nay” luận văn thạc

sỹ của Nguyễn Phương Thủy, 2011, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Các luận văn trên đã làm rõ những quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa, lưu giữ những bản s c văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Đây là qu trình vừa có tính kế thừa chọn lọc và tiếp thu những cái mới, cái phù hợp của tinh hoa văn hóa nhân loại vào xã hội Việt Nam Qúa trình vận dụng những quan điểm này đã thu được nhiều thành tựu đ ng kể đ p ứng yêu cầu của nền văn hóa trong qu trình hội nhập đầy thách thức Bên cạnh đó các luận văn cũng đưa ra những giải pháp cụ thể để quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế được hiệu quả

2.4 Các công trình nghiên cứu về xây dựng đời sống mới của địa phương

Nghiên cứu về đề tài liên quan đến công tác xây dựng đời sống mới ở

địa phương có c c công trình: “Đảng bộ Bắc Giang lãnh đạo nông dân xây

dựng nông thôn mới”, luận văn thạc sỹ của Phạm Anh Đào, 2012, Trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã trình bày công t c lãnh đạo của Đảng ủy B c Giang trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Những thành tựu đạt được của t nh là kết quả cố g ng không mệt mỏi của toàn nhân dân trong t nh, tạo ra bộ mặt mới của nông thôn Tuy nhiên công tác này vẫn còn một số những hạn chế và tác giả đã trình bày một

số phương hướng để kh c phục những hạn chế trên để công tác xây dựng nông thôn mới của t nh ngày càng thu được nhiều thành tựu hơn nữa

Hay công trình “ Công tác vận động nông dân xây dựng nông thôn mới

của Đảng bộ huyện Hiệp Hòa Thực trạng và một số kiến nghị”, luận văn thạc

Trang 14

sỹ của Nguyễn Thị Nga, 2014, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã trình bày một cách chi tiết các biện pháp của Đảng bộ huyện Hiệp Hòa nhằm phát triển nông nghiệp nông thôn của huyện trong giai đoạn hiện nay để tạo ra bước đệm cho sự phát triển kinh

tế trong những năm tiếp theo

Các công trình nghiên cứu trên đều đã đề cập tương đối đầy đủ và toàn diện về vấn đề xây dựng nền văn hóa mới trên cơ sở giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác xây dựng nền văn hóa mới của huyện Hiệp Hòa theo tư tưởng Hồ Chí Minh Do vậy, trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà khoa học, các công trình nghiên cứu trước đó

Luận văn tập trung trình bày một cách có hệ thống những quan điểm của Hồ Chí Minh về đời sống mới và sự vận dụng những quan điểm đó ở huyện Hiệp Hòa, B c Giang trong việc xây dựng đời sống văn hóa hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của đề tài

Luận văn làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới và sự vận dụng

tư tưởng đó vào xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Hiệp Hòa, t nh B c Giang hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Luận văn làm rõ c c nội dung sau:

- Trình bày một cách có hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về đời sống mới

- C c điều kiện kinh tế- xã hội ở huyện Hiệp Hòa ảnh hưởng đến công tác xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Hiệp Hòa hiện nay

Trang 15

- Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp xây dựng đời sống văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, ở huyện Hiệp Hòa, t nh B c Giang trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới và công tác xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Hiệp Hòa t nh B c Giang

Trang 16

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề rộng lớn Đề tài không đi sâu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung mà tập trung nghiên cứu tư tưởng của Người về đời sống mới, và sự vận dụng c c quan điểm đó trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Hiệp Hòa từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên nền tảng phương ph p luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn còn chú trọng sử dụng c c phương ph p cụ thể như: hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, thống kê, so s nh để làm sáng tỏ sự vận dụng quan điểm đời sống mới của

Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng đời sống văn hóa của huyện Hiệp Hòa,

t nh B c Giang trong giai đoạn hiện nay

6 Đóng góp khoa học của luận văn

Luận văn đã hệ thống hóa những quan điểm của Hồ Chí Minh về đời sống mới

Luận văn đã khẳng định được sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh, thông qua việc huyện Hiệp Hòa, t nh B c Giang đã vận dụng quan điểm của Người về đời sống mới trong công tác xây dựng đời sống văn hóa

Luận văn bước đầu đưa ra được một số giải pháp nhằm làm tốt công tác xây dựng đời sống văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, ở huyện Hiệp Hòa,

t nh B c Giang trong giai đoạn hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương:

Chương 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh về đời sống mới

Chương 2: Công tác xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Hiệp Hòa theo

tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay

Trang 17

CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỜI SỐNG MỚI

1.1 Khái niệm đời sống mới, đời sống văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa

Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân

cả nước đã tiến hành Cách mạng tháng Tám thành công, đ nh đổ thực dân Pháp và tầng lớp thống trị phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Sau đó, chính quyền nhân dân non trẻ b t tay vào sự nghiệp kiến quốc và kháng chiến đ nh đuổi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam Hồ Chí Minh nhận thấy tầm quan trọng của việc nâng cao văn hóa trong điều kiện mới Nhiệm vụ cấp b ch đối với văn ho lúc đó là diệt giặt dốt, cổ động toàn dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống giặc đói, cổ vũ tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, xây dựng đạo đức cách mạng và sửa đổi nề nếp sinh hoạt trong đời sống của mỗi người, mỗi nhà và mỗi cộng đồng làng bản, đơn vị công tác Do vậy, để

có một phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới thu hút được nhiều người

hưởng ứng, Chủ tịch Hồ Ch Minh đã ph t động phong trào xây dựng đời

sống mới (1/1946) và đặc biệt vào th ng 4/1946, Người đã ký S c Lệnh thành

lập Uỷ ban Trung Ương vận động đời sống mới Th ng 3/1947, Người đã viết

cuốn s ch “Đời sống mới” để hướng dẫn việc xây dựng đời sống mới trong

các tầng lớp nhân dân, trong toàn xã hội Cuộc vận động ngay sau đó trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, rộng lớn Đây là công việc mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, chưa từng có trong c c giai đoạn lịch sử trước đó nên được gọi là xây dựng đời sống mới

Đời sống mới, theo quan điểm của Hồ Chí Minh bao gồm: đạo đức mới,

lối sống mới và nếp sống mới Ba nội dung ấy có mối quan hệ mật thiết với

Trang 18

nhau Trong đó đạo đức mới đóng vai trò chủ đạo, đạo đức mới g n liền với lối sống mới và nếp sống mới Chính vì vậy việc xây dựng đạo đức mới phải

g n liền với xây dựng lối sống mới và nếp sống mới Có dựa trên cái nền đạo đức mới thì mới xây dựng được lối sống mới, nếp sống mới lành mạnh, vui tươi, hướng con người tới tầm cao mới của văn hóa Trong bối cảnh trình độ học vấn của nhân dân còn thấp, Hồ Ch Minh đã dùng từ “mới” thay cho từ

“văn hóa” để nhân dân dễ hiểu và thực hành xây dựng đời sống văn hóa Khi đời sống nhân dân được nâng lên cụm từ “đời sống văn hóa dần dần được xuất hiện trong c c văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam

Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về đời sống văn hóa như:

“đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại ( các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn văn hóa), cũng như các yếu tố văn hóa động th i (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó) Xét về một phương diện kh c, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức sinh hoạt văn hóa hiện thực và cả hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh”[62, tr.162] Quan điểm này, về cơ bản đã phản nh được cấu trúc của đời sống văn hóa, song quan niệm này vẫn chưa trình bày được giá trị của đời sống văn hóa

Đồng thời cách diễn đạt này vẫn chưa trình bày được bản chất của đời sống văn hóa vì ch nêu lên các yếu tố cấu thành của đời sống văn hóa

Hay có quan niệm cho rằng: “đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đ p ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người”[53, tr.35] Có thể thấy, quan niệm này đã có

sự bổ sung nhất định trong nhận thức về đời sống văn hóa Tuy nhiên, quan niệm này đề cập đến phạm vi quá rộng, nên có nhiều khó khăn trong khảo sát,

Trang 19

đ nh gi cũng như khó x c định cho việc triển khai về xây dựng đời sống văn hóa g n với không gian, lĩnh vực cụ thể

Cũng có quan niệm khẳng định: “đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau của đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ văn hóa trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người Đời sống văn hóa bao gồm những nội dung không tách rời các lĩnh vực của đời sống xã hội và các yếu tố cơ bản tạo nên văn hóa”[32, tr.24]

Trong hội thảo khoa học “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đời sống văn hóa và môi trường văn hóa” được tổ chức th ng 4 năm 2015, tại Hà Nội, khái niệm đời sống văn hóa được thống nhất ở những nội dung cơ bản: đời sống văn hóa ch nh là c c hoạt động của con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình, hướng con người tới sự phát triển và hoàn thiện mình Là hoạt động sản xuất và sáng tạo, theo nghĩa hẹp, nó bao gồm những hoạt động đ p ứng đời sống tinh thần của con người Theo nghĩa rộng, đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động liên quan đến các sản phẩm vật chất và tinh thần của xã hội nhưng trong đó nhấn mạnh đến phương thức hoạt động và sự đan xen t c động của các mối quan hệ (giữa con người và văn hóa, hoạt động văn hóa, môi trường văn hóa và c c sản phẩm văn hóa)

Trên cơ sở kế thừa c c quan điểm của các nhà khoa học về đời sống văn hóa, có thể hiểu: đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, phản ánh sinh động hoạt động của con người trong mối quan hệ với môi trường sống (tự nhiên và xã hội), nhằm thích ứng và sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, đ p ứng nhu cầu, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người và xã hội Có thể thấy, khái niệm đời sống văn hóa mang nội dung bao gồm toàn bộ mọi hoạt động sáng tạo mang giá trị văn hóa của con người Đề tài nghiên cứu sẽ nghiên cứu đời sống văn hóa với nội dung là sự sáng tạo,

Trang 20

biểu hiện, hưởng thụ, lưu giữ, quảng b , trao đổi các sản phẩm tinh thần Như vậy, đời sống văn hóa theo nghĩa này ch là một bộ phận, một thành tố bên cạnh đời sống kinh tế, đời sống chính trị…trong toàn bộ đời sống xã hội, đời sống con người nói chung

Vấn đề xây dựng đời sống văn hóa được Đảng quan tâm từ rất sớm

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã x c định mục đ ch của cuộc cách mạng là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người g n với xây dựng một nền văn hóa của dân tộc Cách mạng giải phóng dân tộc làm hồi sinh các giá trị văn hóa, thúc đẩy văn hóa dân tộc để phát triển Đó là văn hóa yêu nước, một nền văn hóa tiến bộ và giàu giá trị nhân văn, văn hóa vì con người Sự nghiệp giải phóng dân tộc g n liền với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Tư tưởng đó được Hồ Ch Minh đúc kết trong khẩu hiệu “kh ng chiến hóa văn hóa, văn ho hóa kh ng chiến”

Văn hóa phải có tính chiến đấu, bởi văn hóa là một trong ba mặt trận quan trọng đối với vận mệnh của dân tộc, đó là kinh tế- chính trị- văn hóa a mặt trận này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng đến toàn th ng

Ngay sau những ngày đầu mới độc lập, Hồ Ch Minh đã x c định trọng trách của một nền văn hóa mới Văn hóa phải nằm trong kinh tế và chính trị, nhìn nhận văn hóa một cách toàn diện và hướng tới sự phấn đấu của con người với 3 mục tiêu cao cả: chiến đấu, học tập và lao động vì tự do, hạnh phúc của chính mình Ngay từ đầu Hồ Ch Minh đã nhìn nhận vai trò của văn hóa một cách cụ thể, trọng tâm là xây dựng con người có trí tuệ, đạo đức, lý tưởng mà bao trùm là chủ nghĩa yêu nước

Tại Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ VI (1986)- Đại hội mở đầu thời

kỳ Đổi mới Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, về xây dựng đời sống văn hóa Đảng khẳng định việc xây dựng đời sống văn hóa có vai trò

Trang 21

quan trọng trong việc xây dựng nhân cách, xây dựng lối sống cho nhân dân

Yếu tố tinh thần của văn hóa một lần nữa được nhấn mạnh, hạt nhân của văn hóa tinh thần chính là rèn luyện đạo đức cách mạng Đảng đã cụ thể hóa quan điểm ấy bằng hàng loạt Nghị quyết và ch thị mang t nh định hướng cho quá trình phát huy hơn nữa vai trò của hoạt động xây dựng đời sống văn hóa đối với sự phát triển của đất nước: Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật xã hội chủ nghĩa đậm đà bản s c dân tộc

Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII, đã ra nghị quyết xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản s c dân tộc Đây là văn kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước, đ p ứng yêu cầu thực tiễn đời sống

và nguyện vọng của nhân dân Nội dung của nghị quyết đã được nhân dân hết

lòng ủng hộ tạo thành phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn

hóa Phong trào có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị,

tạo nên những thành tựu về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Chính sách văn hóa được thể hiện trong hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII cho thấy văn hóa thực sự trở thành nội dung quan trọng của Đảng và Nhà nước, góp phần g n kết chặt chẽ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nghị quyết ra đời trở thành văn bản mang tính pháp

lý Việc thể chế hóa Nghị quyết tạo điều kiện cho văn hóa ph t triển sâu rộng, hiệu quả trên các mặt của đời sống xã hội

Tiếp tục tại các kỳ Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X, Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, tư tưởng về xây dựng đời sống mới của Hồ Ch Minh được Đảng kế thừa trong đường lối xây dựng môt nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản s c văn hóa dân tộc Đảng chủ trương tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản s c văn hóa dân tộc, g n kết chặt chẽ và đồng

Trang 22

bộ hơn, ph t triển kinh tế- xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Xây dựng và hoàn thiện nhân c ch người Việt Nam, bảo

vệ và phát huy bản s c văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Hay tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản s c văn hóa dân tộc, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, xây dựng một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XII, Đảng tiếp tục khẳng định: các cấp, các ngàng phải nhận thức đầy đủ và thực hiện cố kết quả mục tiêu: xây dựng nền vă hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân- thiện- mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn dân chủ và khoa học Làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững ch c của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững ch c tổ quốc

vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh

Xây dựng đời sống văn hóa là nhằm xây dựng cơ sở phát triển bền vững, có đời sống vật chất đầy đủ, đời sống tinh thần lành mạnh phong phú

Thông thường, xây dựng là làm nên cái từ không đến có, làm ra cái mới tiến

bộ và có lợi ích cho sự phát triển Có khi xây dựng là đồng thời với việc phá

bỏ c i cũ, c i lỗi thời để hình thành nên cái mới tốt đẹp và hoàn ch nh hơn

Xây dựng đời sống văn hóa là tiến hành củng cố và phát huy những thành tựu văn hóa hiện có, nâng cao những giá trị tốt đẹp của tổ tiên truyền lại, từ đó tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa tiến bộ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Xây dựng đời sống văn hóa đồng thời phải chống lại những mặt trái của văn hóa: hủ tục, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, tập quán lạc hậu, thói hư tật xấu trong ứng xử hàng ngày Do đó cần chủ động đấu tranh với mọi biểu hiện tiêu

Trang 23

cực, thụ động trong tư tưởng văn hóa Có như thế mới xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở th ng lợi Kinh nghiệm là phải vừa “chống” vừa “xây”, lấy “xây”

để “chống”, nhưng “xây” là chủ yếu

Xây dựng đời sống văn hóa nói chung xét đến cùng là hình thành những giá trị tốt đẹp trong đời sống xã hội phù hợp với yêu cầu của xã hội Những giá trị trong xây dựng đời sống xã hội căn bản đều hướng con người đến những cái tích cực, cái tiến bộ, phù hợp với một trật tự xã hội nhất định Xây dựng đời sống văn hóa là công việc phải tiến hành thường xuyên, liên tục, là công việc của mọi người, diễn ra mọi lúc, mọi nơi Đây là công việc khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực, tính kiên trì, bền b

Tư tưởng xây dựng đời sống văn hóa mới của Hồ Ch Minh được b t nguồn từ yêu cầu thực tiễn của đât nước Trải qua 70 năm, tư tưởng có sự kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại và ngày càng phát huy vai trò quan trọng trong giai đoạn hiện nay

1.2 Sự cần thiết phải xây dựng đời sống mới

Văn hóa đời sống là một trong những lĩnh vực quan trọng của văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh Mặc dù bận trăm công nghìn việc, xong Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian cho việc xây dựng đời sống mới

Thực dân Pháp sau khi đặt ách cai trị lên đất nước Việt Nam đã tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa Cùng với chính sách về kinh tế nhằm vơ vét tài nguyên thiên nhiên, Pháp thực hiện nhiều chính sách về văn hóa và giáo dục nhằm nô dịch và ngu dân Về giáo dục, Pháp duy trì hai hệ thống trường học.Thứ nhất, Pháp triệt để khai thác nội dung và hình thức của nền

giáo dục phong kiến lạc hậu nhằm “làm cho dân ngu để dễ trị”[34, tr.108]

Thứ hai, Pháp mở hệ thống trường dạy bằng tiếng Pháp nhằm đào tạo một lớp người bản xứ có trình độ vừa đủ để làm kẻ thừa hành trung thành và tận tụy với “mẫu quốc” Tuy nhiên, hệ thống trường học được mở một cách nhỏ giọt

Trang 24

Kết quả là “Hàng ngàn trẻ em đành chịu ngu dốt vì nạn thiếu trường”[34, tr.107] Với chính sách này khiến cho 95% dân số Việt Nam mù chữ Về mặt

xã hội, Pháp thực hiện chính sách phản động về văn hóa, nhằm hủy hoại giống nòi Việt Nam, reo r c tư tưởng tự ti trong nhân dân, duy trì nếp sống lạc hậu và truyền bá nếp sống tư sản phương Tây không kém hủ bại Chúng đầu độc nhân dân Việt Nam bằng thuốc phiện và rượu cồn “cứ một nghìn làng thì có đến một nghìn năm trăm đại lý b n rượu và thuốc phiện”[34, tr.40]

Những thói hư tật xấu của xã hội cũ được dung dưỡng Cờ bạc không bị cấm

đo n mà còn được khuyến kh ch o ch được sử dụng như là một công cụ đặc biệt nhằm thui chột mầm mống cách mạng trong nhân dân Do đó, trong

xã hội nhiều thói hư tật xấu không những không bị xóa bỏ mà ngày càng phát triển: trộm c p, hút sách, mê tín dị đoan, đ nh nhau, kiện cáo …làm cho đời sống của nhân dân vốn đã cực khổ nay còn cực khổ hơn

Chính vì vậy, ngay sau th ng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Viêt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Ch Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách đòi hỏi chính quyền cách mạng non trẻ nhanh chóng giải quyết, trong đó có xây dựng đời sống mới phù hợp với chế độ mới Người nói: “Chế độ thực dân

đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là giáo dục lại nhân dân chúng ta

Chúng ta phải làm cho nhân dân chúng ta trở nên một nhân dân dũng cảm, yêu nước, yêu lao động Một dân tộc xứng đ ng với nước Việt Nam độc lập Tôi đề nghị mở lại một chiến dịch giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, ch nh”[37, tr.7] Hiểu đầy đủ quan điểm của Hồ Ch Minh có nghĩa

là, chủ nghĩa thực dân đã đầu độc nhân dân Việt Nam, nhiều thói hư, tật xấu trong lối sống, nếp sống, nó lan truyền ra kh p cộng đồng, lâu ngày trở thành

Trang 25

“thâm căn cố đế”, là vật cản nguy hiểm đối với cuộc cách mạng Muốn xóa bỏ toàn bộ những thói hư tật xấu đã tồn tại một thời gian dài đối với quần chúng nhân dân, đòi hỏi chúng ta phải mở chiến dịch giáo dục lại: cần, kiệm, liêm, chinh Đây đều là những tinh thần đã có từ lâu đời trong truyền thống của dân tộc Nhưng đã bị bọn thực dân làm thoái hóa biến chất Vì vậy mà chúng ta phải xây dựng đời sống văn hóa mới với những tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng một xã hội mới với những con người mới Điều này càng thấy rõ trong phong trào xây dựng “Đời sống mới” do Hồ Chí Minh phát động vào th ng 1 năm 1946 và đặc biệt là th ng 4 năm 1946, Người đã ký S c lệnh thành lập Uỷ ban Trung ương vận động đời sống mới Th ng 3 năm

1947, Người đã viết cuốn sách “Đời sống mới” để hướng dẫn xây dựng đời sống mới trong các tầng lớp nhân dân, trong toàn xã hội Đặc biệt, cuộc phát động trở thành phong trào hưởng ứng sôi nổi kh p cả nước ngay cả khi cách mạng mới thành công và nhân dân phải đi ngay vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm hết sức khốc liệt, cuộc sống còn trăm bề thiếu thốn

Trong lời tựa của tác phẩm “Đời sống mới”, Hồ Chí Minh đã khẳng

định: “Trong lúc kh ng chiến cứu quốc chúng ta phải đồng thời kiến quốc

Thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc” [38, tr.111] Vì sao thực hành đời sống mới là cần k p, Người cũng giải

th ch: “Ch nh trong lúc này càng phải thực hành đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Ch nh Quân đội phải siêng tập, siêng đ nh Nhân dân tăng gia sản xuất, phải siêng làm thì kháng chiến ch c ch n th ng lợi, thế cho nên phải Cần inh sĩ phải tiết kiệm đạn dược, mỗi viên đạn một tên thù Nhân dân phải tiết kiệm vật liệu, mới giúp được bộ đội và đồng bào tản cư Thế cho nên phải Kiệm Mọi người đều trong sạch, không tham lam, không đem của công dùng vào việc tư, thì mọi việc mới chạy Cho nên ai cũng phải Liêm Mỗi người quốc dân đều phải vì nước quên nhà, hăng h i ủng hộ kháng chiến, ra

Trang 26

sức tăng gia sản xuất, trừ diệt bọn b n nước hại dân, quyết làm cho Tổ quốc thống nhất độc lập Thế là Chính Do đó thì biết, đời sống mới lúc này rất hợp thời”[38, tr.112]

Văn hóa mới, đời sống mới mà Hồ Ch Minh đã ph t động trong những năm kh ng chiến chống thực dân Pháp và mãi tới tận cuối đời thực chất đó là Người muốn đưa văn hóa vào trong đời sống nhân dân như một động lực để sửa đổi lối làm việc, và những thói hư tật xấu trong xã hội: lười biếng, xa hoa, gian xảo, tham ô, mê tín, dị đoan Người Việt Nam yêu nước, dũng cảm, đ p lời kêu gọi của Hồ Chí Minh thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, sẵn sàng, hồ hởi

đi vào cuộc kháng chiến với niềm tin s t đ vào sự th ng lợi của cuộc cách mạng Đó ch nh là minh chứng hùng hồn cho thấy sức mạnh của văn hóa

Như vậy, việc xây dựng đời sống mới đã được Hồ Chí Minh nêu ra rất sớm, khi mà vấn đề lối sống, nếp sống, phong cách sống, chất lượng sống chưa được bàn đến một cách rộng rãi ở c c nước Nét nổi bật của tư tưởng này là nó nhanh chóng trở thành phong trào quần chúng sôi nổi và thu được nhiều kết quả đ ng kh ch lệ “Các cụ phụ lão đã giảm bớt việc cúng tế nhiều nơi chị em phụ nữ đã sửa đổi c ch ăn mặc gọn gàng thói cờ bạc, say sưa, hút xách, trộm c p giảm bớt rất nhiều ”[38, tr.114] Cuộc vận động có ý ngĩa quan trọng trong việc thực hiện chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tạo lên những bước chuyển biến lớn trong đời sống văn hóa của nhân dân

Quan điểm xây dựng đời sống văn hóa của Hồ Chí Minh rất gần gũi với nhân dân Nó không phải là cái gì cao siêu, trừu tượng, mà được thể hiện ngay

ra trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người, mỗi nhà, rất dễ hiểu, dễ thấy

Điều đó được thể hiện trong nội dung xây dựng đời sống mới và cách thức thực hiện đời sống mới ở Việt Nam

1.3 Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đời sống mới

1.3.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức mới

Trang 27

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Ch Minh đặc biệt quan tâm tới vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, coi đó là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, là gốc của cây, là ngọn nguồn của sông suối Theo Người, đạo đức mới, đạo đức cách mạng là

“Nhận rõ phải, trái Giữ vững lập trường Tận trung với nước Tận hiếu với dân”[41, tr.354]

Theo Người, muốn xây dựng Đời sống mới trước hết là phải xây dựng được đạo đức mới, Người cho rằng: thực hiện đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính Nếu không giữ được cần, kiệm, liêm, ch nh dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân còn nêu cao và thực hành cần, kiệm, liêm, chính tức là nhen lửa cho đời sống mới

Theo Người, Cần có nghĩa là lao động cần cù, siêng năng, lao động có

kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm “CẦN là lao động: Lao động

cần cù và sáng tạo”[44, tr.432] Hay “ Cần là thi đua sản xuất cho mau, cho

tốt, cho nhiều”[39, tr.333]

Theo Hồ Chí Minh, việc Cần rất cần thiết vì trong hoàn cảnh đất nước còn gặp nhiều thiếu thốn thì ch có chăm ch , chịu khó mới giúp đất nước thoát khỏi khó khăn: “Quân đội phải siêng tập, siêng đ nh Nhân dân tăng gia sản xuất, phải siêng làm, thì kháng chiến ch c ch n th ng lợi, thế cho nên

phải Cần”[37, tr.112]

Cần không ch đối với mình mà tất cả mọi người đều phải Cần, cả nước

đều phải Cần:

“Người siêng năng thì mau tiến bộ

Cả nhà siêng năng thì ch c ấm no

Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh

Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu.”[38, tr.118]

Trang 28

Nghĩa là ai cũng chịu khó làm việc sẽ tạo ra xã hội chăm ch Mọi người lao động chăm ch sẽ tạo ra được nhiều của cải trong xã hội Đây ch nh là động lực của để phát triển Trong điều kiện đất nước còn rất nhiều khó khăn thì nhân dân phải Cần hơn nữa

Để cho công việc đạt hiệu quả thì chăm ch , chịu khó chưa đủ mà trong quá trình hoạt động cần có kế hoạch cụ thể Như vậy công việc mới trôi chảy

và đạt hiệu quả cao “Nghĩa là phải tính toán cẩn thận, s p đặt gọn gàng”[38, tr.118] Kế hoạch công việc giúp cho người làm không bị lúng túng Việc gì cần làm trước thì làm trước Việc gì cần làm sau thì làm sau Như vậy mới có thể rút ng n được thời gian làm việc

Cần phải được thực hiện liên tục, không phải ch làm trong ngày một ngày hai Cần không phải là làm xổi Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần hay một tháng mà sinh ốm đau, phải bỏ việc Như vậy không phải là Cần Cần là luôn cố g ng luôn chăm ch , cả năm, cả đời Nhưng không làm quá trớn Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng để làm việc cho lâu dài

Cần và chuyên phải đi đôi với nhau Chuyên nghĩa là dẻo dai bền b Nếu

không chuyên, “nếu một ngày cần mà mười ngày không cần thì cũng vô ch

Như thế, chẳng khác gì một tấm vải phơi một hôm mà ngâm nước mười hôm, thì ướt hoàn ướt”[38, tr.120] Lười biếng là kẻ địch của chữ Cần vì một người lười biếng, có thể ảnh hưởng đến công việc của hàng nghìn, hàng vạn người khác

Người cũng ch ra cách thực hành Cần : muốn thực hành Cần thì mỗi cán

bộ cần chăm ch , hăng say lao động trên tất cả c c lĩnh vực Muốn hoạt động

có hiệu quả cần có kế hoạch, tính toán cẩn thận, s p đặt gọn gàng Các hoạt động này diễn ra liên tục và thường xuyên, chứ không phải làm trong ngày một ngày hai

Như vậy, quan điểm của Hồ Chí Minh về Cần đã trả lời cho câu hỏi Cần

là gì? Ai phải thực hiện Cần? Cần được thực hành như thế nào? Quan điểm

Trang 29

về Cần của Hồ Ch Minh được trình bày ng n gọn, dễ hiểu Nó phù hợp với đối tượng người nghe là đa số quần chúng nhân dân Nhân dân có thể đọc, hiểu và thực hành theo

Kiệm theo Hồ Chí Minh tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm tiền của

của dân, của nước, của bản thân mình “Là không lãng ph thì giờ, của cải của mình và của nhân dân”[41, tr.145] Tiết kiệm không phải là bủn x n, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nống, gặp việc đ ng làm cũng không làm,

đ ng tiêu cũng không tiêu”[39, tr.352] Kiệm là không xa x , không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu

bù Kiệm phải biết tiết kiệm đồng tiền kiếm được, cũng như c c vật liệu và đồ dùng trong các sở Mục đ ch của việc tiết kiệm là để “tăng gia sản xuất, là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân”[39, tr.352]

Mọi người phải tiết kiệm từ những thứ hữu hình cho đến những cái vô hình Từ của cải vật chất cho đến thời gian Bởi vì “khi thời gian đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được”[38, tr.123] Nhân dân phải tiết kiệm thời gian của chính mình và của cả những người xung quanh Có như vậy công cuộc kháng chiến của nhân dân mới nhanh chóng giành th ng lợi

Theo Hồ Ch Minh, để thực hành Kiệm thì tất cả mọi người đều phải thực hiện và thực hành tiết kiệm mọi lúc mọi nơi: thực hành kiệm từ c c cơ quan, xí nghiệp, bộ đội, binh sĩ cho đến nhân dân inh sĩ phải tiết kiệm đạn dược, mỗi viên đạn một tên thù Nhân dân phải tiết kiệm vật liệu, mới giúp được đồng bào tản cư “Nói tóm lại: Ai cũng có thể và cũng nên tiết kiệm”[39, tr.354]

Hồ Chí Minh không ch nêu ra quan niệm về Cần và Kiệm mà người còn thấy được mối quan hệ mật thiết giữa Cần và Kiệm Vì ch có cần cù, chịu khó và tiết kiệm chúng ta mới kh c phục được khó khăn Cần và Kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người Cần mà không Kiệm thì “

Trang 30

làm chừng nào xào chừng ấy, cũng như một cái thùng không đ y: nước chảy vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không Kiệm mà không

Cần, thì không tăng thêm, không ph t triển được”[38, tr.122] Kết quả Cần

cộng với kết quả Kiệm là: “ ộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến

sẽ mau th ng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với c c nước tiên tiến trên thế giới”[38, tr.125]

Còn Liêm, theo Hồ Chí Minh là: “trong sạch, không tham lam”[38,

tr.126] Hay Liêm là “không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công

và của nhân dân”[41, tr.145], không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của

Nhà nước, của nhân dân Không tham địa vị Không tham tiền tài Không tham sung sướng Không ham người tâng bốc mình Ch có một thứ ham là

ham học hỏi, ham làm, ham tiến bộ… Vì vậy mà quang minh ch nh đại,

không bao giờ hủ hoá Chữ Liêm theo quan điểm của Hồ Chí Minh không ch

có nghĩa hẹp, dùng để ch những người làm quan không đục khoét trong chế

độ cũ Mà nó có nghĩa rộng hơn, đó là tất cả mọi người đều phải Liêm Trái

ngược với Liêm là bất Liêm: “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng,

tham ăn ngon, sống yên đều là Bất Liêm”[38, tr.126]

Theo Hồ Chí Minh, biểu hiện của Liêm:

“Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư

Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian bán lậu, chợ đen chợ đỏ, tích trữ đầu cơ

Người có tiền, cho vay c t cổ, bóp hầu, bóp họng đồng bào

Người cày ruộng, không ra công đào mương, mà lấy c p nước ruộng của láng giềng

Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó khăn mà b t chẹt đồng bào”[38, tr.126]

Trang 31

Đó là những việc làm trái với lương tâm, đạo đức Trong khi cuộc sống của nhân dân còn nhiều khó khăn thì những hành động như trên thật khó có thể chấp nhận được Nó b t nguồn từ tính ích kỷ của con người, không muốn làm mà muốn hưởng, làm ít mà muốn hưởng nhiều

Để thực hiện chữ LIÊM, theo Hồ Chí Minh, “cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên Bởi lẽ, theo Người, cán bộ c c cơ quan, c c đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư” Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”[38, tr.127] Người nói: “Mỗi người phải nhận rằng, tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”[38,tr.127] Vì lẽ đó, hơn ai hết, cán bộ phải thi đua thực hành liêm khiết để làm tấm gương cho quần chúng noi theo

Theo Hồ Chí Minh, giữa Cần, Kiệm, Liêm, Chính có mối quan hệ g n bó với nhau: “Có cần mới kiệm Có cần, kiệm mới liêm Có cần, kiệm, liêm mới

ch nh”[37, tr.241] Hay, Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm Cũng như chữ Kiệm phải đi với chữ Cần Có Kiệm mới Liêm được Vì xa x mà sinh tham lam

Theo Hồ Chí Minh, “một dân tộc biết cần, kiệm, liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”[38, tr.128]

Dưới nh s ng tư tưởng Hồ Chí Minh, con thuyền cách mạng Việt Nam

đã vượt qua bao thử thách to lớn để từng bước cập bến bờ th ng lợi Ngày nay, sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã gặt h i được nhiều th ng lợi to lớn trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: Từ kinh tế, chính trị đến văn

ho … Đặc biệt, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được Đảng cộng sản nhận thức rõ hơn Song, để đi tới mục tiêu Chủ nghĩa xã hội, Việt Nam còn phải vượt qua rất nhiều khó khăn, thử th ch Trong đó, một trong những thử thách lớn nhất đối với chúng ta hiện nay là tình trạng thoái

Trang 32

hoá, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ có chức, có quyền, mà biểu hiện của nó là bất LIÊM Vì bất LIÊM mà tham ô, tham nhũng đã trở thành

“quốc nạn”, “quốc s ” đang làm lệch chuẩn những mục tiêu tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, làm băng hoại đạo đức, làm cho lòng dân không yên, đe doạ đến

sự an nguy của chế độ… Vì vậy, hơn lúc nào hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải ra sức thực hành Cần, Kiệm, Liêm

Còn Chính theo Hồ Chí Minh: “ nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng th n,

đứng đ n”[38, tr.129] Nội dung chữ Ch nh của Hồ Ch Minh có cả những điều trong chữ ch nh của tinh hoa văn hóa nhân loại: xu hướng hướng thiện, hướng tới c i ch nh, không chấp nhận c i tà, c i c Thực hiện chữ Chính theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Ch Minh, phải b t đầu từ tâm và phải là sự tu dưỡng bền b suốt đời

Hay khi nói về Chính, Hồ Ch Minh viết: “Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Ch nh mới là người hoàn toàn

Trên quả đất có hàng muôn triệu người sống, số người ấy có thể chia thành hai hạng: Người THIỆN và người ÁC

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc, song, những công việc ấy

có thể chia làm hai thứ: việc CHÍNH và việc TÀ

Làm việc CHÍNH là người THIỆN

tr nh xa những thói lười biếng, tham lam

Ngoài ra, theo Người giữa Cần, Kiệm, Liêm, Chính có mối quan hệ mật thiết với nhau Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Ch nh Nhưng một cây cần có

Trang 33

gốc rễ, lại cần có ngành, l , hoa, quả, mới là hoàn hảo Một người cần phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Ch nh mới là người hoàn hảo

Người viết:

"Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu Đông Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, c

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa, thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người”[38, tr.117]

Hồ Chí Minh không ch nêu ra quan điểm Cần, Kiệm, Liêm, Chính mà người còn ch dẫn cách thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Ch nh Đó là:

Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình

Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ th i độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc

Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà Đã phụ trách việc gì thì làm cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó nhọc

Như vậy, có thể thấy đạo đức mới theo tư tưởng Hồ Ch Minh tr i ngược hoàn toàn với đạo đức của giai cấp thống trị, p bức bóc lột nhân dân

Nó xóa bỏ những chuẩn mực đạo đức phong kiến, trói buộc nhân dân vào những lễ gi o hủ bại, phục vụ cho chế độ đẳng cấp Nó đối lập với đạo đức c nhân, ch kỷ, cực đoan của chủ nghĩa tư sản đã làm tha hóa con người và toàn

xã hội Nó cũng xa lạ với đạo đức của giai cấp tiểu tư sản, tiểu nông, kìm hãm con người trong những lợi ch riêng tư, tủn mủn, hẹp hòi Nó càng xa lạ với đạo đức tôn gi o, luôn khuyên răn con người kh c kỷ, cam chịu chấp nhận số phận trong chốn trần tục, để hướng về cuộc sống hạnh phúc hơn sau khi chết

Mà đạo đức theo tư tưởng Hồ Ch Minh là đạo đức của đại đa số, hướng con

Trang 34

người tới cuộc sống tốt đẹp hơn: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu

Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của c nhân

mà vì lợi ch chung của Đảng, của dân tộc của loài người”[38.tr.292]

Hơn nữa, theo Hồ Chí Minh, việc thực hiện đạo đức cách mạng: Cần,

Kiệm, Liệm, Ch nh thì cũng phải đồng hành chống tham ô, lãng phí, quan liêu

Bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu nguồn gốc trong xã hội cũ mà ra “Nó

do lòng tư tự tự lợi, ích kỷ hại nhân mà ra Nó do chế độ “người bóc lột người” mà ra”[39, tr361] Do vậy, chúng ta muốn xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do, bình đẳng, một xã hội Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì chúng ta phải tẩy cho sạch hết những thói xấu của xã hội cũ

Tham ô, theo c ch nói của Hồ Ch Minh là :“lấy trộm của công, chiếm

của công làm của tư”[45, tr.416] Là gian lận tham lam Là không tôn trọng của công Là không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước m t của đồng bào

làm ra, do xương m u của chiến sĩ làm ra Là đặt lợi ích của mình lên trên lợi

ích của Đảng của nhân dân

Hay tham ô là trộm cướp, là tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội “Là hành

động xấu xa nhất của con người…là xâm phạm đến lợi ch của nhân dân”[45, tr.416] T c hại của tham ô là gây hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, gây hại đến công cuộc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức c ch

mạng Nguyên nhân chủ quan của tham ô là: thiếu lương tâm C n bộ c c cơ

quan, c c đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, kém lòng tr ch nhiệm Đứng núi này trông núi nọ, làm việc chậm chạp, không hoàn thành nhiệm vụ là ăn c p giờ của Ch nh phủ, của nhân dân

Lãng phí, theo Chủ tịch Hồ Ch Minh, là lãng ph sức lao động, lãng ph

thời giờ, lãng ph tiền của của Nhà nước “Trong nhiều công việc do lập kế hoạch không chu đ o, v dụ làm một ngôi nhà không hợp thức, làm xong rồi

Trang 35

ph đi làm lại Hoặc vì t nh to n không cẩn thận, điều động hàng trăm, hàng nghìn người đến công trường, nhưng chưa có việc làm, hay là người nhiều việc t, phải để họ trở về Hoặc vì xa x , phô trương hình thức, nào là liên hoan, nào là b o ch , nào là kỷ niệm, s m sửa lu bù, xài tiền như nước”[45, tr416] Việc lãng phí lao động, lãng ph thời gian gây thiệt hại nghiêm trọng

đến nhà nước, đến nhân dân Nói tóm lại, “lãng ph là vì thiếu tinh thần trách

nhiệm, không c ý thức quý trọng sức của, sức người của Nhà nước, của nhân dân”[45, tr.416]

Theo Người, giữa lãng phí và tham ô có mối quan hệ với nhau “Lãng

phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn c p, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước, của tập thể thì lãng

ph cũng có tội”[45, tr.416] Do vậy để tránh hại cho Nhà nước và lãng phí

cho dân cần phải sử dụng tiền của, sức lực của nhân dân cho hợp lý Vì đâu

mà có nạn tham ô và lãng phí Hồ Ch Minh cũng ch ra nguyên nhân của

tham ô, lãng phí Đó là do bệnh quan liêu: “bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh

ra lãng phí, tham ô Kinh nghiệm chứng tỏ rằng: ở đâu có bệnh quan liêu thì

ở đó ch c có tham ô, lãng ph ; nơi nào bệnh quan liêu càng nặng thì nơi đó

càng nhiều lãng ph , tham ô”[45, tr417] “Có thể nói bệnh quan liêu là chỗ gieo hạt vun trồng cho tham ô, lãng phí nảy nở được”[39, tr.344] Quan liêu,

lãng phí có khi còn hại nhiều hơn tham ô, vì lãng phí tuy không lấy của công

đút túi, song kết quả cũng rất tệ hại cho nhân dân, cho Ch nh phủ Có khi tai

hại hơn nạn tham ô

ệnh quan liêu, theo Hồ Ch Minh đó là: “là người cán bộ phụ trách

nhưng xa rời thực tế, xa rời quần chúng Đối với công việc thì không điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng Ch đạo thì đại khái chung chung Không l ng nghe ý kiến của quần chúng, tác phong không dân chủ Sợ phê bình và tự phê bình”[45, tr.417]

Trang 36

Nguyên nhân của bệnh quan liêu là vì xa cách quần chúng, không hiểu

biết dân chúng, không học hỏi dân chúng, sợ dân chúng phê bình

Đối với c n bộ, đảng viên, công chức, bệnh quan liêu thể hiện qua ba

mối quan hệ sau:

- Đối với người: ch biết dùng mệnh lệnh, không biết giải th ch, tuyên truyền, không s t vào công việc thực tế, không theo dõi và gi o dục c n bộ, không gần gũi quần chúng Không biết làm dân chúng tự gi c và tự động

- Đối với công việc: ch trọng hình thức mà không xem xét kh p mọi mặt, không vào sâu vấn đề Ch biết khai hội, viết ch thị, xem b o c o trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn

- Đối với mình: là chậm chạp, làm cho qua chuyện Ch biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng ch Nói một đường, làm một nẻo Tham ô, hủ hóa

Theo Hồ Ch Minh, tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu có quan hệ mật thiết với nhau, chúng luôn đi cùng nhau vì bệnh quan liêu ch nh là nguồn gốc làm nảy sinh tham nhũng, lãng phí Cả tham ô, lãng phí, quan liêu được Hồ

Ch Minh nhận diện là “kẻ địch của nhân dân”[45, tr.416] vì “nó có hại đến

sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức c ch mạng”[45, tr.416] Và nếu như V.I Lênin đã rất cương quyết khi nói “Phải thanh lọc ngay khỏi bộ m y nhà nước những kẻ quan liêu, những kẻ hối lộ và

những phần tử lạc lõng kh c” để giữ vững ch nh quyền c ch mạng thì Hồ Ch Minh cũng khẳng định: “những tội lỗi ấy nặng như tội lỗi của Việt gian, mật

th m” [39, tr.358] Với Người, chống tham nhũng cũng quan trọng và cần k p

như việc đ nh giặc trên mặt trận, đây là mặt trận văn ho tư tưởng Mặt trận

ấy ch nh là nhằm đem lại quyền tự do dân chủ triệt để cho nhân dân Hơn ai hết Người hiểu gi trị của một cuộc c ch mạng thể hiện ở vấn đề ch nh quyền

Trang 37

c ch mạng có thực sự mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, có thực sự

mạng lại quyền bình đẳng xã hội hay không: Quan liêu, tham ô, lãng phí là

tội c Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần, kiệm, liêm, ch nh, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kh ng chiến đến th ng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc Đó là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi người chúng ta Tuy nhiên, theo Hồ Ch Minh, đó cũng là cuộc đấu tranh mà sự gian nan không kém gì trên mặt trận trực diện với kẻ thù, thậm ch còn đòi hỏi t nh mưu tr cao hơn gấp bội và mặt trận đại đoàn kết toàn dân rộng rãi hơn vì kẻ thù kh nguy hiểm, nó không mang gươm, mang súng mà nằm trong c c tổ chức của ta để làm hỏng công việc của ta Người đã ch rõ, tham nhũng không ch làm băng hoại đạo đức xã hội mà t nh nguy cơ của nó ch nh là những t c động của hiện tượng này đối với quần chúng nhân dân, nó làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, dân không còn tin vào Đảng thì vận nước sẽ nguy nan Vì vậy, dù khó khăn, gian khổ song chống tham nhũng là yêu cầu tất yếu của sự tồn vong dân tộc

Người nhấn mạnh: chống tham ô,lãng phí là c ch mạng, chống tham ô,

lãng phí là một cuộc c ch mạng, một nền dân chủ mà nhân dân phải đổ m u

xương mới giành được Chống tham nhũng là cuộc đấu tranh lâu dài, bền b ,

và phải vận động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đồng thời với việc hoạch định chiến lược đ nh lâu dài là phải xây dựng những s ch lược đ nh ch c từng phần, từng giai đoạn Cũng như ở c c mặt trận kh c, muốn th ng ở mặt trận này, t phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, t phải có lãnh đạo và trung kiên “Vì thế muốn chống tham ô, lãng ph , phải chống bệnh quan liêu

Nhưng tiến hành phải có chuẩn bị, có kế hoạch, có lãnh đạo có trọng tâm”[39,

tr346] Ngoài ra, theo Hồ Ch Minh, để chống tham ô,lãng phí, quan liêu thì chúng ta lấy “giáo dục làm chính, trừng phạt là phụ”[39, tr.361]

Trang 38

Như vậy, việc thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính, chống tham ô, lãng

phí, quan liêu là bước đầu thực hành đời sống mới Hồ Chí Minh không ch đưa ra quan niệm về đạo đức mới mà Người còn là tấm gương sáng về thực

hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính, chống tham ô, quan liêu, lãng phí

1.3.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về lối sống mới

Theo Hồ Ch Minh muốn xây dựng đời sống mới ta phải xây dựng lối sống mới có lý tưởng, có đạo đức theo hướng văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại

Quan điểm của Hồ Ch Minh về lối sống mới được hình thành từ rất sớm

và từng bước ph t triển kể từ sau Cách mạng th ng T m năm 1945 khi Việt Nam giành được độc lập Lối sống mới do Hồ Ch Minh xây dựng có sự tiếp thu chọn lọc những chuẩn mực của lối sống xã hội chủ nghĩa trên thế giới mà tiêu biểu là Liên Xô và vận dụng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh xã hội Việt Nam Lối sống mới theo tư tưởng Hồ Ch Minh gồm c c đặc trưng: lấy tư tưởng M c- Lênin làm nền tảng tư tưởng; nhân dân lao động làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân; luôn giữ gìn và ph t huy tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế vô sản, có đạo đức mới phù hợp với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, g n liền với lòng vị tha và tình nhân loại

Cùng với việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức, việc xây dựng đời sống mới đòi hỏi phải “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi c ch ăn, c ch mặc, c ch ở, c ch đi lại,

c ch làm việc”[37, tr.113] Theo Hồ Ch Minh, đó là năm c ch phải sửa đổi đối với mỗi người, cũng như đối với một tập thể, một cộng đồng Theo ngôn ngữ thường dùng hiện nay, đây là phong c ch sống (sinh hoạt, ứng xử), và phong cách làm việc, hoặc gọi chung là lối sống mới

Phong c ch sống, theo Hồ Ch Minh là phải khiêm tốn, giản dị, chừng mực, ngăn n p, vệ sinh, yêu lao động, biết quý trọng thời gian, t lòng ham

Trang 39

muốn về vật chất Trong quan hệ với nhân dân phải chân tình, cởi mở, tế nhị, giàu lòng yêu thương con người

Để xây dựng lối sống mới, theo Hồ Ch Minh cần xây dựng và ph t triển thuần phong mỹ tục: thuần phong mỹ tục là đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau

sản xuất, tiết kiệm, vì vậy nên cần ph t triển thuần phong mỹ tục Thuần phong

mỹ tục được hiểu theo nghĩa phổ thông nhất là những phong tục, tập qu n tốt đẹp của địa phương hoặc của dân tộc Nó là di sản tinh thần được hun đúc nghìn năm và được cha ông ta gìn giữ và lưu truyền Tuy nhiên, theo Hồ Ch Minh, hiện nay vẫn còn tồn tại một số những tệ nạn: rượu chè, ăn c p, ăn trộm….làm hại đến đạo đức, làm hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc…Do vậy cần phải khôi phục lại thuần phong mỹ tục ởi vì theo Người: “khôi phục vốn cũ, thì nên khôi phục c i gì tốt, còn c i gì không tốt thì phải loại dần ra”[43, tr.557]

Trong thời đại hiện nay, cùng với qu trình toàn cầu hóa và xu hướng quốc tế hóa, nhiều phong tục tập qu n tốt đẹp của dân tộc bị mai một và lãng quên Đặc biệt là giới trẻ đang có xu hướng “hướng ngoại” thì việc giữ gìn những thuần phong mỹ tục rất là khó khăn Nó đòi hỏi phải có sự phối hợp từ gia đình, nhà trường và xã hội Có làm được như vậy thì chúng ta hòa nhập

mà vẫn giữ được bản s c riêng của dân tộc

Theo Hồ Ch Minh, đời sống mới có thể chia làm hai thứ Một là đời sống mới riêng, từng người Hai là đời sống mới chung, từng nhóm người

mỗi người, mỗi đoàn thể lại phải theo công việc, nghề nghiệp của mình mà làm đời sống mới cho hợp với hoàn cảnh Nhưng bất kỳ người nào, đoàn thể nào, cũng không nằm ngoài các việc là: “ ăn, mặc, ở, đi lại”[37, tr.113] Và để thực hành được lối sống mới, Hồ Ch Minh đã ch ra các việc làm hết sức đơn giản nhưng cần thiết Đó là:

Về tinh thần, một là sốt s ng yêu Tổ quốc Việc gì lợi cho nước, phải ra sức làm Việc gì hại cho nước phải ra sức tránh

Trang 40

Hai là sẵn lòng công ích Bất kỳ việc to việc nhỏ, có ích chung thì phải hăng h i làm

a là mình hơn người thì chớ kiêu căng

Người hơn mình ,thì chớ nịnh hót

Thấy của người thì chớ tham lam

Thấy của mình thì chớ bủn x n

C ch ăn mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phát, chớ lượt thượt, xa x , lòe loẹt

Cách làm việc, phải siêng năng, có ngăn n p, có tinh thần phụ tr ch, đã làm việc gì thì làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn Chớ làm dối

C ch cư xử, đối với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ

Biết ham học Trước hết là học chữ, học làm tính Biết chữ, biết tính thì làm việc gì cũng dễ dàng hơn Một người không biết chữ, biết t nh thì như nửa mù nửa quáng Biết rồi ta học thêm

Hơn nữa, theo Hồ Chí Minh thực hiện lối sống mới, chúng ta phải thực hiện bài trừ những hủ tục và các tệ nạn xã hội Các tệ nạn xã hội phổ biến hiện nay như: rượu, chè, cờ bạc, mê tín, dị đoan, ma chay cúng b i rất tốn kém, cưới

vợ gả chồng, tảo hôn quá sớm hay thói đ nh đập vợ, ép duyên con Những thói xấu này là do chế độ phong kiến để lại và do chế độ thực dân gây ra Ví dụ như việc cưới, đó là tình trạng th ch cưới nặng: Trước thách xôi thịt hết 50 vạn đồng thì bây giờ thách chè, kẹo tốn 49 vạn 9.999 đồng Nó vừa gây tốn kém, vừa gây ra nhiều hệ lụy kh c Trong điều kiện kinh tế của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, thì việc th ch cưới như vậy là không cần thiết Nó tạo ra gánh nặng cho cả gia đình đôi bên Đặc biệt là c c đôi bạn trẻ Do vậy, Người đề nghị việc cưới xin diễn ra tiết kiệm và vui tươi Do vậy, Hồ Chí Minh mong nhận được sự ủng hộ của tất cả mọi người trong tổ chức cưới xin Có như vậy thì cuộc cách mạng của nhân dân ta mới nhanh đi đến th ng lợi

Ngày đăng: 09/12/2022, 12:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm