Nhìn chung, những công trình trên tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận của hành chính công và CCHC công; các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về CCHC cũng như phân tích các bài
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LÊ DUNG
VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LÊ DUNG
VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY
(Khảo sát báo Đà Nẵng và Chương trình Cải cách hành chính
của Đài Phát thanh – Truyền hình Đà Nẵng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả, số liệu thu được trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Lê Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luâ ̣n văn này , tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo Khoa Báo chí – Truyền thông, Trường Đa ̣i ho ̣c Khoa ho ̣c Khoa h ọc xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Nội vụ Đà Nẵng, Ban biên tập báo Đà Nẵng, đài Phát thanh – Truyền hình Đà Nẵng, Thư viện thành phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình sưu tập tài liệu, tin bài liên quan đến đề tài
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS Trần
Bá Dung đã quan tâm , tạo điều kiện giúp đỡ và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và ba ̣n bè đã đô ̣ng viên , quan tâm, khích lệ giúp tôi hoàn thành tốt luận văn
Đề tài “Vấn đề cải cách hành chính ở thành phố Đà Nẵng trên báo chí hiện
nay” là một vấn đề khá mới mẻ nên chắc chắn luận văn này không tránh khỏi
những thiếu sót và hạn chế Do vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp chân thành, cởi mở của Qúy thầy cô giáo, các nhà chuyên môn, bạn bè và đồng nghiệp để
có thể tiếp tục phát triển đề tài này
Nguyễn Thi ̣ Lê Dung
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 12
1.1 Cơ sở lý luận về cải cách hành chính 12
1.1.1 Khái niệm cải cách hành chính 12
1.1.2 Đường lối, chủ trương của Đảng về cải cách hành chính trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam 13
1.1.3 Một số kết quả đạt được trong công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam những năm qua 15
1.2 Cải cách hành chính ở thành phố Đà Nẵng 19
1.2.1 Một số kết quả đạt được và vấn đề đặt ra 19
1.2.2 Nội dung cải cách hành chính của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2020 23
1.3 Vai trò của báo chí đối với vấn đề cải cách hành chính 26
1.3.1 Thông tin, tuyên truyền, phản ánh về cải cách hành chính 29
1.3.2 Tham gia quản lý, giám sát và phản biện xã hội về vấn đề cải cách hành chính 32
Tiểu kết Chương 1 35
Chương 2 : THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY 37
2.1 Tần suất, mức độ phản ánh 37
2.1.1 Trên báo Đà Nẵng 37
2.1.2 Trên Chương trình cải cách hành chính của DRT 38
2.2 Nội dung thông tin về cải cách hành chính 40
2.2.1 Nội dung cải cách hành chính 40
2.2.2 Các lĩnh vực CCHC 52
2.3 Về hình thức chuyển tải thông tin 61
Trang 62.3.1 Về thể loại 61
2.3.2 Về ngôn ngữ 70
2.4 Đánh giá chung 80
2.4.1 Ưu điểm 80
2.4.2 Hạn chế 84
Tiểu kết Chương 2 88
Chương 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY 90
3.1 Đối với các cấp lãnh đạo thành phố 90
3.2 Đối với các cơ quan báo chí 95
3.3 Đối với nhà báo 100
Tiểu kết Chương 3 103
KẾT LUẬN 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Vấn đề CCHC trên báo Đà Nẵng năm 2012 và 6 tháng đầu
năm 2013 theo nội dung CCHC
37
2.2 Vấn đề CCHC trên báo Đà Nẵng năm 2012 và 6 tháng đầu
năm 2013 theo lĩnh vực CCHC
38
2.3 Vấn đề CCHC trên báo Đà Nẵng năm 2012 và 6 tháng đầu
năm 2013 theo thể loại
38
và 6 tháng đầu năm 2013 theo nội dung CCHC
39
2.5 Vấn đề CCHC trên Chương trình CCHC của DRT năm
2012 và 6 tháng đầu năm 2013 theo lĩnh vực CCHC
39
2.6 Vấn đề CCHC trên Chương trình CCHC của DRT năm
2012 và 6 tháng đầu năm 2013 theo thể loại
39
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Nội dung CCHC trên báo Đà Nẵng năm 2012 và 6 tháng đầu
2.4 Các lĩnh vực CCHC trên Chương trình CCHC của DRT
năm 2012 và 6 tháng dầu năm 2013
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách hành chính (CCHC) đã và đang là một yêu cầu tất yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh dân chủ và nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân, nhằm mục đích đảm bảo sự phát triển bền vững của một quốc gia Đối với Việt Nam, CCHC là cuộc cách mạng lớn trong hệ thống hành chính nhà nước, một bộ phận quan trọng trong đường lối của Đảng và Nhà nước, là nội dung cơ bản, nhiệm
vụ trọng tâm trong đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Trong những năm qua, thực hiê ̣n Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010, dù có những khó khăn và tồn tại nhất định song công cuô ̣c CCHC ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, tăng cường khả năng hội nhập quốc tế của đất nước đồng thời từng bước cải thiện đời sống của nhân dân
Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu CCHC càng trở nên cấp thiết khi được xem như một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng một nền hành chính trong sạch, sử dụng đúng quyền lực, từng bước hiện đại hóa để quản lý hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển đúng hướng , phục vụ đắc lực đời sống nhân dân và mở rộng giao lưu , hợp tác với các quốc gia trên thế giới CCHC không chỉ là công viê ̣c riêng của hê ̣ thống hành chính, mà còn là yêu cầu chung của toàn xã hô ̣i Vì vâ ̣y, viê ̣c tăng cường công tác tuyên truyền , phổ biến thông tin để
mọi cán bô ̣, công chức và người dân nhâ ̣n thức đúng về cải cách bô ̣ máy nhà nước , về CCHC và thực hiê ̣n quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt đô ̣ng của bô ̣ máy hành chính có vai trò quan trọng , góp phần vào sự thành công của công cuô ̣c CCHC Có thể khẳng định, thông qua báo chí, các chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp luật liên quan đến CCHC nhà nước đã đến được với người dân cũng như đội ngũ CBCCVC một cách nhanh nhất
Trong Đề án CCHC của Chính phủ giai đoạn 2001-2010, Đà Nẵng là một trong những thành phố trực thuộc Trung ương được đánh giá là đi đầu về CCHC
Trang 11Tuy nhiên trong 10 năm qua, thành phố chưa xây dựng đề án riêng để tuyên truyền CCHC, nhiều nơi còn lúng túng, bị động về nội dung lẫn hình thức, hiệu quả tuyên truyền chưa cao, chưa thật sự đi sâu vào nhận thức của đội ngũ CBCCVC, tổ chức
và công dân, dẫn đến kết quả thực hiện CCHC vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế-xã hội Vì vậy, căn cứ Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể CCHC Nhà nước giai đoạn 2011-2020, ngày 12/12/2011, UBND thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định số 10598/QĐ-UBND về việc ban hành Chương trình CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 tại thành phố Đà Nẵng, cụ thể hóa hơn nữa trong “Đề án tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền CCHC nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020”
Để thực hiện chủ trương đó, lãnh đạo Đà Nẵng đã đề ra yêu cầu cần phải thực hiện ngay , thực hiện thường xuyên và liên tục đẩy mạnh việc truyền thông CCHC trên báo chí Và báo chí , chính là mô ̣t trong những phương tiê ̣n quan trọng đáp ứng hiê ̣u quả nhu cầu hiểu biết của cán bô ̣, công chức và mọi tầng lớp nhân dân về những kiến thức cơ bản của Chương trình CCHC của thành phố , góp phần nâng cao dân trí, thúc đẩy sự phát triển ngày một bền vững của thành phố Đà Nẵng nói riêng và đất nước nói chung Thực hiện nhiệm vụ CCHC của thành phố Đà Nẵng, không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan lãnh đạo, sự đồng tình của mọi cá nhân, tổ chức, trong đó không thể không kể đến sự tham gia tích cực của hệ thống các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo Nhận thức rõ tầm quan trọng của báo chí đối với
vấn đề này nên tác giả đã chọn đề tài “Vấn đề cải cách hành chính ở thành phố Đà
Nẵng trên báo chí hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp Cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu vai trò, hiệu quả của báo chí đối với công cuộc truyền thông CCHC nói chung, là một vấn đề rất mới mẻ Tính đến thời điểm hiện tại, khi Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 thì “Vấn đề cải cách hành chính ở thành phố Đà Nẵng trên báo chí hiện nay” vẫn được xem như mảng đề tài còn bỏ ngỏ, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu
Hiện nay, chỉ có một số công trình đề cập đến đề tài này, nhưng ở phạm vi
Trang 12rộng trên cả nước hoặc ở những tỉnh thành khác, có thể kể đến như: Nguyễn Thanh Vân: “Vai tr ̣ò của báo chí đối với công cu ộc CCHC” (khảo sát báo in thành phố HCM từ năm 2001 đến năm 2004), Luận văn thạc sĩ khoa học, TP Hồ Chí Minh, 2006; Vương Kiều Vân: “Báo chí Hà Nội với công cuộc CCHC ở thủ đô” (Khảo sát báo Hà Nội mới, Kinh tế và đô thị năm 2005), Luận văn Thạc sĩ khoa học, Hà Nội, 2007; Nguyễn Thùy Vân Anh: “Báo chí với vấn đề cải cách thể chế hành chính nhà nước Việt Nam hiện nay” (Khảo sát Tạp chí Quản lý nhà nước, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Tổ chức Nhà nước từ tháng 1/2006 đến tháng 6/2010), Luận văn Thạc sĩ Khoa học, Hà Nội, 2010
Nhìn chung, những công trình trên tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận của hành chính công và CCHC công; các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về CCHC cũng như phân tích các bài viết trên báo chí liên quan đến vấn đề CCHC trong giai đoạn 2001-2010, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng truyền thông CCHC Tuy nhiên những giải pháp này còn chung chung, chưa nêu ra được những nhóm giải pháp cụ thể Đó cũng là một số cơ sở để chúng tôi tiến hành tìm hiểu đề tài này tại một địa phương cụ thể là thành phố Đà Nẵng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Khảo sát, đánh giá về công tác truyền thông CCHC ở Thành phố Đà Nẵng
trên báo Đà Nẵng và Chương trình CCHC của DRT Nêu lên những thành công
cũng như hạn chế trong công tác tuyên truyền, từ đó đề ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công cuộc truyền thông CCHC trên báo chí nói chung và báo Đà Nẵng, DRT nói riêng
3.2 Nhiệm vụ
- Khảo sát, phân tích các tin, bài về CCHC trên báo Đà Nẵng và Chương
trình CCHC của DRT từ năm 2012 đến tháng 6 năm 2013
- Đánh giá về nội dung và hình thức truyền thông, chất lượng, hiệu quả của báo chí trong công tác truyền thông CCHC ở thành phố Đà Nẵng;
- Rút ra những bài học kinh nghiệm, ý kiến đề xuất cũng như những giải pháp
Trang 13cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác truyền thông CCHC trên báo chí Đà Nẵng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề truyền thông chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và thành phố Đà Nẵng về CCHC, thực tiễn công tác CCHC ở thành phố trên hệ thống báo chí Đà Nẵng
Phạm vi nghiên cứu là những tin, bài về CCHC trên báo Đà Nẵng và
Chương trình Cải cách hành chính của DRT từ năm 2012 đến tháng 6 năm 2013
Đây là 2 năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành về Chương trình tổng thể CCHC Nhà nước giai đoạn 2011-2020 và Quyết định số 10598/QĐ-UBND của UBND thành phố Đà Nẵng về việc ban hành Chương trình CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 tại thành phố Đà Nẵng
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả tiến hành phương pháp sưu tầm tài liệu, khảo sát thống kê, phân loại, tổng hợp và đánh giá thông tin, sau đó đưa ra
nhận xét
Đồng thời, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp so sánh… để có cái nhìn toàn diện về hệ thống tin, bài có nội dung CCHC trên báo chí Đà Nẵng
Ngoài ra, tác giả cũng khảo sát các hệ thống văn bản, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, hệ thống văn bản, tổng kết, nghiên cứu của Thành ủy, các cơ quan chính quyền thành phố Đà Nẵng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với các cơ quan báo chí, góp phần tích cực vào công cuộc CCHC theo hướng thống nhất ở nước ta nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng
Về mặt lý luận, luận văn cung cấp hệ thống khái quát vị trí, vai trò của báo chí khi tham gia phản ánh vấn đề CCHC tại một địa phương cụ thể là thành phố Đà Nẵng; bổ sung mô hình lý luận khoa học về CCHC; Đồng thời góp phần tích cực
Trang 14vào công cuộc CCHC theo hướng thống nhất tại thành phố Đà Nẵng nói riêng và trong cả nước nói chung
Về mặt thực tiễn, thông qua luận văn, các phóng viên, biên tập viên phụ trách mảng CCHC của các cơ quan báo chí sẽ được trang bị thêm kiến thức về nội dung CCHC, nhận thức rõ hơn về vai trò của báo chí đối với công tác truyền thông CCHC
Đồng thời, luận văn cung cấp cái nhìn khách quan về ưu điểm và hạn chế của công tác truyền thông CCHC, từ đó, các cơ quan báo chí có thể đưa ra những giải pháp hoàn thiện trong quá trình tác nghiệp về CCHC Đặc biệt, thông qua luận văn, đội ngũ phóng viên, nhà bào chuyên trách mảng CCHC sẽ tự tìm ra cho mình sự tìm tòi đổi mới nội dung cũng như hình thức thể hiện tác phẩm báo chí về vấn đề CCHC Đây cũng là yêu cầu được đặt ra hàng đầu trong quá trình truyền thông về vấn đề CCHC của thành phố Đà Nẵng
Kết quả khảo sát của đề tài sẽ là nguồn tư liệu tham khảo hệ thống, đầy đủ và chính xác cho những ai quan tâm đến vấn đề CCHC của báo chí nói chung và báo chí trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng, là điểm tựa để các nhà nghiên cứu, nhà quản lý trong việc nghiên cứu, đề ra chủ trương, chính sách hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả của vấn CCHC nói chung cũng như truyền thông CCHC trên báo chí
nói riêng
Mặt khác, luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo của giảng viên, sinh viên trong những ngành học liên quan có thể sử dụng để tham khảo cho những môn học của mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về CCHC và vai trò của báo chí đối với vấn đề CCHC
Chương 2 Thực trạng vấn đề CCHC ở thành phố Đà Nẵng trên báo chí hiện nay
Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông CCHC ở thành phố Đà Nẵng trên báo chí hiện nay
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1.1 Cơ sở lý luận về cải cách hành chính
1.1.1 Khái niệm cải cách hành chính
Đến thời điểm hiện tại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CCHC Mỗi một đất nước, một chế độ chính trị lại có những cách hiểu khác nhau về CCHC Cải cách hành chính là một khái niệm đã được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu hành chính trên thế giới đưa ra, dựa trên các điều kiện về chế độ chính trị, kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu nghiên cứu, do đó hầu hết các định nghĩa này là khác nhau Tuy nhiên, qua xem xét, phân tích dưới nhiều góc độ định nghĩa của khái niệm, có thể thấy các khái niệm về cải cách hành chính được nêu ra có một số điểm thống nhất sau:
- Cải cách hành chính là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Cải cách hành chính không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính,
mà chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn
so với trước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống hơn, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước sau khi tiến hành cải cách hành chính đạt hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội của một quốc gia;
- Cải cách hành chính tuỳ theo điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn của lịch
sử, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, có thể được đặt ra những trọng tâm, trọng điểm khác nhau, hướng tới hoàn thiện một hoặc một số nội dung của nền hành chính, đó là tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, thể chế pháp
lý, hoặc tài chính công v.v
Trang 16Ở Việt Nam hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào chính thức định nghĩa khái niệm cải cách hành chính là gì Tuy nhiên, nhiều văn bản quan trọng của Đảng đã đề cập đến thuật ngữ này, như Nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyết TW 8 - khoá VII, Nghị quyết Đại hội VIII v.v đã nêu ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho công cuộc cải cách hành chính nhà nước [37]
Theo Tiến sĩ Nguyễn Khắc Hùng trong cuốn Hành chính công do nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 2006 thì khái niệm CCHC được hiểu như sau:
Theo nghĩa rộng: CCHC có thể hiểu là một quá trình thay đổi cơ bản, lâu
dài, liên tục bao gồm cơ cấu của quyền lực hành pháp và tất cả các hoạt động có ý thức của bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộ phận và các cá nhân vì mục đích chung của cộng đồng và phối hợp các nguồn lực để tạo ra hiệu lực, hiệu quả quản lý và các sản phẩm (dịch vụ hoặc hàng hóa) phục vụ nhân dân thông qua các phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực Hiểu theo nghĩa này, CCHC là những thay đổi được thiết kế có chủ định nhằm cải tiến một cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước: lập kế hoạch; định thể chế; tổ chức; công tác cán bộ; tài chính; chỉ huy; phối hợp; kiểm tra; thông tin; và đánh giá
Theo nghĩa hẹp: CCHC có thể hiểu như là một quá trình thay đổi nhằm nâng
cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh vực quản lý của bộ máy hành chính nhà nước
1.1.2 Đường lối, chủ trương của Đảng về cải cách hành chính trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam
CCHC là yêu cầu khách quan của mọi nền hành chính và của bất cứ quốc gia nào Đối với nước ta, CCHC là yêu cầu cấp bách và là một trong những nhiệm vụ mang tầm chiến lược trong công cuộc đổi mới được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm
Trang 17Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã có nhiều chủ trương về CCHC và luôn xác định CCHC là một khâu quan trọng để phát triển đất nước
Đại hội Đảng lần thứ VII, tháng 6 năm 1991 đã xác định “Tiếp tục cải cách
bộ máy nhà nước theo phương hướng: Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức
và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh giản, gọn nhẹ và hoạt động có chất lượng cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, quản lý”
Tháng 1/1995, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 (khóa VII), CCHC được xác định là trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước với mục tiêu hình thành một nền hành chính trong sạch có đủ năng lực, quyền lực và từng bước hiện đại hóa để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra từ thực tiễn của đời sống
xã hội Nghị quyết Trung ương 8 cũng đề ra 3 nội dung trọng tâm cho công tác CCHC là: Cải cách thể chế của nền hành chính; chấn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Theo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (28/6 –1/7/1996) đã nêu rõ: Cải cách nền hành chính nhà nước là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước trong những năm trước mắt, công cuộc CCHC phải dựa trên cơ sở pháp luật và tiến hành động bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức hành chính
Để tăng cường chỉ đạo công tác CCHC trước yêu cầu của tình hình mới, ngày 14/10/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 200/1998/QĐ/TTg về việc thành lập Ban chỉ đạo CCHC của Chính phủ, có chức năng tư vấn cho Chính phủ trong việc quyết định chương trình, kế hoạch chỉ đạo công tác CCHC hằng năm
và trong từng thời kỳ cùng những vấn đề khác về CCHC
Đại hội IX (năm 2001) bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá đã
Trang 18đưa ra một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong CCHC thời gian tới như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục CCTTHC; xây dựng đội ngũ CBCC trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng…
Ngày 17/09/2001, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg với mục tiêu chung là: Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước
Ngày 8/11/2011, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 với những mục tiêu là: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước;
Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ TTHC; Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước; Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước; Xây dựng đội ngũ CBCCVC có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước
1.1.3 Một số kết quả đạt được trong công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam những năm qua
Trang 19Thành tựu:
Ngày 5/4/2011, Hội nghị trực tuyến tổng kết Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 và xây dựng Chương trình CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 với lãnh đạo 30 bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã diễn ra tại Hà Nội Theo báo cáo tổng kết của Hội nghị, qua 10 năm triển khai, có thể khẳng định những kết quả tích cực đã đạt được của CCHC là bộ mặt của nền hành chính nhà nước đã bước đầu thay đổi, hướng tới phục vụ dân, xã hội,
hệ thống thể chế được xây dựng và hoàn thiện hơn, tổ chức bộ máy tinh gọn hơn và chất lượng đội ngũ CBCC được nâng lên một bước, CCHC đã thực sự góp phần vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị và trật tự xã hội ở nước
ta trong thời gian qua
CCHC đã được triển khai trên diện rộng, ngày càng đi vào thực chất hơn, bám sát cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và xã hội về một nền hành chính có hiệu lực, hiệu quả, một nền hành chính phục vụ CCHC đã đạt được những kết quả trên cả 5 lĩnh vực là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, cải cách tài chính công và hiện đại hoá nền hành chính So với 10 năm trước đây, khi bước vào thực hiện Chương trình tổng thể, diện mạo của nền hành chính nước ta từ điều kiện, phương tiện làm việc, tổ chức bộ máy, con người… đã có những thay đổi theo hướng tích cực và chính những thay đổi đó đã góp phần quan trọng vào những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [4]
Cải cách, đơn giản hóa TTHC là một trong những lĩnh vực được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm chỉ đạo, Thực hiện Đề án 30, giai đoạn I, cả nước
đã thống kê được trên 5.700 TTHC; trên 9.000 văn bản quy định và trên 100.000 biểu mẫu thống kê TTHC trong phạm vi cả nước [2]
Giai đoạn 2, các bộ, ngành và địa phương đã tiến hành tự rà soát TTHC và hoàn thành đúng tiến độ, đạt chỉ tiêu đơn giản hoá tối thiểu 30% thủ tục theo chỉ đạo của Thủ tướng Đến nay, đã có trên 5.500 TTHC được rà soát; 453 TTHC được
Trang 20kiến nghị bãi bỏ, hủy bỏ; 3749 TTHC được kiến nghị sửa đổi, bổ sung; 288 TTHC được kiến nghị thay thế, đạt tỉ lệ đơn giản hóa 81%
Trật tự, kỷ cương mới trong quản lý thu phí và lệ phí đã được xác lập, công khai, minh bạch nguyên tắc thu, mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng đối với các loại phí, lệ phí; đã bãi bỏ được 340 loại phí, lệ phí không còn phù hợp
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã quan tâm và tích cực chỉ đạo thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Đến nay, đã
có 88,3% cơ quan cấp tỉnh, 98,5% cấp huyện, 96,7% cấp xã triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông Bộ phận một cửa đã công khai, niêm yết danh mục TTHC, hòm thư góp ý, số điện thoại đường dây nóng
Thông qua hiện đại hóa nền hành chính, trụ sở và điều kiện làm việc của các
cơ quan hành chính đã được cải thiện đáng kể Cho đến nay, đã có 1.453 cơ quan hành chính ở Trung ương và địa phương triển khai, được cấp giấy chứng nhận ISO
Thông qua việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001:2000 đã xây dựng được các quy trình giải quyết công việc khoa học hơn; từng bước cải tiến phương pháp làm việc, tạo điều kiện thuận lợi cho từng cán bộ, công chức, phòng, ban giải quyết công việc thông suốt, kịp thời, hiệu quả; đặc biệt là góp phần giảm các tác động tiêu cực trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức khi giải quyết các TTHC
Việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp đã phát huy được hiệu quả, bước đầu tạo lòng tin, thói quen của nhân dân trong việc tiếp xúc với các dịch vụ của cơ quan nhà nước, đồng thời là cơ sở rút kinh nghiệm,
mở rộng trong thời gian tới, nhất là ứng dụng công nghệ thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên mạng Internet, ứng dụng công nghệ thông tin tại bộ phận một cửa [4]
Kết quả CCHC nhà nước trên tất cả các nội dung cải cách thể chế; cải cách
tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải
Trang 21cách tài chính công; hiện đại hóa nền hành chính… góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội đất nước trong thời gian qua
Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính vẫn còn chồng chéo, TTHC mặc dù đã được chú trọng cải cách, đơn giản hoá nhưng nhìn chung vẫn phức tạp, chưa tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; đặc biệt, năng lực, trình
độ của đội ngũ cán bộ, công chức chưa được nâng lên, chưa đáp ứng yêu cầu Tiếng kêu ca, phàn nàn của người dân, doanh nghiệp về cơ quan hành chính, về thái độ của cán bộ, công chức, về chất lượng, thời gian giải quyết công việc vẫn còn khá phổ biến Sự hài lòng của xã hội về hoạt động phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước vẫn còn ở mức độ thấp
Bài học kinh nghiệm:
Trước những tồn tại, hạn chế của công tác CCHC ở nước ta trong những năm qua, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dĩnh - Thứ trưởng Bộ Nội vụ đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm để tiếp tục phát huy mặt được và khắc phục thiếu sót Cụ thể là:
Một là, phải coi trọng công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về CCHC đối với các cấp chính quyền và toàn thể nhân dân để nâng cao nhận thức toàn xã hội
Hai là, bảo đảm sự nhất quán, kiên trì, liên tục trong triển khai CCHC từ xây
dựng chương trình, kế hoạch CCHC hằng năm theo Chương trình của Chính phủ
Các bộ, ngành Trung ương và các tỉnh cần xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đến tổ chức và kiểm tra thực hiện; đánh giá, kiểm điểm kết quả CCHC phải dựa
Trang 22vào mục tiêu đã đặt ra cũng như tác động tới xã hội của cải cách nền hành chính
Ba là, công tác chỉ đạo triển khai thống nhất, đồng bộ từ Chính phủ tới các cấp
chính quyền địa phương có vai trò quyết định đến sự thành công của Chương trình
Cần phải coi CCHC là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, gắn với quá trình tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức CCHC phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị, cải cách kinh tế, cải cách lập pháp và cải cách tư pháp
Bốn là, nâng cao vai trò của cơ quan chủ trì tham mưu cho Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ trong công tác điều phối chung, tổng hợp, đôn đốc và theo dõi việc thực hiện các nội dung, các đề án, dự án của Chương trình CCHC
Năm là, coi trọng công tác thí điểm, làm điểm để nhân rộng trong triển khai
CCHC Thông qua thí điểm mới có điều kiện đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút ra những vấn đề cần xử lý tiếp và nhân rộng nếu thấy đúng
Sáu là, xác định các mục tiêu phù hợp, thiết thực và coi trọng hiệu quả Việc
tổ chức thực hiện các Chương trình hành động phải gắn với tổ chức thực hiện những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị Cơ chế tổ chức thực hiện các Chương trình hành động, sự phân công, phối hợp giữa các bộ có liên quan vừa qua chưa phù hợp với tính hệ thống của chương trình tổng thể làm ảnh hưởng tới kết quả và tính thời gian của sản phẩm các chương trình hành động
Bảy là, điều kiện quan trọng bảo đảm sự thành công của CCHC là sự thể hiện
quyết tâm chính trị và trách nhiệm của người đứng đầu Trên thực tế, bài học kinh nghiệm này chưa được thực hiện một cách triệt để, mặc dù nghị quyết của Đảng, văn bản của Chính phủ đã quy định rõ nhưng thiếu biện pháp cụ thể để thực thi
Trang 23Về TTHC:
Thành phố Đà Nẵng đã khá thành công trong việc đơn giản hóa TTHC
Thông qua việc tiếp cận thông tin và lấy mẫu đơn, mẫu tờ khai trực tiếp trên trang web của Sở để hoàn thiện hồ sơ, quy định rõ thời gian thực hiện TTHC; quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền quyết định, phối hợp giải quyết của từng cơ quan chuyên môn đã phần nào xóa bỏ những rào cản về TTHC, giảm đáng kể chi phí xã hội cho
cá nhân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước Đồng thời, sự minh bạch và đơn giản hóa TTHC đã góp phần tích cực vào việc giảm bớt phiền hà trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức, doanh nghiệp cũng như tránh được tình trạng nhũng nhiễu, gây khó khăn của một số cán bộ công chức
Bên cạnh đó, công tác theo dõi, đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công
đã có sự đổi mới theo hướng ngày càng hoàn thiện và có hiệu quả cao hơn Thông qua việc khảo sát mức độ hài lòng của công dân, tổ chức đối với các dịch vụ hành chính công được cung ứng bởi các cơ quan đơn vị trên địa bàn thành phố đã giúp cho công tác khảo sát cũng như đánh giá trở nên khách quan, sát thực hơn
Về tổ chức bộ máy hành chính:
Thành phố đã thực hiện hiệu quả việc phân định chức năng quản lý của các
cơ quan hành chính, tránh tình trạng chồng chéo hay trùng lặp về quyền hạn cũng như nhiệm vụ của từng cơ quan
Việc phân cấp quản lý giữa các cơ quan thuộc thành phố, quận, huyện, phường, xã được thực hiện khá nghiêm túc và thành công Từ đó, giúp cho công tác giải quyết công việc nhanh chóng và đạt hiệu quả hơn
Về công tác cán bộ:
Thành phố Đà Nẵng đã có những chính sách hiệu quả trong việc đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao Đây sẽ là nguồn lao động “chất xám” quan trọng góp phần đưa thành phố ngày càng phát triển hơn
Một điểm đáng ghi nhận nữa trong công tác cán bộ là việc thành phố Đà Nẵng đã đi đầu cả nước về việc thi tuyển công khai các chức danh lãnh đạo, quản
lý Việc này sẽ giúp thành phố Đà Nẵng tìm ra được những người lãnh đạo có đầy
Trang 24đủ năng lực chuyên môn cũng như đạo đức công vụ để “chèo lái” đưa cả thành phố
“cập bến thành công” Không chỉ vậy, việc thực hiện thành công công tác thi tuyển này sẽ là điểm sáng để các địa phương khác trong cả nước học tập và làm theo
Về ứng dụng công nghệ thông tin trong CCHC:
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước vẫn tiếp tục
là điểm nhấn trong công tác CCHC tại thành phố Đà Nẵng, được triển khai một cách khoa học, đồng bộ từ chính quyền cơ sở đến chính quyền thành phố, từng bước phấn đấu theo hướng chính quyền điện tử
Mạng lưới kết nối thông tin giữa các cơ quan đơn vị thuộc thành phố đang ngày càng mở rộng, hướng đến kết nối các nhóm cơ quan khác nhau như UBND phường, xã
và UBND quận, huyện; UBND quận, huyện và các sở, ban, ngành…
Mô hình một cửa điện tử đã trược triển khai và vận hành ổn định tại các cơ
sở, ban, ngành và UBND quận, huyện, phường, xã
- Cơ cấu, tổ chức bộ máy đã được sắp xếp lại nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng sâu rộng của công tác quản lý
- Các kết quả bước đầu trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào hành chính là tương đối tốt, tuy nhiên hiệu quả chưa cao, một số phần mềm còn nhiều bất cập, chưa được khai thác triệt để
- Các kiến nghị đơn giản hóa mới chủ yếu tập trung vào các kiến nghị hoàn thiện pháp luật, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, sửa đổi biểu mẫu… Văn bản quy định TTHC đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thay thế nhưng chưa được cập nhật;
thời gian từ khi thống kê, rà soát, cắt bỏ TTHC diễn ra khá dài do vậy chỉ thực hiện
rà soát trên nền văn bản cũ…
Trang 25- Các tổ chức, cá nhân khi làm thủ tục chưa nghiên cứu kỹ các chính sách ưu đãi, quy định của nhà nước Đầu tư và đăng ký hoạt động kinh doanh làm không đúng quy định, sơ sài, thiếu tài liệu và thông tin cơ bản Sau khi cơ quan nhà nước hướng dẫn đã tiếp thu nhưng việc tiếp thu, chỉnh sửa, bổ sung không đầy đủ nên phải sửa lại nhiều lần, làm kéo dài thời gian hướng dẫn các thủ tục
- Việc CCHC công đã được áp dụng, tuy nhiên đời sống của CBCC vẫn chưa được cải thiện đáng kể trong thời gian qua Chưa có biện pháp, cơ chế tạo động lực thúc đẩy CBCC cống hiến ở mức cao hơn
- Thể chế quy định tính công khai trong TTHC; hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước để cho “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”, tuy nhiên sự tham gia của người dân vào xây dựng thể chế, góp ý vào cắt giảm TTHC… còn hạn chế
- Một số nội dung trong công tác CCHC vẫn chưa thực sự nhận được sự quan tâm của một số đơn vị, chẳng hạn như công tác kiểm soát TTHC vì là một nhiệm vụ mới nên chưa được UBND các quận, huyện, phường, xã thực sự quan tâm, công tác kiểm tra, đôn đốc chưa được tăng cường
- Tâm lý e ngại đổi mới và hạn chế về trình độ tin học của CBCC là trở lực rất lớn khiến tốc độ tin học hóa, điện tử hóa hoạt động của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố chưa thực sự như mong đợi
Bài học kinh nghiệm:
Từ thực tiễn tiến hành CCHC ở thành phố Đà Nẵng, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Trước hết phải có sự đổi mới về nhận thức trong bộ máy chính quyền địa phương về CCHC, luôn coi CCHC là khâu đột phá và mở đường cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội;
- Hệ thống bộ máy hành chính phải được tổ chức, sắp xếp hợp lý, gọn nhẹ, CBCC cần thường xuyên được đào tạo nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và thật sự tâm huyết với công việc, luôn xem nhu cầu của tổ chức và công dân như nhu cầu của chính mình;
- Trong quá trình thực hiện phải có sự đồng bộ cả về nhiệm vụ, thẩm quyền,
Trang 26nguồn lực và các điều kiện cần thiết để đơn vị nhận phân cấp chủ động tổ chức thực hiện, mặt khác phải phân định thật cụ thể chức năng, nhiệm vụ giữa các ngành, các cấp tránh chồng chéo hoặc bỏ sót việc, đồng thời cũng cần xác định rõ mối quan hệ trách nhiệm giữa các ngành, các cấp sau phân cấp, để tạo sự phối hợp đồng bộ liên thông trong triển khai thực hiện nhiệm vụ
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và phục vụ nhân dân Yêu cầu về tính hệ thống, thông suốt, chính xác, rõ ràng minh bạch từ các hệ thống thông tin sẽ tác động làm thay đổi phương pháp tiếp cận và phương thức tổ chức thực hiện các mục tiêu quản lý, điều hành của bộ máy hành chính
Có thể khẳng định một điều rằng nhờ có sự chỉ đạo sâu sát của các Cấp ủy Đảng, mọi chủ trương, đường lối CCHC của Đảng và Nhà nước đều được Đảng bộ thành phố nghiên cứu, quán triệt kịp thời và đầy đủ, trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp, bước đi phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của thành phố Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, thành phố Đà Nẵng đã tạo được những mô hình CCHC có hiệu quả, được các địa phương trong cả nước học tập, vận dụng có hiệu quả
1.2.2 Nội dung cải cách hành chính của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2020
Ngày 12 tháng 12 năm 2011 UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành Quyết định số:10598/QĐ-UBND về Chương trình CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 tại thành phố Đà Nẵng với mục tiêu tổng quát là đến năm 2020, xây dựng bộ máy hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, đảm bảo quản lý thống nhất, thông suốt, có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý
đô thị, phục vụ nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội
Chương trình CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 tại thành phố Đà Nẵng gồm có những nội dung chính sau đây [8, tr.3-6]:
Cải cách thể chế hành chính:
- Thường xuyên rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý hành chính của thành phố trên nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất với các chủ trương, chính sách, pháp luật của Trung ương, thông suốt trên toàn địa bàn thành phố và phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Trang 27- Xây dựng quy định về việc lấy ý kiến của nhân dân đối với các chủ trương, chính sách quan trọng và thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước
- Nghiên cứu, đề xuất Trung ương cho phép triển khai các chính sách đặc thù của thành phố, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh về kinh tế - xã hội, hiện đại và phù hợp với điều kiện thực tiễn về quản lý nhà nước của chính quyền đô thị
CCTTHC:
- Thường xuyên rà soát, đơn giản và kiến nghị cấp có thẩm quyền thực hiện đơn giản hóa TTHC trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, trọng tâm là những TTHC còn phiền hà, liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp
- CCTTHC trong nội bộ từng cơ quan, đơn vị và giữa các cấp với nhau
- Xây dựng phương pháp đánh giá tác động của TTHC đến chi phí xã hội, chi phí quản lý hành chính nhà nước
- Công khai minh bạch tất cả TTHC dưới các hình thức thiết thực và thích hợp
- Đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ hành chính công theo hướng đơn giản, liên thông, liên kết, hiện đại và trực tuyến; cải thiện rõ nét văn hóa phục vụ, giao tiếp của công chức trong quá trình thực hiện các giao dịch hành chính
- Xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công, trong đó có cơ chế huy động sự tham gia của công dân, tổ chức và các phương tiện
thông tin truyền thông vào theo dõi, đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công
Cải cách tổ chức bộ máy và hoạt động của cơ quan nhà nước:
- Tổng rà soát và định kỳ rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế hiện có của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước
Trên cơ sở đó, phân định chức năng quản lý nhà nước và sự nghiệp công; xóa bỏ chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ; nghiên cứu đề xuất mô hình tổ chức
và hoạt động của chính quyền đô thị
- Tiếp tục thực hiện phân cấp hợp lý giữa UBND thành phố cho các cơ quan chuyên môn và UBND quận, huyện, phường, xã; bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện có hiệu quả thẩm quyền được phân cấp
Trang 28- Tiến hành hiệu quả việc trưng cầu ý kiến đánh giá mức độ hài lòng của công dân, tổ chức đối với hoạt động của cơ quan hành chính các cấp Xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công của các đơn vị sự
nghiệp, có so sánh với chất lượng của các đơn vị do khu vực tư đảm nhiệm
- Nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở
Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC:
- Xây dựng đội ngũ CBCCVC chuyên nghiệp, hợp lý về cơ cấu gắn với vị trí
việc làm trên cơ sở xác định rõ về chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị
- Từng bước xây dựng hệ thống vị trí chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ CBCCVC, kể cả cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý
- Hoàn thiện chế độ tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực và phẩm chất của công chức, viên chức trúng tuyển; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp sở và tương đương trở xuống
- Xây dựng cơ chế đánh giá CBCCVC theo kết quả công việc; xây dựng cơ chế trả thu nhập và khen thưởng theo kết quả hoàn thành công việc; vinh danh CBCCVC tiêu biểu
- Đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC; thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng theo các hình thức: hướng dẫn tập sự trong thời gian tập sự;
bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng làm việc theo vị trí chức danh và chuyên ngành dành cho các đối tượng công chức
- Xây dựng chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên gia trên các lĩnh vực
- Có giải pháp thiết thực nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính
và đạo đức công vụ của CBCCVC; xây dựng chế tài đối với việc thực thi công vụ của CBCCVC
Cải cách tài chính công:
- Tiếp tục cải tiến quy trình, TTHC trong quản lý ngân sách
- Nghiên cứu đổi mới cơ chế phân bổ và sử dụng ngân sách cho cơ quan
Trang 29hành chính nhà nước dựa trên kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra, mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước; nghiên cứu hình thành quỹ tiền lương nhằm tăng thu nhập cho CBCCVC
- Tiếp tục đổi mới cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động, tổ chức
bộ máy, con người, tài chính của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công theo hướng tự
chủ, công khai, minh bạch; chuyển dần các hoạt động sự nghiệp sang cơ chế có thu tự trang trải hoặc tiến hành xã hội hóa để các thành phần kinh tế khác tham gia;
từng bước xã hội hóa các hoạt động cung ứng dịch vụ công
Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong CCHC:
- Tin học hóa các quy trình công việc trong nội bộ cơ quan hành chính, trong giao dịch với các cơ quan hành chính với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động cung ứng phục vụ hành chính công, dịch vụ công
- Hệ thống một cửa điện tử được triển khai tại các sở, ban, ngành và UBND quận, huyện, UBND phường, xã; tích hợp và liên thông, liên kết đồng bộ vào cổng thông tin điện tử thành phố
1.3 Vai trò của báo chí đối với vấn đề cải cách hành chính
Trong lịch sử báo chí thế giới, dù đứng trên quan điểm nào, diễn đạt dưới hình thức nào đi nữa, các học giả đều phải thừa nhận sức mạnh của tin tức truyền thông Bất kỳ chế độ nào, giai cấp lãnh đạo nào cũng sử dụng, khai thác triệt để “lực lượng xã hội tiềm tàng” này nhằm củng cố và duy trì khả năng lãnh đạo của mình
Trong Sức mạnh của tin tức truyền thông, Michael Shudson đã đưa ra kết luận:
“Phải khẳng định rằng, tin tức liên quan đến hệ tư tưởng nhưng không phải là tư tưởng; nó liên quan đến thông tin nhưng không phải là thông tin; và nó tiềm tàng một lực lượng xã hội nhưng chỉ trên cơ sở gián tiếp mà thôi” [24, tr.15]
Báo chí có chức năng, vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội
Đó là các chức năng thông tin, chức năng tư tưởng, chức năng khai sáng - giải trí, chức năng tổ chức - quản lý, giám sát và phản biện xã hội, chức năng kinh tế - dịch
vụ Và CCHC cũng là một trong những vấn đề quan trọng trong đời sống xã hội Vì vậy, báo chí đã dành rất nhiều “đất” để thông tin, phản ánh về vấn đề này
Trang 30Chính nhờ sự vượt trội ấy mà như một lẽ tất yếu, từ chỗ chỉ phục vụ cho nhu cầu thông tin, giao tiếp, giải trí đơn thuần, báo chí ngày càng tham gia sâu hơn vào các mặt của xã hội nói chung, tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành vi của công chúng Báo chí đã trở thành một lực lượng không thể thiếu của bất kỳ quốc gia hay thể chế chính trị nào, là công cụ, vũ khí nhằm phục vụ cho mục đích của những nhà cầm quyền
Báo chí cách mạng Việt Nam là công cụ của Đảng và Nhà nước, là tiếng nói của nhân dân, hoạt động vì lợi ích của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bên cạnh nhiệm vụ thông tin, báo chí cách mạng Việt Nam còn là cầu nối giữa nhân dân với lãnh đạo Đảng, chính quyền Báo chí mang chủ trương, đường lối của Đảng
và Nhà nước phổ biến tới với nhân dân Thông qua mặt báo, sóng truyền hình, nhân dân cũng có điều kiện được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng nhằm nâng cao hơn nữa khả năng lãnh đạo và điều hành của Đảng và Nhà nước và các cấp chính quyền
Vai trò của báo chí thể hiện ở chỗ góp phần nâng cao nhận thức xã hội, giáo dục đạo đức, lối sống phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước trong sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước Mỗi người làm báo là một chiến sĩ xung kích trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, một người làm dân vận giỏi Điều đó đòi
hỏi chính những người làm báo “…cần phải óc nghĩ, mắt trông, tại nghe, chân đi,
miệng nói, tay làm chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh Họ phải thật thà nhúng tay vào việc” [25, tr.698]
“Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân” [23,
tr.7-8]
Cụ thể hơn, báo chí cách mạng Việt Nam chính là lực lượng được giao vai
trò “góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành
mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng
và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [23, tr.10-11]
Trang 31Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của công tác truyền thông đối với công cuộc CCHC ở nước ta, ngay trong Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 ban hành kèm theo quyết định số 136/2001-QĐ-TTg ngày 17/9/2001 đã đặt truyền thông là một trong năm giải pháp chủ yếu để thực hiện chương trình: “Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, nhằm phổ biến thông tin đến mọi cán bộ công chức và người dân có nhận thức đúng đắn về cải cách nền hành chính nhà nước”
Vì vậy, để đưa được các nội dung CCHC đi vào cuộc sống cần đẩy mạnh công tác truyền thông để mọi cán bộ công chức và người dân nhận thức đúng về CCHC từ đó dần thay đổi nhận thức, cải biến hành vi ứng xử khi thực hiện các công việc hành chính
Bên cạnh các phương tiện truyền thông chuyên về CCHC tại Việt Nam như website CCHC nhà nước, tờ Thông tin CCHC Nhà nước, Tạp chí Tổ chức Nhà nước của Bộ Nội vụ thì hầu hết báo chí Việt Nam từ trung ương đến địa phương đều giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về các chủ trương, chính sách CCHC của Đảng, Nhà nước, cơ quan chính quyền đến mọi cán bộ công chức
và người dân
Báo chí ngay từ những ngày đầu ra đời và theo thời gian đã khẳng định được giá trị, tầm quan trọng của mình Bắt đầu từ những hình thức sơ khai nhất, phục vụ mục đích đơn giản nhất, báo chí dần dần nâng cao vai trò và vị trí của mình Cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, thông tin trên phương tiện báo chí truyền thông trở nên nhanh chóng, đa dạng, phong phú và dễ nắm bắt hơn bao giờ hết
Ngoài những vai trò, chức năng cơ bản của báo chí, đối với vấn đề CCHC báo chí có hai vai trò quan trọng sau: Thứ nhất, báo chí thông tin, tuyên truyền, phản ánh về CCHC; Thứ hai, báo chí tham gia vào quản lý, giám sát và phản biện xã hội về các vấn đề CCHC Thông qua hoạt động của mình, báo chí giúp cho các chủ thể tiếp nhận thông tin dễ dàng tiếp cận, thay đổi nhận thức và cải biến hành vi
Trang 321.3.1 Thông tin, tuyên truyền, phản ánh về cải cách hành chính
Báo chí từ lâu đã trở thành kênh thông tin chủ yếu, phổ cập và nhanh nhạy nhất trong việc phản ánh những sự kiện xảy ra hằng ngày có ảnh hưởng đến đời sống xã hội Cùng với sự phát triển của nhân loại, nhất là trong thời đại toàn cầu hóa và bùng nổ thông tin, báo chí ngày càng đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội Thông tin do báo chí mang lại cũng ngày càng đa dạng, phong phú, nhanh nhạy và rộng rãi hơn, xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu thông tin
và nhận thức ngày càng cao của công chúng
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) “Về công tác tư tưởng, lý luận
và báo chí trước yêu cầu mới” chỉ rõ “Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu
rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới tích cực đấu tranh, góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã hội; phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng…”
Báo chí cách mạng Việt Nam từ khi ra đời là vũ khí đấu tranh cách mạng sắc bén, góp phần to lớn trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước Báo chí là công cụ của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức đoàn thể xã hội,
là diễn đàn của nhân dân “Với nội dung thông tin có định hướng đúng đắn, chân
thật, có sức thuyết phục, báo chí có khả năng hình thành dư luận xã hội, dẫn đến hành động xã hội, phù hợp với sự vận động của hiện thực theo những chiều hướng
có chủ định Báo chí không chỉ là vũ khí tư tưởng sắc bén, lợi hại mà còn là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể ” [30, tr.28-29]
Báo chí tự thân đã có chức năng thông tin Đây là chức năng cơ bản mang
tính tiên quyết Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thông tin của quần chúng càng đòi hỏi cao, đa dạng và phong phú hơn Thông tin báo chí là chất liệu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Báo chí mang thông tin đến cho người dân, giúp cho họ nắm bắt được tình hình mọi mặt của xã hội trong nước và quốc tế
Trang 33Thông qua những thông tin được đăng tải, báo chí cũng thực hiện luôn công tác tuyên truyền của mình, từng bước thay đổi nhận thức của người dân
Báo chí cung cấp thông tin và định hướng cho người dân trên tất cả các lĩnh vực, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Báo chí còn là lực lượng xung kích trong việc chống tham những, phát hiện sai phạm, tuyên dương những tấm gương tiên tiến, nổi bật, nhằm góp phần làm cho xã hội trong sạch hơn, vững mạnh hơn, góp phần hướng đến xây dựng một xã hội Việt Nam công bằng, dân chủ và văn minh hơn
Đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao nên nhu cầu thông tin của nhân dân đòi hỏi ngày càng cao hơn Báo chí ra đời là để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu thông tin giao tiếp của con người và xã hội Báo chí
không chỉ là phương tiện cung cấp thông tin, cung cấp tri thức mà còn là nơi để phản hồi những thông tin từ nhân dân đối với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng thực hiện dân chủ hóa trong đời sống xã hội
Báo chí là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện truyền thông CCHC Mục đích của báo chí trong công tác truyền thông CCHC là đăng tải các thông tin, sự kiện về vấn đề này một cách chính xác, đầy đủ và khách quan nhất
để lôi cuốn sự chú ý, gây ảnh hưởng tiến tới định hướng dư luận xã hội, đồng thời nâng cao nhận thức, cải biến hành vi dẫn đến hành động theo hướng tích cực của cán bộ công chức và người dân về các vấn đề CCHC
Thông tin về CCHC qua báo chí sẽ mang tính phổ cập, đại chúng cao nhờ đó các đối tượng quần chúng dễ tiếp cận, dễ hiểu và cũng dễ tham gia đóng góp, bày tỏ
ý kiến vào quá trình truyền thông Có thể nói rằng báo chí đã thể hiện vai trò tiên phong, tích cực và hiệu quả trong truyền thông nâng cao nhận thức của người dân
về CCHC đồng thời là kênh thông tin quan trọng giúp thực hiện CCHC hiệu quả, đúng hướng
Báo chí là công cụ thông tin tham gia tích cực vào công tác CCHC, làm cho các văn bản quy phạm pháp luật trở nên gần gũi với đời sống xã hội Trong đó, báo
Trang 34chí đăng tải toàn văn các dự án luật điều chỉnh về các mặt tổ chức và hoạt động, chế
độ công vụ, tài chính, nhân sự liên quan đến hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước lấy ý kiến của nhân dân, của các chủ thể có liên quan
Để đảm bảo thông tin về CCHC đạt hiệu quả và mục đích, báo chí cần phải cung cấp thông tin theo hai chiều thuận và ngược Chiều thông tin thuận từ chủ thể đến khách thể quản lý để truyền đi những văn bản, chỉ thị, hướng dẫn biện pháp và điều kiện để khách thể thực hiện tốt công cuộc CCHC đã đề ra Chiều thông tin này cần đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời và chính xác Thông tin ngược chiều là kênh thông tin từ khách thể lên chủ thể quản lý Trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách của cấp trên vào đời sống thực tế, các tổ chức, cá nhân và đơn vị kinh tế
có thể gặp nhiều thuận lợi, thực hiện có hiệu quả, cũng có thể có nhiều khó khăn, ách tắc cản trở công việc, thậm chí có đường lối, chủ trương của cấp trên khi thực hiện không hợp lòng dân, hiệu quả, hiệu lực kém Tất cả thực trạng này cần phải được thông báo, phản ánh và đề xuất nhanh chóng, đầy đủ, khách quan lên chủ thể quản lý để kịp thời điều chỉnh, bổ sung hoặc hủy bỏ các văn bản, chỉ thị đó [30, tr.84]
Nội dung thông tin về vấn đề CCHC trên báo chí bao gồm:
Thứ nhất, tuyên truyền chủ trường, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề CCHC;
Thứ hai, tuyên truyền các mô hình, cơ chế CCHC đang được triển khai, thí
điểm, các điển hình tiên tiến cũng như những tiêu cực, bất cập, những gương
“người xấu, việc xấu” trong công cuộc CCHC ở trung ương và địa phương;
Thứ ba, phát hiện và phân tích những bất cập trong CCHC giúp cho các cơ quan quản lý kịp thời xử lý các vi phạm, điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn;
Thứ tư, phản ánh những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, nguyên nhân cần khắc phục trong quá trình thực hiện CCHC nhà nước
Thứ năm, phản ánh những tâm tư, nguyện vọng của người dân, thay mặt người dân lên tiếng cho những hành động tiêu cực, bất cập về vấn đề CCHC
Trang 35Qua tuyên truyền, quảng bá, cổ động và tổ chức quần chúng thực hiện các chính sách về CCHC, báo chí góp phần nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc CCHC từ đó dẫn đến thái độ tự giác thực hiện
Với những đặc trưng của mình, báo chí có chức năng to lớn trong việc phản ánh sự vận động của đời sống hiện thực, tác động vào đông đảo quần chúng nhằm tạo nên định hướng xã hội tích cực trong công tác tuyên truyền CCHC ở thành phố
Luật Báo chí cũng quy định rõ, báo chí phải “Phản ánh và hướng dẫn dư
luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân Phát hiện, nêu gương người tốt việc tốt, nhân tố mới; đấu tranh phòng chống các hành vi
vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác ” [23, tr.11]
Trong xã hội hiện đại, thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng, thông qua
việc sử dụng và giám sát thông tin nên báo chí đã thể hiện được chức năng giám sát
và phản biện xã hội của mình Chức năng này thể hiện quyền lực của báo chí trong
đời sống xã hội
Để thực hiện được những chức năng nêu trên, nhằm đảm bảo cho công tác tuyên truyền, vận động của báo chí, đòi hỏi tờ báo và người làm báo phải có trách nhiệm, thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm đảm bảo cho các chức năng của báo chí
Như chúng ta đã biết, thông tin tác động trực tiếp đến đời sống xã hội, nó ảnh hưởng trực tiếp tới tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của con người, làm thay đổi nhận thức, quan niệm, thái độ và hành vi của con người, tạo ra dư luận và áp lực xã hội đối với một hiện tượng, sự kiện cụ thể Báo chí không chỉ phải trung thực, khách
Trang 36quan mà còn phải có tính định hướng, khuynh hướng và xây dựng cao Thông tin báo chí xét cho cùng là hướng tới giúp cho xã hội, con người ngày càng cao đẹp hơn Vì vậy, những thông tin dẫn đến những hậu quả trái với mục tiêu này đều là phản tuyên truyền, và cần tránh
Hệ thống báo chí nước ta từ các đài phát thanh, truyền hình, báo in, báo điện
tử là những kênh chủ yếu trong việc tuyên truyền phản ánh, đóng góp vào quá trình triển khai thực hiện CCHC với nhiều hình thức chuyển tải phong phú Đặc biệt, hệ thống báo chí nước ta còn thể hiện rõ chức năng giám sát thông qua việc phản ánh những tiêu cực, hạn chế trong bộ máy hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ công chức, những bất cập của những chính sách chưa phù hợp với thực tế cuộc sống nhằm nâng cao chất lượng CCHC
Báo chí là một kênh thông tin quan trọng, gần gũi để phản ánh tâm tư, nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, là cầu nối tin cậy giữa Đảng và nhân dân, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa văn bản chính sách và thực tế cuộc sống Báo chí
không chỉ thông tin, tuyên truyền để giáo dục nâng cao nhận thức, hiểu biết của công chúng đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề CCHC
mà còn thông tin phản hồi từ cuộc sống, tâm tư, nguyện vọng và những bức xúc của người dân
Báo chí thực hiện quá trình quản lý, giám sát và phản biện xã hội về vấn đề CCHC bằng các nội dung chủ yếu sau đây [30, tr.83-90]:
- Đăng tải, phổ biến, giải thích đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành về vấn đề CCHC đến các tổ chức, cán bộ và nhân dân
- Báo chí tích cực tham gia vào việc xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách về vấn đề CCHC của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành trong
xã hội Báo chí đã đưa lên mặt báo những ý kiến chân thành, thẳng thắn, xây dựng
và đầy tinh thần trách nhiệm của nhân dân về vấn đề CCHC để từ đó giúp cho Đảng, Nhà nước hoàn thiện đường lối, chính sách, phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân
- Báo chí kịp thời phản ánh, phân tích bám sát tình hình thực tế từ cơ sở để
Trang 37phát hiện những vấn đề mới nảy sinh, cùng nhân dân đề xuất sáng kiến, kiến nghị
và giải pháp cùng giải quyết các vấn đề đó Báo chí thông tin kịp thời và phân tích sâu sắc những sự kiện mới, phát hiện và phản ánh trung thực những điển hình tiên tiến, nhiệt tình ủng hộ, cổ vũ những nhân tố mới; dũng cảm đấu tranh chống những hiện tượng trì trệ, đề cập và chỉ ra phương hướng giải quyết những vấn đề thiết thực của CCHC Qua thực tiễn hoạt động, báo chí giúp phát hiện, phê phán, phanh phui các trường hợp cán bộ nhũng nhiễu dân, các cơ quan, đơn vị chậm cải cách, hành dân… còn tồn tại trong hoạt động CCHC
Với vai trò là diễn đàn của nhân dân, báo chí là địa chỉ tin cậy để người dân phát biểu ý kiến, tâm tư, nguyện vọng, có những phản hồi về những chủ trương, đường lối, chính sách CCHC của Đảng và Nhà nước nói chung và của thành phố Đà Nẵng nói riêng khi áp dụng vào thực tế cuộc sống xem nó có những thuận lợi hay khó khăn gì để từ đó đưa ra những quyết sách cho phù hợp Điều này nhằm nâng cao tính dân chủ và tính tự giác của quần chúng khi tham gia vào công tác CCHC
Báo chí là diễn đàn để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tham gia bàn thảo các quyết sách về các vấn đề CCHC Báo chí
cùng với nhân dân đề xuất sáng kiến, đưa ra kiến nghị, giải pháp cho hoạt động quản lý các vấn đề về CCHC hiệu quả hơn Báo chí không chỉ nêu thuận lợi, khó khăn, phê phán mà điều quan trọng hơn là đưa ra được sáng kiến, giải pháp gì để khắc phục khó khăn đó
Kiểm tra, giám sát là một bộ phận quan trọng trong quá trình quản lý của báo chí Trước hết, báo chí kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chính sách về CCHC trong thực tiễn của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân Báo chí phát hiện và công bố kịp thời những sai lầm, khuyết điểm, những khó khăn, ách tắc trong việc chỉ đạo và thực hiện các quyết định quản lý Kết quả hoạt động kiểm tra, giám sát của báo chí là nguồn thông tin quan trọng giúp các cơ quan lãnh đạo và các cấp
có thẩm quyền kịp thời quyết định, bổ sung hoặc điều chỉnh hoạt động của chính mình và các cơ quan, tổ chức cấp dưới Mặt khác, nguồn thông tin đó trực tiếp tác động tới các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân vi phạm pháp luật, có khuyết điểm, giúp
Trang 38họ nhận thức được thiếu sót để tự điều chỉnh hoặc trong trường hợp cần thiết sẽ tạo nên áp lực xã hội buộc họ phải sửa chữa
Công chúng không chỉ muốn tiếp nhận thông tin từ báo chí một cách thụ động, mà còn tương tác, phản hồi thông tin mạnh mẽ Từ đó, môi trường của sự
giám sát, phản biện xã hội trong báo chí và dư luận xã hội sẽ trở nên lành mạnh và hiệu quả hơn Thông qua báo chí, người dân có thể phát biểu ý kiến, nguyện vọng của mình về các vấn đề CCHC, qua đó, thể hiện sự giám sát và phản biện xã hội của mình Bám sát sự kiện, thông tin nhanh nhạy, phân tích trúng vấn đề trọng điểm và định hướng tư tưởng, hướng dẫn dư luận rõ ràng, các cơ quan thông tấn, báo chí đã thực hiện tốt chức năng phản biện, mang lại hiệu quả xã hội rõ rệt Bởi thế, vai trò, chức năng phản biện của báo chí ngày càng được khẳng định và niềm tin của công chúng đối với cơ quan truyền thông cũng được nâng lên
Tiểu kết Chương 1
CCHC được xác định là yêu cầu cấp bách, và là một trong những nhiệm vụ mang tầm chiến lược trong công cuộc đổi mới được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Hòa trong dòng chảy chung của đất nước, thành phố Đà Nẵng cũng không ngừng phát triển và có nhiều đột phá trong công tác CCHC Với những nỗ lực không ngừng của toàn thể chính quyền, nhân dân, bên cạnh những tồn tại hạn chế cần sớm khắc phục, công cuộc CCHC của thành phố Đà Nẵng trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả khả quan, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của CCHC, là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và không ít khó khăn, lãnh đạo Đà Nẵng đã đề ra yêu cầu cần phải thực hiện ngay, thực hiện thường xuyên và liên tục đẩy mạnh việc truyền thông CCHC trên báo chí CCHC đòi hỏi sự đổi mới sâu sắc trong tư duy, nhâ ̣n thức và tổ chức thực hiê ̣n cải cách không chỉ của các cơ quan chức năng mà cả từ nhâ ̣n thức của từng công dân Hệ thống báo chí trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ các đài phát thanh, truyền hình, báo in, báo điện tử là những kênh chủ yếu trong việc tuyên
Trang 39truyền phản ánh đã có nhiều đóng góp vào quá trình triển khai thực hiện CCHC với nhiều hình thức chuyển tải phong phú
“Muốn hoạt động báo chí có hiệu quả thì nhất thiết người làm báo phải biết
đến công chúng của mình, coi họ như đối tượng phục vụ đặc biệt, đồng thời qua họ
để biết những nhu cầu thông tin mà họ cần, từ đó có biện pháp thực sự đáp ứng mối quan tâm của công chúng” [30, tr.182]
Với những vai trò quan trọng của mình , báo chí chính là mô ̣t trong những phương tiê ̣n đáp ứng mô ̣t các h hiê ̣u quả nhu cầu hiểu biết của cán bô ̣ , công chức và mọi tầng lớp nhân dân về những kiến thức cơ bản của Chương trình CCHC , góp phần nâng cao dân trí , thúc đẩy sự phát triển ngày một bền vững của đất nước nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng
Những lý luận chung về CCHC và vai trò của báo chí đối với vấn đề CCHC
nêu ở Chương 1 là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu “Thực trạng vấn đề
CCHC của thành phố Đà Nẵng trên báo chí hiện nay” ở chương tiếp theo
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY
2.1 Tần suất, mức độ phản ánh
Để có được cái nhìn toàn diện về quá trình truyền thông CCHC ở thành phố Đà
Nẵng trên báo chí hiện nay, chúng tôi tiến hành khảo sát bài đăng trên báo Đà Nẵng và
Chương trình CCHC của DRT trong khoảng thời gian bắt đầu của chương trình tổng
thể CCHC giai đoạn 2011-2020, từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013
Từ kết quả khảo sát ý kiến của người dân sinh sống trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng về số lượng tin, bài CCHC của thành phố trên báo chí, có thể khẳng định
báo Đà Nẵng và Chương trình CCHC của DRT đã dành “đất” và thời lượng để
đăng tải, phát sóng tin bài cũng như các chương trình đến người dân nắm bắt thông tin một cách nhanh nhất, chính xác nhất, chính vì vậy mà tần suất, mức độ chuyển tải thông tin là khá cao, phần nào đáp ứng được nhu cầu thông tin của người dân về vấn đề này (Xem thêm Phụ lục 2) Qua đó thể hiện sự quan tâm của các cơ quan chức năng thành phố, đặc biệt là ban biên tập cơ quan báo đài của địa phương đã có những chỉ đạo kịp thời trong việc cập nhật, chuyển tải thông tin về vấn đề CCHC của thành phố Đà Nẵng đến với độc giả
2.1.1 Trên báo Đà Nẵng
Trong năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013, Báo Đà Nẵng đăng 14.334 tin,
bài (7.870 tin, 6.464 bài) Trong số đó có 435 tin, bài về vấn đề CCHC (123 tin, 312 bài) chiếm 3% Cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Vấn đề CCHC trên báo Đà Nẵng năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013
theo nội dung CCHC
Nội dung Số lượng Tỉ lệ (%)