1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến biến động sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

11 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến biến động sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân trên địa bàn huyện Kiến Thụy, Thành phố Hải Phòng
Tác giả Lờ Thị Lan
Trường học Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Chuyên ngành Khoa Học Môi Trường
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 379,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến biến động sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng đánh giá được các ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đối với sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân tại khu vực nghiên cứu trên địa bàn huyện Kiến Thụy - khu vực ven đô có tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ của thành phố Hải Phòng.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỜI SỐNG CỦA

NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIẾN THỤY,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Lê Thị Lan

Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Tóm tắt

Đô thị hóa là xu thế phát triển của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung này Hiện nay, đô thị hóa ở nước

ta diễn ra với tốc độ nhanh và mạnh trên khắp các vùng của cả nước Quá trình đô thị hóa không chỉ xảy ra ở những khu vực đô thị, mà thực tế sự hiện diện của đô thị hóa còn diễn ra mạnh mẽ ở những khu vực nông thôn và khu vực ven đô Bên cạnh những mặt tích cực của quá trình đô thị hóa thì đô thị hóa quá nhanh, thiếu quy hoạch đồng bộ sẽ nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực Thông qua điều tra 375 hộ dân có biến động sử dụng đất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu và số liệu điều tra thứ cấp, nghiên cứu đã đánh giá được các ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đối với sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân tại khu vực nghiên cứu trên địa bàn huyện Kiến Thụy - khu vực ven đô có tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ của thành phố Hải Phòng.

Từ khóa: Đô thị hóa; Biến động sử dụng đất; Sử dụng đất nông nghiệp.

Abstract

Research on the impact of the urbanization process to changes in agricultural land use and

life of people in Kien Thuy district, Hai phong city

Urbanization is the development trend of any country in the world in the era of industrial revolution 4.0 Vietnam is no exception to this general rule At present, urbanization in our country is taking place at a fast and strong speed across all regions of the country The process of urbanization does not only occur in urban areas, but in fact the presence of urbanization also takes place strongly in rural areas and peri-urban areas Besides the positive aspects of the urbanization process, too fast urbanization and lack of synchronous planning will cause many negative problems Through surveying 375 households with changes in agricultural land use in the study area and secondary survey data, the study assessed the effects of urbanization on agricultural land use And the lives of people in the study area in Kien Thuy district - the peri-urban area with a strong urbanization rate of Hai Phong city.

Keywords: Urbanization; Land use change; Agricultural land use.

1 Đặt vấn đề

Đô thị hóa là xu thế phát triển của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung này Hiện nay, đô thị hóa ở nước

ta diễn ra với tốc độ nhanh và mạnh trên khắp các vùng của cả nước Quá trình đô thị hóa không chỉ xảy ra ở những khu vực được coi là đô thị, trên thực tế, sự hiện diện của đô thị hóa còn diễn

ra mạnh mẽ ở những khu vực không phải là không gian đô thị, mà ở cả khu vực nông thôn và khu vực ven đô [1]

Quá trình đô thị hóa góp phần nâng cao chất lượng đời sống, lao động của nhân dân, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn - thành thị và khoảng cách giữa các vùng, miền trên cả nước Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động,

Trang 2

thay đổi sự phân bố dân cư [2] Các đô thị không chỉ là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động mà còn là nơi tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kỹ thuật hạ tầng hiện đại có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài

Bên cạnh những mặt tích cực của quá trình đô thị hóa như trên thì đô thị hóa quá nhanh, thiếu quy hoạch đồng bộ sẽ nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực [1] Sau hơn ba mươi năm đổi mới, quá trình đô thị hóa đã dẫn đến việc thu hồi một diện tích lớn đất nông nghiệp sử dụng cho mục đích xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu đô thị mới và nhiều dự án phi nông nghiệp khác Quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp, vấn đề việc làm cho nông dân bị mất đất, an ninh lương thực, tệ nạn xã hội, phân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường,… Vậy làm thế nào để khai thác, sử dụng và bảo vệ quỹ đất nông nghiệp - nguồn tài nguyên hữu hạn, quý giá của quốc gia một cách hiệu quả nhất trong quá trình đô thị hóa là bài toán rất quan trọng được Đảng, Nhà nước và các cấp quan tâm, chú trọng Vì vậy, việc nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa tới biến động sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân tại các địa phương đặc biệt là các vùng ven đô là rất cần thiết để từ đó có cái nhìn tổng quan về ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa của từng khu vực đến

sử dụng đất nông nghiệp trợ giúp các nhà quản lý và quy hoạch đưa ra quyết định sử dụng đất một cách hiệu quả, tiết kiệm và bền vững

Thành phố Hải Phòng là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc Trong đó, huyện Kiến Thụy là khu vực ven đô ở phía Đông Nam thành phố Hải Phòng, có diện tích 102,56 km², dân số năm 2020 là 153.187 người Với vị trí cách trung tâm thành phố 20 km, vừa có tuyến đường Quốc lộ 353 đi qua, vừa có đường Quốc lộ Hà Nội - Hải Phòng mới đang xây dựng chạy qua, huyện có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội [10] Cùng với

đó, quá trình đô thị hóa càng làm huyện Kiến Thụy đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển chung của thành phố Hải Phòng Thật vậy, trong vòng 5 năm (2016 - 2021), nền kinh tế của huyện Kiến Thụy đã có những bước tiến rõ rệt Tuy nhiên, những kết quả mà huyện đạt được vẫn có thể tốt hơn nữa nếu biết phát huy hết tiềm năng vốn có Do vậy mà việc đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến chuyển đổi sử dụng đất là rất quan trọng

2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1 Quan điểm về đô thị hóa

Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị, đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số Quá trình đô thị hóa tác động phát triển kinh tế - xã hội ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực Đô thị hóa tác động tới nhiều vấn đề trong quá trình phát triển đô thị, thể hiện qua những khía cạnh sau:

- Chuyển dịch cơ cấu ngành;

- Chuyển dịch cơ cấu lao động;

- Tác động của đô thị hóa đến cơ sở hạ tầng - kỹ thuật;

- Tác động tới lối sống, chất lượng cuộc sống của người dân;

- Đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất

Trang 3

Tác động của quá trình đô thị hóa tới biến động sử dụng đất:

Thứ nhất: Quá trình đô thị hóa dẫn đến thay đổi về cơ cấu sử dụng đất theo hướng giảm mạnh

về diện tích đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng và đồng thời tăng nhanh về diện tích đất chuyên dùng, đất đô thị

Thứ hai: Quá trình đô thị hóa là nguyên nhân chính dẫn tới việc hình thành và thay đổi đất

đô thị Đất đai đô thị còn tiếp tục gia tăng trong quá trình đô thị hóa theo mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ ba: Đô thị hóa thúc đẩy quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất tăng cao, đặc biệt là

ở các khu vực ven đô (Đất nông nghiệp chuyển sang đất đô thị, đất xây dựng và đất chuyên dụng khác) [5]

2.2 Tình hình đô thị hóa diễn ra trên thế giới và ở Việt Nam

Tiến trình đô thị hóa (ĐTH) gắn bó chặt chẽ với sự trường tồn phát triển của lịch sử nhân loại Quá trình này mới là sản phẩm của nền văn minh, vừa là động lực của những bước tiến kỳ diệu mà nhân loại đã đạt được trong mấy thiên nhiên kỷ qua Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp truyền thống với nền đô thị hóa thấp và chậm trong lịch sử đang bước vào thời kỳ mới của nền kinh tế thị trường, thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH), việc nghiên cứu tìm hiểu diễn biến của quá trình ĐTH thế giới càng có ý nghĩa to lớn cả về mặt nhận thức, lý luận cũng như giá trị thực tiễn

2.2.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới

ĐTH là hiện tượng mang tính toàn cầu và diễn ra với tốc độ ngày một tăng, đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển Theo các chuyên gia nghiên cứu về ĐTH thì trong tiến trình ĐTH nửa sau thế kỷ XX, các quốc gia kém phát triển có chung một đặc điểm là: Ở giai đoạn đầu, tỷ trọng dân

số đô thị trên tổng dân số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị nhanh, nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển [4]

Bảng 1 Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các năm

Đơn vị tính: %

Năm

(Nguồn: World Urbanization prospect: 1996, New York 1997 )

Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỷ lệ dân số đô thị toàn thế giới là

từ 29,7 % lên đến 47,4 %, khu vực kém phát triển từ 7,1 % lên 25,4 % trong khi khu vực phát triển

là từ 54,99 % lên 76,1 %

Vào thập niên 90, tỷ lệ ĐTH châu Á là 35 %, châu Âu là 75 %, châu Phi là 45 %, Bắc Mỹ trên 90 % và 80 % ở Mỹ Latinh Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong ¼ thế kỷ tới, việc tăng dân

số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố mà phần lớn thuộc các nước kém phát triển Dự báo đến năm 2030, hơn 60 % dân số thế giới sống ở các đô thị (Hình 1)

Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH - HĐH, song sự bùng nổ

đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc sống con người, tạo ra sự thiếu cân

Trang 4

bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô tiêu hao nhiên liệu, năng lượng, Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm 2025

Hình 1: Tỷ lệ dân số đô thị theo khu vực

(Nguồn: World Urbanization Prospects 2018) 2.2.2 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam

Tại Việt Nam, trong khoảng 10 năm trở lại đây, chúng ta đã chứng kiến quá trình đô thị hóa

đã diễn ra rất mạnh mẽ tại các đô thị lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,… chính điều này đã tạo ra một hiệu ứng tích cực thúc đẩy đô thị hóa nhanh lan toả diện rộng trên phạm vi

cả nước Có khá nhiều đô thị mới, khu đô thị mới được hình thành; Nhiều đô thị cũ được cải tạo, nâng cấp hạ tầng cơ sở,…

Nhìn một cách tổng quan về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy, hệ thống

đô thị ở nước ta đã có bước phát triển nhanh chóng Tỷ lệ đô thị hóa tăng nhanh từ 19,6 % với 629

đô thị năm 2009 lên khoảng 39,3 % với 833 đô thị năm 2021 Tốc độ tăng trưởng đô thị nhanh nhất

là ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là đến các tỉnh Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ

Số đô thị của cả nước đã tăng lên con số 833 tính đến tháng 6 tháng đầu năm 2021, bao gồm

2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, 22 đô thị loại I, 31 đô thị loại II, 48 đô thị loại III,

88 đô thị loại IV và 652 đô thị loại V Tỷ lệ đô thị hóa cả nước ước đến cuối năm 2021 đạt khoảng

40 % [11]

Việt Nam cũng là một trong số các quốc gia có mật độ dân số cao so với các nước khác thế giới và trong khu vực với 290 người/km2 tăng 31 người/km2 so với năm 2009 Hai địa phương có mật độ dân số cao nhất cả nước đó là Hà Nội với 2.398 người/km2 và mật độ dân số TP Hồ Chí Minh, sau đó là đến các tỉnh Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ [11]

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp điều tra cơ bản

Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản của Krejcie và Morgan (1970) để lựa chọn các hộ sử dụng đất tham gia phỏng vấn [12]

Theo số liệu điều tra, tính đến năm 2021, tổng số hộ của 02 xã là điểm nghiên cứu là xã Tú Sơn và thị trấn Núi Đối là 6.937 hộ dân Như vậy theo bảng kích cỡ mẫu của Krejcie và Morgan,

số phiếu điều tra cần thu thập là 360 phiếu Chia đều cho các khu vực, mỗi xã, thị trấn sẽ điều tra

180 phiếu

Trang 5

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Số liệu thứ cấp được thu thập từ các phòng, ban, ngành của địa bàn huyện, các nguồn tài liệu từ sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến quá trình đô thị hóa,

sự biến động đất đai và vấn đề đời sống, sinh kế người dân

- Số liệu sơ cấp được thu thập từ việc điều tra thực tế thực trạng quá trình đô thị hóa diễn ra trên địa bàn và những ảnh hưởng của các quá trình này tới các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó

có vấn đề sử dụng đất, biến động sử dụng đất đai và đời sống của người dân trong quá trình đô thị hóa thông qua phỏng vấn, điều tra thực tế người dân bằng mẫu đánh giá

2.3.3 Phương pháp xử lý kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu

Các số liệu sau khi thu thập được, tiến hành xử lý, tổng hợp và phân tích để đưa ra kết quả nghiên cứu về các tác động của đô thị hóa đến sử dụng đất và đời sống của người dân là tiêu cực hay tích cực

2.3.4 Phương pháp phân tích mức độ tác động

Sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu kết quả điều tra để tính toán các chỉ tiêu và so sánh

sự thay đổi về mọi mặt của đời sống người dân trên địa bàn nghiên cứu trước và sau khi đô thị hóa Từ đó đưa ra kết luận về tác động của đô thị hóa đến đời sống của người dân trong khu vực

2.3.5 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến các chuyên gia, các cán bộ lãnh đạo các cấp về đời sống người dân sau khi

có biến động sử dụng đất, thu hồi đất, xin ý kiến về các giải pháp và mong muốn, nguyện vọng của người dân để nắm bắt tình hình rộng hơn so nội dung các phiếu điều tra

- Phỏng vấn cán bộ xã, thôn và cán bộ địa chính 02 xã, thị trấn

2.3.6 Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của người dân (PRA)

- Dựa trên số lượng mẫu điều tra đã được xác định, tiến hành xây dựng bảng câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp người dân về các tác động của đô thị hóa đến biến động sử dụng đất nông nghiệp và đến đời sống của người dân

3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1 Khái quát quá trình đô thị hóa khu vực nghiên cứu

Trong phương án quy hoạch phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, Kiến Thụy được xác định là đô thị vệ tinh và vùng phụ cận quan trọng trong chiến lược phát triển Từ nền kinh tế thuần nông, với những nỗ lực phát triển nuôi trồng thủy sản, trồng trọt và xây dựng cơ sở hạ tầng trong đó đặc biệt phát triển hệ thống giao thông, ưu đãi các doanh nghiệp đầu tư công nghiệp trên địa bàn mà đời sống của người dân trên địa bàn huyện ngày được nâng cao Trong những năm qua,

tỷ trọng GDP của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch - dịch vụ tăng mạnh Với chủ trương của thành phố là xây dựng đường tỉnh lộ 353 với các cụm, khu công nghiệp dọc tuyến đường này

và phát triển khu đô thị phía Nam thành phố, những năm qua quá trình đô thị hóa đã tác động mạnh

mẽ đến đời sống kinh tế - xã hội huyện Kiến Thụy

3.2 Hiện trạng đất nông nghiệp và sự chuyển dịch đất nông nghiệp do đô thị hóa

Trong những năm qua, cùng với sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; Cơ cấu sử dụng các loại đất trên địa bàn huyện đã có những thay đổi đáng kể Tỷ lệ đất nông nghiệp tăng từ 59,54 % năm 2016 lên 59,88 % vào năm 2021, diện tích đất

Trang 6

nông nghiệp tăng lên do khai thác đất đất chưa sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp và diện tích đất mặt nước vào nuôi trồng thủy sản; Tỷ lệ các loại đất phi nông nghiệp giảm từ 39,89 % năm

2016 lên 39,79 % năm 2021 Đất chưa sử dụng giảm từ 0,57 % năm 2016 xuống 0,33 % năm 2021

3.3 Đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp

3.3.1 Khái quát các xã điều tra

Trong số 18 đơn vị hành chính của huyện Kiến Thụy bao gồm thị trấn Núi Đối và 17 xã thì

xã Tú Sơn và thị trấn Núi Đối là các xã điển hình của huyện có tốc độ đô thị hóa khá cao, đều có một phần lớn diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp Các xã có các đặc điểm cơ bản sau:

- Xã Tú Sơn: Nằm ở phía Nam của thành phố Hải Phòng, nằm phía Đông Nam của huyện Kiến Thụy, cách trung tâm huyện 8 km Xã Tú Sơn nằm ở vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội, nằm giáp với quận Đồ Sơn, đồng thời có 01 tuyến đường bộ ven biển, tỉnh lộ 361 và huyện lộ

403 đi qua Đất của xã Tú Sơn được hình thành do bồi tích của Biển Đông, nằm trên nền biển nông, nước ngầm mặn, tầng sú vẹt tăng theo mức độ chiều sâu Trong những năm gần đây, Tú Sơn đã

có những bước chuyển đổi tích cực nâng cao mức sống của người dân Từ một xã thuần nông, cơ cấu kinh tế của xã đã chuyển dần sang công nghiệp và thương nghiệp Trong những năm gần đây

do phát triển công nghiệp đô thị, đất nông nghiệp của nhân dân đã được thu hồi vào các dự án [7]

- Thị Trấn Núi Đối: Có quy mô diện tích là 660,18 ha; Tổng dân số hiện có là 12.255 người,

nằm dọc theo hai bên bờ sông Đa Độ Có một con đường bắc ngang qua sông nối liền hai phía của thị trấn, gọi là đường Tắc Giang Thị trấn Núi Đối là nơi có tốc độ đô thị hóa nhanh trong những năm qua, làm cho bộ mặt đô thị có nhiều thay đổi [6]

3.3.2 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên địa bàn xã Tú Sơn

và thị trấn Núi Đối Dưới ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và xu thế phát triển chung của huyện, cơ cấu kinh tế của khu vực nghiên cứu đã có những bước chuyển dịch đáng kể,

sự chuyển dịch theo xu hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, được thể hiện qua Bảng 2

Bảng 2 Cơ cấu kinh tế khu vực nghiên cứu giai đoạn 2016 - 2021

TT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2016 Năm 2021 Năm 2016 so với năm 2021

Cơ cấu kinh tế xã Tú Sơn

2 Tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ Tỷ đồng 295,00 405,28 + 110,28

Cơ cấu kinh tế thị trấn Núi Đối

Trang 7

TT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2016 Năm 2021 Năm 2016 so với năm 2021

(Nguồn: Niên giám Thống kê huyện Kiến Thụy) 3.3.3 Tình hình biến động dân cư

Tình hình biến động dân cư trên địa bàn xã Tú Sơn và thị trấn Núi Đối giai đoạn 2016 - 2021 được thể hiện theo Bảng 3

Bảng 3 Biến động dân cư xã Tú Sơn và thị trấn Núi Đối giai đoạn 2016 - 2021

(ĐVT: người)

(Nguồn: Niên giám Thống kê huyện Kiến Thụy)

Qua Bảng 3 cho thấy dưới ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa làm gia tăng rất nhanh dân số trên địa bàn khu vực nghiên cứu Vấn đề tăng dân số do quá trình nhập cư đã nảy sinh một số bất cập trong quá trình quản lý, các tệ nạn xã hội xảy ra gây ảnh hưởng đến đời sống

và việc làm của nhân dân

3.3.4 Hiện trạng sử dụng đất năm 2021 và biến động đất đai giai đoạn 2016 - 2021 của khu vực nghiên cứu

a Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2021: Đất nông nghiệp xã Tú Sơn là 430,07 ha giảm 16,7 % còn 358,03 ha so với năm 2016; Thị trấn Núi Đối là 386,24 ha giảm 20,2 % còn 308,2 ha Diện tích giảm chủ yếu là đất trồng lúa Như vậy có thể thấy trong giai đoạn 05 năm, do ảnh hưởng của

đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp của khu vực giảm mạnh

b Tác động đến đất nông nghiệp

Nguồn lực đất đai của hộ nông dân gồm có đất sản xuất nông nghiệp và đất ở, trong khi nguồn lực đất sản xuất nông nghiệp có vai trò là tư liệu sản xuất quan trọng trong kinh tế của hộ nông dân Tuy nhiên diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm dần trong giai đoạn 2016 - 2021 Năm 2021,

xã Tú Sơn có diện tích đất sản xuất nông nghiệp còn lại là 2.658 ha giảm 71,39 ha so với năm 2016 (337,19 ha), bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ giảm từ 1.153,18 m2 năm 2016

xuống còn 757,69 m2 năm 2021 Năm 2021, thị trấn Núi Đối có diện tích sản xuất nông nghiệp còn là 286,13 ha giảm 78,04 ha so với năm 2021, bình quân diện tích sản xuất nông nghiệp của hộ giảm từ 1.332,97 m2 (2021) xuống còn 834,44 m2 do việc chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp sang đất

ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất xây dựng các công trình công cộng, công trình phục

vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

3.4 Đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến đời sống người dân

3.4.1 Cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp

Trong những năm qua trên địa bàn, diện tích trồng rau màu theo hướng chuyên canh tăng lên, chuyển sang trồng những giống rau mới, cho năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu thị trường về rau sạch và đảm bảo chất lượng; Diện tích đất vườn tạp giảm nhiều Chăn nuôi có xu hướng chuyển dịch sang chăn nuôi gia cầm tập trung, hình thành các trang trại gia cầm

Trang 8

mới theo hướng áp dụng khoa học - kĩ thuật, sử dụng công nghệ hiện đại trong chăn nuôi gia cầm Những tác động trên của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đến cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã cho thấy việc khai thác tiềm năng đất nông nghiệp để đưa vào phát triển, sản xuất ngày càng hợp

lý, góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, đưa nền kinh tế ngày càng đi lên, phát triển thịnh vượng

3.4.2 Tác động đến kinh tế nông hộ

Yếu tố thu nhập của hộ nông dân bao gồm: Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp Yếu tố này sẽ phản ánh mức sống, mức độ tiêu dùng của người dân cho cuộc sống sinh hoạt và sản xuất

Bảng 4 Thu nhập bình quân đầu người của hộ nông dân giai đoạn 2016 - 2021

Các chỉ tiêu ĐVT Năm 2016 Năm 2021 Năm 2021 so với năm 2016

A Xã Tú Sơn

Thu nhập bình quân đầu người/năm Triệu đồng 41,12 47,35 + 6,23

B Thị trấn Núi Đối

Thu nhập bình quân đầu người/năm Triệu đồng 43.0 51,22 + 8,22

(Nguồn: Niên giám Thống kê huyện Kiến Thụy)

Qua bảng trên cho thấy, thu nhập bình quân đầu người của hộ nông dân giai đoạn 2016 -

2021 có chiều hướng tăng dần Thu nhập bình quân tăng phản ánh mức sống của hộ tăng, chất lượng đời sống người dân được cải thiện hơn theo sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội Tỷ lệ

hộ nghèo của xã Tú Sơn và thị trấn Núi Đối có xu hướng giảm dần theo các năm Trong giai đoạn

2016 - 2021, theo xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và địa bàn xã, thị trấn nói riêng, thành phần lao động và cơ cấu nghề nghiệp của lao động của hộ đã có biến động rất lớn theo xu hướng lao động làm nghề nông nghiệp giảm dần và lao động làm các nghề phi nông nghiệp gia tăng Thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp của hộ đang mang lại mức thu nhập tương đối và đang dần trở thành nguồn thu nhập đóng vai trò quan trọng trong thu nhập nói chung của hộ nông dân

3.4.3 An ninh, trật tự xã hội của người dân

Trước những thay đổi về kinh tế - xã hội, đời sống tinh thần của hộ nông dân trên địa bàn thị trấn được nâng cao, việc hội nhập, giao lưu và thông thương với nhiều người dân ở các vùng lân cận giúp cho người nông dân tiếp cận với nhiều điều mới lạ Trình độ và nhận thức của người dân cao hơn Người dân được tiếp cận với khoa học kỹ thuật, làm việc có năng suất, chất lượng hơn, chính vì thế nguồn thu nhập mang lại cao hơn Mức độ chi tiêu cũng tăng lên, việc chi tiêu hợp lý hơn, tỷ lệ chi tiêu cho nhà cửa, thiết bị đồ dùng tăng lên Bên cạnh những điểm tiến bộ, tích cực thì nhiều điểm tiêu cực đã xuất hiện và tồn tại trong đời sống của con người và điều này được phản ánh rõ nét nhất qua các vấn đề tệ nạn xã hội Tuy nhiên công tác an ninh trật tự luôn được các cấp lãnh đạo thị trấn và tổ dân quân tại các khu dân cư ngăn ngừa phòng chống tệ nạn xã hội Kết quả điều tra về tác động của đô thị hóa đến tình hình trật tư, an ninh của 375 hộ dân trên địa bàn khu vực nghiên cứu cho thấy đa số người dân đều cho rằng đô thị hóa có tác động tốt hơn đối với an ninh, trật tự xã hội

Trang 9

3.4.4 Giá trị quyền sử dụng đất

Theo kết quả điều tra thực tế và phỏng vấn nông hộ tại khu vực nghiên cứu, nhu cầu về đất

ở và kinh doanh dịch vụ tăng cao, cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp đã làm cho giá đất tại các

xã, thị trấn nói riêng và thành phố nói chung có sự thay đổi mạnh mẽ Năm 2021, tại xã Tú Sơn giá đất trung bình dao động từ 18 - 26 triệu đồng/m2, tại thị trấn Núi Đối có giá từ 38 - 45 triệu đồng/

m2 Tuy nhiên ở những vị trí đất thuận lợi như gần khu thương mại dịch vụ, khu đông dân cư hoặc nằm trên các trục đường giao thông chính,… thì giá đất cao hơn, đặc biệt là đất ở

Trên toàn thành phố từ khi có các dự án đầu tư xây dựng khu chất lượng cao, hạ tầng khu công nghiệp và một số tuyến đường trọng điểm đi qua địa bàn thành phố đã làm cho giá đất nhất là ở các khu vực liền kề tăng lên nhanh chóng Khi giá đất tăng cao nhiều nông hộ có nhu cầu chuyển nhượng đất đã mang lại một phần thu nhập nhất định, cùng với số tiền đền bù nhận được khi nhà nước thu hồi đất, họ đã xây dựng, mua sắm vật dụng tiện nghi,… làm cho chất lượng cuộc sống tăng lên

Như vậy quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp có tác động mạnh

mẽ tới giá trị quyền sử dụng đất của nông hộ Không chỉ làm cho giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) tăng mà còn xuất hiện nhiều hình thức cho thuê QSDĐ, thuê nhà,… cũng tăng

cả về nhu cầu lẫn giá cả

3.4.5 Tác động đến môi trường

Theo số liệu điều tra đối với 375 trường hợp sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu, đa phần người dân cho rằng quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường: Vấn đề rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp ở địa phương đã được thu gom hàng ngày tuy nhiên tình trạng vệ sinh môi trường không đảm bảo là do hầu hết các khu dân cư đều sử dụng

hệ thống mương hở, nước thải sinh hoạt không được xử lý gây ô nhiễm môi trường

Đồng thời qua các số liệu thu thập từ các báo cáo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường huyện Kiến Thụy: Các khu công nghiệp, thương mại dịch vụ, các công ty và cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn nghiên cứu đều có khu vực chứa rác thải, xây dựng các đường dẫn nước thải về một nơi tập trung để xử lý Ở các khu dân cư tập trung, do mật độ dân số đông nên phần nào cũng gây ra tác động xấu đến môi trường khi hàng ngày một lượng lớn rác thải sinh hoạt được thải ra Tuy vậy do công tác thu gom rác thải được quan tâm nên nhìn chung môi trường sống và sản xuất của người dân vẫn ở mức độ không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, cụ thể:

- Về môi trường sản xuất: Theo các kết quả kiểm tra cho thấy, nồng độ các chất ô nhiễm (As,

Pb, Cu, Zn, COD,…) đều không vượt quá giới hạn cho phép, đảm bảo điều kiện cho sản xuất

- Về môi trường sinh hoạt: Hiện nay, 100 % dân số khu vực nghiên cứu đã được sử dụng

nước sạch đảm bảo an toàn hợp vệ sinh Tuy nhiên, lượng rác thải hàng ngày từ sinh hoạt là rất lớn, cần tuyên truyền vận động người dân có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường để môi trường sống được tốt hơn

- Về khói bụi, tiếng ồn: Thực tế hiện nay trên địa bàn huyện Kiến Thụy được đầu tư xây dựng

nhiều công trình (Xây dựng nhà ở, mở rộng đường, kè bờ sông,…), các xe vận chuyển vật liệu xây dựng cho các công trình này đều đi qua trên địa bàn khu vực nghiên cứu Vì vậy, cũng có một phần ảnh hưởng do khói bụi, tiếng ồn đến sinh hoạt của người dân

3.5 Đánh giá chung về những tác động của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn khu vực nghiên cứu

Thông qua việc điều tra đối với 375 trường hợp sử dụng đất trên địa bàn có liên quan đến biến động sử dụng đất nông nghiệp và kết hợp với số liệu thứ cấp thu thập được, cho thấy quá trình

Trang 10

đô thị hóa đã có những ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân cả về tiêu tực và tích cực, cụ thể như sau:

- Tiêu cực: Đô thị hóa trong khu vực gây sụt giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp, ô

nhiễm môi trường và gia tăng các tệ nạn xã hội do quá trình đô thị hóa quá nhanh

- Tích cực: Đời sống vật chất, tinh thần, thu nhập và trình độ của người dân đã nâng cao rõ rệt

Mặc dù diện tích đất nông nghiệp sụt giảm nhưng năng suất và sản lượng cây trồng vẫn tăng cao do bà con đã biết kết hợp các kỹ thuật tiên tiến và mô hình chuyên canh cây trồng

3.6 Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất và nâng cao đời sống của người dân

3.6.1 Giải pháp về chính sách

Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu, nâng cao hiệu quả phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái, tập trung đầu tư một số mô hình sản xuất rau an toàn, trồng cây ăn quả gắn với phát triển dịch vụ tạo hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp Đối với những hộ nông dân bị mất đất nông nghiệp để phục vụ nhu cầu sử dụng đất cho các khu công nghiệp và đô thị cần có sự cân nhắc tính toán kỹ lưỡng và thực hiện chính sách đền bù thỏa đáng cho người dân

3.6.2 Giải pháp về hỗ trợ vốn đầu tư

Để giải quyết vấn đề về vốn sản xuất cho các hộ nông dân cần tạo điều kiện ưu tiên cho những hộ nông dân bị thu hồi đất có nhu cầu vay vốn với lãi suất ưu đãi, giảm các thủ tục rườm rà

để người dân tiếp cận được với nguồn vốn nhanh, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sớm ổn định đời sống

3.6.3 Giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường

Một trong những giải pháp quan trọng nhất đối với vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay và cả trong tương lai đó là giải pháp tuyên truyền, vận động ý thức bảo vệ môi trường của người dân, bao gồm: Bảo vệ môi trường nước, môi trường không khí và rác thải Cần có các quy định xử phạt nghiêm minh đối với hành vi gây tổn hại đến môi trường Đồng thời cần có các giải pháp cụ thể như xây dựng hệ thống xử lý nước thải, xử lý rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và các tác động tiêu cực từ quá trình đô thị hóa

3.6.4 Giải pháp về đào tạo nghề, tạo việc làm

Để có thể thu hút lao động thất nghiệp do mất đất, trước mắt cần phải chú ý thực hiện một

số biện pháp: Tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất như ưu đãi trong vay vốn, miễn giảm thuế, hỗ trợ tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm Chính quyền thành phố có thể mở những lớp đào tạo và nâng cao tay nghề cho tầng lớp lao động địa phương; Cần đào tạo nghề không chỉ cho lao động bị mất đất mà còn cho cả tầng lớp lao động trong tương lai; Đối với những lao động đã quá tuổi đào tạo nghề mà bị mất đất thì cần khuyến khích họ chuyển sang các ngành dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp với các hình thức tín dụng thích hợp

4 Kết luận và kiến nghị

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa trên địa bàn xã Tú Sơn và thị trấn Núi Đối của huyện Kiến Thụy đang diễn ra theo chiều hướng có triển vọng, thể hiện ở việc chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng tăng công tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và giảm nông nghiệp, làm thay đổi cơ sở hạ tầng của khu vực nghiên cứu theo chiều hướng tích cực Quá trình đô thị hóa đã có nhiều tác động đến chuyển đổi sử dụng đất, tác động trực tiếp đến đời sống người dân xã Tú Sơn và thị trấn Núi Đối nói riêng, huyện Kiến Thụy nói chung Cụ thể là:

- Về sản xuất nông nghiệp: Đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm diện tích đất nông nghiệp bị thu

hẹp dần Do đó, các hộ nông dân đã hướng tới việc sử dụng đất có hiệu quả hơn bằng cách chuyển

Ngày đăng: 09/12/2022, 11:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bassand, Michel (2001). Đô thị hóa, khủng hoảng sinh thái và phát triển bền vững. Nxb. Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa, khủng hoảng sinh thái và phát triển bền vững
Tác giả: Bassand, Michel
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2001
[2]. Nguyễn Đình Cự (1997). Giáo trình dân số và phát triển. Nxb. Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dân số và phát triển
Tác giả: Nguyễn Đình Cự
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1997
[3]. Niên giám Thống kê huyện Kiến Thụy (2021, 2022) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê huyện Kiến Thụy
Năm: 2021, 2022
[5]. UN (1997). World urbanization prospects. The 1996 Revision, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: World urbanization prospects. The 1996 Revision
Tác giả: United Nations
Nhà XB: United Nations
Năm: 1997
[6]. UBND thành phố Hải Phòng (2018). Quy hoạch chung thị trấn Núi Đối và vùng phụ cận đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050, tỷ lệ 1/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch chung thị trấn Núi Đối và vùng phụ cận đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050, tỷ lệ 1/2000
Tác giả: UBND thành phố Hải Phòng
Năm: 2018
[7]. UBND thành phố Hải Phòng (2019). Quyết định về việc phê duyệt đồ án điều chỉnh quy hoạch chung nông thôn xã Tú Sơn, huyện Kiến Thụy đến năm 2025 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc phê duyệt đồ án điều chỉnh quy hoạch chung nông thôn xã Tú Sơn, huyện Kiến Thụy đến năm 2025
Tác giả: UBND thành phố Hải Phòng
Nhà XB: UBND thành phố Hải Phòng
Năm: 2019
[8]. UBND huyện Kiến Thụy (2020). Báo cáo thống kê đất đai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê đất đai
Tác giả: UBND huyện Kiến Thụy
Nhà XB: UBND huyện Kiến Thụy
Năm: 2020
[9]. UBND huyện Kiến Thụy (2021). Báo cáo kiểm kê đất đai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kiểm kê đất đai
Tác giả: UBND huyện Kiến Thụy
Nhà XB: UBND huyện Kiến Thụy
Năm: 2021
[10]. Vũ Đình Nhân (2012). Nghiên cứu tác động của đô thị hóa tới biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng. Trường Đại học Khoa học và Tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của đô thị hóa tới biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng
Tác giả: Vũ Đình Nhân
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học và Tự nhiên
Năm: 2012
[11]. Vũ Trung Kiên (2022). Kinh nghiệm trên thế giới về quản lý đô thị và một số đề xuất cho Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm trên thế giới về quản lý đô thị và một số đề xuất cho Việt Nam
Tác giả: Vũ Trung Kiên
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế và Dự báo
Năm: 2022
[12]. Hoàng Văn Minh, Lưu Ngọc Hoạt (2020). Phương pháp chọn mẫu và tính toán cỡ mẫu trong nghiên cứu khoa học sức khỏe. Trường Đại học Y tế Công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp chọn mẫu và tính toán cỡ mẫu trong nghiên cứu khoa học sức khỏe
Tác giả: Hoàng Văn Minh, Lưu Ngọc Hoạt
Nhà XB: Trường Đại học Y tế Công cộng
Năm: 2020

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w