1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất trồng lúa vùng đồng bằng sông Hồng

9 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất trồng lúa vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả Nguyễn Thị Hằng
Trường học Phân Hiệu Trường Đại Học Tài Nguyên Và Môi Trường Hà Nội Tại Thanh Hóa
Chuyên ngành Quản lý đất đai, Nông nghiệp, Phát triển nông thôn
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 326,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất trồng lúa vùng đồng bằng sông Hồng tập trung chủ yếu đánh giá hiện trạng và biến động diện tích, năng suất, mức độ thâm canh và hiệu quả kinh tế của các kiểu hình sử dụng đất lúa tại đồng bằng Sông Hồng.

Trang 1

HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG QUỸ

ĐẤT TRỒNG LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

Nguyễn Thị Hằng

Phân hiệu Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội tại Thanh Hóa

Tóm tắt

Nghiên cứu này tập trung chủ yếu đánh giá hiện trạng và biến động diện tích, năng suất, mức độ thâm canh và hiệu quả kinh tế của các kiểu hình sử dụng đất lúa tại đồng bằng Sông Hồng Kết quả nghiên cứu cho thấy, tính đến năm 2020, diện tích đất trồng lúa toàn vùng đồng bằng Sông Hồng là 560.812 ha (trong đó, diện tích đất chuyên trồng lúa nước là 522.340 ha), chiếm 14,32 % diện tích đất trồng lúa của cả nước Trong giai đoạn 2014 - 2020, diện tích đất trồng lúa vùng đồng bằng Sông Hồng giảm 38.058 ha, bình quân giảm 5.436,86 ha/năm Việc tích

tụ đất tại Hà Nội mới được khoảng 78 - 80 % trên tổng số diện tích đất lúa, Thái Bình tích tụ được

28 - 30 %, và Hải Dương là 89 - 90 % diện tích đất lúa Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng lúa đã được nâng cao rõ rệt sau khi chuyển đổi loại hình sử dụng Cụ thể theo nghiên cứu, kiểu sử dụng đất 2 lúa - 1 màu, 1 lúa - 1 cá cho giá trị gia tăng cao đi đôi với thu hút nhiều nhân công lao động

Từ khóa: Biến động đất lúa; Đất trồng lúa; Đồng bằng Sông Hồng; Hiệu quả kinh tế; Tích

tụ đất

Abstract

Current status and solutions to improve the efficiency of land use for rice cultivation

in the Red River delta

This study mainly focuses on assessing the current status and changes in the area, productivity, level of cultivation, and economic efficiency of different types of rice land use in the Red River Delta Research results show that by 2020, the area of rice cultivation in the Red River delta region

is 560,812 ha (of which the area dedicated to wet rice cultivation is 522,340 ha), accounting for 14.32 % of the country’s rice area Country In the period 2014 - 2020, the area of rice cultivation

in the Red River Delta decreased by 38,058 hectares, on average, by 5,436.86 hectares per year The accumulation of land in Hanoi is only about 78 - 80 % of the total rice area, Thai Binh has accumulated 28 - 30 %, and Hai Duong is 89 - 90 % of the rice area The economic efficiency

of land use for rice cultivation has been significantly improved after changing the type of use Specifically, according to research, the type of 2 rice crops - 1 vegetable crop, 1 rice crop, and fish gives high added value along with attracting many workers

Keywords: Changes in land for rice cultivation; Land for rice cultivation; Red River delta;

Economic efficiency; Land accumulation

1 Giới thiệu

Đồng bằng Sông Hồng là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu Sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam Diện tích tự nhiên khoảng 21.278,46 km2 chiếm 6,42 % diện tích của cả nước Dân số khoảng 22.920,2 nghìn người, chiếm 23,49 % dân số cả nước Mật độ dân số rất đông 1.078 người/km2, cao nhất so với các vùng khác trong cả nước và cao gấp 3,65 lần so với

cả nước (mật độ bình quân của cả nước là 295 người/km2) Năm 2020 dân số vùng đồng bằng Sông Hồng là 22.920.200 người, dân số thành thị là 8.512.200 người, dân số nông thôn là 14.408.100 người Dân số năm 2020 tăng so với năm 2015 là 1.551.800 người Trong giai đoạn từ 2015 - 2020, dân số vùng đồng bằng Sông Hồng tăng bình quân mỗi năm là 310.360 người Điều này cho thấy,

Trang 2

vùng có áp lực về dân số cao, cần có những chính sách, mô hình quản lý và bố trí sử dụng hợp lý

hiệu quả quỹ đất trồng lúa để đảm bảo an ninh lương thực cho vùng [1]

Diện tích đất trồng lúa vùng đồng bằng Sông Hồng năm 2020 (560,8 nghìn ha) giảm 36,7 nghìn ha so với năm 2015 (597,5 nghìn ha), do chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa để làm khu công nghiệp, làm đường, xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch, khu đô thị mới, trồng cây lâu năm, trồng cây hàng năm khác và nuôi trồng thủy sản [2]

Trước thực trạng sụt giảm diện tích đất trồng lúa đó, các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng cần đánh giá thực trạng quỹ đất trồng lúa và bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa nhằm tăng hiệu quả sử dụng giảm thiểu sự hoang hóa đất nông nghiệp đặc biệt đất chuyên trồng lúa nước

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

- Quỹ đất trồng lúa vùng đồng bằng Sông Hồng quy định theo Luật Đất đai 2013 từ khi có hiệu lực

- Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất trồng lúa tại ba tỉnh, thành phố đặc trưng: Hà Nội, Thái Bình và Hải Dương Lý do chọn ba tỉnh thành trên đại diện cho nghiên cứu như sau:

+ Thành phố Hà Nội sau khi sáp nhập thêm tỉnh Hà Tây cũ vào đã trở thành tỉnh thành có diện tích đất trồng lúa lớn nhất miền Bắc Hơn nữa Hà Nội là thủ đô cả nước, trung tâm đô thị của đồng bằng Bắc Bộ nên tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh, các kiểu hình sử dụng đất trồng lúa đa dạng + Tỉnh Thái Bình là tỉnh có diện tích đất trồng lúa lớn của vùng đồng bằng Sông Hồng, mức

độ thâm canh trồng lúa cao Là tỉnh lỵ ven biển có diện tích trồng lúa lớn nên có nhiều kiểu hình

sử dụng đất trồng lúa xen lẫn nuôi trồng thủy sản, kết hợp hoa màu,

+ Tỉnh Hải Dương có diện tích đất trồng lúa lớn và nằm ở trung tâm của đồng bằng Sông Hồng, là tỉnh có nền công nghiệp phát triển nhanh lại nằm ở vị trí thành phố vệ tinh của thủ đô nên kiểu hình sử dụng đất trồng lúa có nhiều biến động những năm gần đây

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu số liệu: Các số liệu về hiện trạng sử dụng đất, tình hình sản xuất lúa ở đồng bằng Sông Hồng được thu thập, kế thừa từ các cơ quan chức năng như Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), Tổng cục thống kê, các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh vùng ĐBSH, các cán bộ của Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện vùng ĐBSH

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân - PRA (Participatory Rural Appraisal): Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân là trực tiếp tiếp xúc với nông dân, cùng với người dân trao đổi, phân tích những kinh nghiệm sản xuất, khó khăn gặp phải, nguyện vọng, kế hoạch và giải pháp để phát triển sản xuất cho gia đình cũng như cộng đồng Mỗi tỉnh điều tra 150 hộ thuần nông, tổng ba tỉnh điều tra 450 hộ

Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất [1, 2]:

- Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ

Trang 3

- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội: Được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: Góp phần giải

quyết việc làm, thu hút nhiều công lao động tại chỗ; Tạo ra sản phẩm, đảm bảo an toàn lương thực (ATLT); Nâng cao giá trị gia tăng/công lao động (GTGT/CLĐ), phù hợp với năng lực sản xuất của hộ; Khả năng tiêu thụ sản phẩm

- Trong đó:

GTSX: Giá trị sản xuất: ∑ [(giá nông sản)i × ( năng suất)i ];

CPTG: Chi phí trung gian là tổng các chi phí vật chất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công thuê khoán, công cày bừa,…);

GTGT: Giá trị gia tăng GTSX - CPTG

3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1 Hiện trạng đất trồng lúa đồng bằng Sông Hồng

Tính đến năm 2020, diện tích đất trồng lúa toàn vùng đồng bằng Sông Hồng là 560.812 ha (trong đó, diện tích đất chuyên trồng lúa nước là 522.340 ha), chiếm 14,32 % diện tích đất trồng lúa của cả nước Trong đó, đất trồng lúa tập trung chủ yếu tại các tỉnh như: Thành phố Hà Nội với diện tích đất trồng lúa là 100.725 ha, chiếm 17,96 % diện tích đất trồng lúa vùng đồng bằng Sông Hồng; Tỉnh Thái Bình với diện tích đất trồng lúa là 77.728 ha, chiếm 13,86 % diện tích đất trồng lúa vùng đồng bằng Sông Hồng; Tỉnh Hải Dương với diện tích đất trồng lúa là 58.981 ha, chiếm 10,52 % diện tích đất trồng lúa vùng đồng bằng Sông Hồng [3]

Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất trồng lúa năm 2020 tại các địa bàn điều tra

STT Tên đơn vị Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Vùng đồng bằng Sông Hồng 560.812 100

Trong đó:

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2021)

Tuy nhiên, về thực trạng sử dụng đất trồng lúa tại các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng Sông Hồng hiện có hàng nghìn hecta đất sản xuất nông nghiệp bị bỏ hoang Chủ nhân của những diện tích đất này hoặc đi làm ăn xa, hoặc chuyển đổi nghề trên chính quê hương mình, nhưng cùng một điểm chung là họ không còn mặn mà với trồng lúa,

3.2 Biến động đất trồng lúa tại đồng bằng Sông Hồng

Diện tích đất trồng lúa vùng đồng bằng Sông Hồng trung bình năm liên tục giảm do chuyển sang các mục đích khác, đặc biệt là mục đích phi nông nghiệp Biến động sử dụng đất lúa giai đoạn

2014 - 2020 của toàn vùng ĐBSH và của các địa bàn điều tra được thể hiện tại Bảng 2 [3]

Bảng 2 Biến động diện tích đất trồng lúa giai đoạn 2014 - 2020 tại các địa bàn điều tra

STT Tên đơn vị Diện tích năm 2014 (ha) Diện tích năm 2020 (ha) Biến động tăng (+), giảm (-) (ha) giảm (-) TB/năm (ha) Diện tích tăng (+), Vùng đồng bằng Sông Hồng 598.870 560.812 -38.058 -5.436,86

Trong đó:

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014, 2021

Trang 4

Theo bảng trên, trong giai đoạn 2014 - 2020, diện tích đất trồng lúa vùng ĐBSH giảm 38.058

ha, bình quân giảm 5.436,86 ha/năm Nguyên nhân giảm diện tích đất trồng lúa vùng đồng bằng Sông Hồng trong giai đoạn 2014 - 2020 là do đất trồng lúa được chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp, trong khi đất chưa sử dụng không còn khả năng khai thác để bổ sung cho quỹ đất trồng lúa của vùng Có thể thấy rằng, trong tương lai, bên cạnh việc mất đất trồng lúa do tác động của biến đổi khí hậu thì nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp cũng sẽ tăng và tiếp tục lấy vào đất trồng lúa,

do đó, cần có kế hoạch sử dụng đất trồng lúa một cách hợp lý

3.3 Thực trạng tích tụ đất trồng lúa trong sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng Sông Hồng

Đồng bằng Sông Hồng hiện có 26,3 triệu thửa ruộng, chia cho 5,73 triệu hộ Đây là vùng có mức độ ruộng đất manh mún nhất cả nước, trung bình mỗi hộ gần 4,6 thửa, ở các vị trí khác nhau Quy mô đất nông nghiệp của các nông hộ quá nhỏ đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, không áp dụng được cơ giới hoá đồng bộ và tiến bộ khoa học kỹ thuật [4]

Trước thực trạng trên, đã xuất hiện nhiều điển hình về tích tụ ruộng đất ở tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình,… Nhiều hộ nông dân có điều kiện, có vốn và khả năng sản xuất

đã tích tụ ruộng đất bằng nhiều hình thức như nhận chuyển nhượng, thuê đất để phát triển những

mô hình sản xuất gia trại, trang trại, đem lại hiệu quả kinh tế cao

Nhìn chung, do nhiều nguyên nhân như thiếu quy hoạch, tâm lý sản xuất tiểu nông,… quá trình tích tụ đất nông nghiệp của vùng diễn ra chậm, quy mô nhỏ Hiện nay, quy mô sử dụng đất dưới 0,5 ha/hộ vẫn chiếm tới 61,02 %, từ 0,5 đến dưới 1 ha là 17,14 %, từ 1 ha trở lên là 17,8 % [5] Việc sử dụng đất nông nghiệp manh mún theo quy mô hộ tiểu nông, sản xuất tự cấp tự túc vẫn phổ biến làm cho việc sử dụng đất kém bền vững và hiệu quả thấp Quá trình tích tụ ruộng đất chưa gắn với phân công lại lao động trong nông nghiệp, nông thôn một cách hợp lý

Tại Hà Nội: Từ năm 2004, thành phố Hà Nội bắt đầu thực hiện dồn điền, đổi thửa đất trồng

lúa, tuy nhiên sau 8 năm, kết quả đạt được không cao Ngày 05/4/2012, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐND về Thí điểm một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng hạ tầng nông thôn ở thành phố Hà Nội giai đoạn

2012 - 2016 Ngày 13/11/2013, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 171/ KH-UBND về Thực hiện dồn điền, đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2020 Theo số liệu thống kê của Sở NN&PTNT Hà Nội, tính đến nay, toàn thành phố Hà Nội đã thực hiện dồn điền, đổi thửa được 79.183,1 ha (đạt 104,2 %, tức là vượt 3.673,5 ha so với kế hoạch đã đề ra), tăng 2.291,3 ha so với cuối năm 2015 Trước dồn điền, đổi thửa, mỗi hộ gia đình có 7 - 15 thửa đất, thậm chí ở một số huyện như: Sóc Sơn và Chương Mỹ

có 27 - 39 thửa Tuy nhiên, đến nay mỗi hộ chủ yếu chỉ còn 1 - 2 thửa, rất thuận lợi cho người dân trong tổ chức sản xuất, giảm ngày công, tiết kiệm chi phí vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu, Sau dồn điền, đổi thửa đã hình thành nhiều vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung như các vùng sản xuất lúa chất lượng cao ở các huyện: Mỹ Đức, Ứng Hòa, Phú Xuyên, Đông Anh, Thanh Oai, Chương Mỹ, Sóc Sơn,… cho giá trị thu nhập tăng thêm so với sản xuất lúa truyền thống khoảng

từ 20 - 25 % [3-5]

Tại Thái Bình: Hiện nay, tỉnh Thái Bình đang triển khai Đề án Tích tụ ruộng đất nông nghiệp

tỉnh Thái Bình đến năm 2020 và những năm tiếp theo Trong đó, đưa ra một số cơ chế chính sách, giải pháp, tổ chức thực hiện tích tục ruộng đất nông nghiệp nhằm chuyển dần sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn để phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Theo

số liệu thống kê từ Sở NN&PTNT Thái Bình, tổng diện tích đất nông nghiệp được tích tụ trên địa

Trang 5

bàn tỉnh Thái Bình đến năm 2020 là 22.169,58 ha đất nông nghiệp được tích tụ, tập trung để sản xuất hàng hóa quy mô lớn gắn với tiêu thụ nông sản (tăng 4.760,3 ha so với năm 2019), trong đó:

- Diện tích đất tích tụ, tập trung theo hình thức thuê đất, góp đất và chuyển nhượng quyền

sử dụng đất 5.163,28 ha (lĩnh vực trồng trọt 4.325 ha, lĩnh vực chăn nuôi 451,3 ha, lĩnh vực thủy sản 3.1927,28 ha);

- Đối với đất trồng lúa tính đến nay diện tích đất đã tích tụ, tập trung theo hình thức thuê đất, góp đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 4.325 ha, trong đó: Diện tích đất được tích tụ, tập trung từ 10 ha trở lên 865,96 ha, chiến 20,02 %; Quy mô từ 2 ha đến dưới 10 ha, tổng diện tích đất tích tụ 3.459,04 ha, chiếm 79,98 %; Giá thuê đất từ 60 đến 80 kg thóc/sào/năm hoặc từ 300.000 đến 500.000 đồng/sào/năm, thời hạn thuê bình quân 5 năm Hình thức tích tụ, tập trung chủ yếu

là thuê đất

- Hầu hết các mô hình tích tụ, tập trung sản xuất đều được đánh giá có hiệu quả hơn từ 1,5 đến 2 lần so với sản xuất thông thường khi chưa được tích tụ, tập trung

- Diện tích đất tập trung theo hình thức liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản là 14.286

ha (trên 200 cánh đồng lúa với diện tích trên 13 nghìn ha/năm và gần 20 cánh đồng màu với diện tích gần 01 nghìn ha/năm chủ yếu gồm dưa bí, ngô ngọt, kê, ớt,…) Có 210 hợp tác xã thực hiện việc liên kết giữa các hộ thành viên với 20 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để sản xuất và tiêu thụ nông sản [3 - 5]

Tại Hải Dương: Theo Sở NN&PTNT Hải Dương, đến năm 2016, toàn tỉnh có 188/229 xã

thuộc 11 huyện, thị xã thực hiện xong việc dồn điền, đổi thửa đạt tỷ lệ 82,1 % Riêng thành phố Hải Dương, huyện Thanh Hà và một số xã nằm trong quy hoạch mở rộng thành phố Hải Dương và quy hoạch phát triển đô thị không thực hiện việc dồn điền, đổi thửa vì hầu hết diện tích đất nông nghiệp các xã nằm trong quy hoạch mở rộng thành phố Hải Dương để phát triển các khu đô thị; Các xã thuộc huyện Thanh Hà diện tích đất nông nghiệp đã được chuyển đổi sang trồng cây lâu năm Diện tích đã thực hiện dồn điền, đổi thửa là 51.070,51 ha/57.325 ha cần dồn điền, đổi thửa đạt tỷ lệ 89,1 %; Bình quân số thửa/hộ sau dồn điền, đổi thửa đạt 1,88 thửa/hộ [3, 4]

Tổng kết lại, giai đoạn 2014 - 2020, tỉnh Hải Dương đã hỗ trợ cho các địa phương xây dựng

và duy trì được 517 vùng lúa hàng hóa tập trung, quy mô tối thiểu 30 ha/vùng, gieo cấy “1 vùng,

1 giống, 1 thời gian” gắn với bao tiêu sản phẩm, tập trung phát triển tại một số huyện có truyền thống sản xuất lúa chất lượng cao, như: Huyện Bình Giang, Thanh Miện,…

3.4 Hiệu quả sử dụng đất trồng lúa tại đồng bằng Sông Hồng

3.4.1 Hiệu quả kinh tế

Nghiên cứu cho thấy, hiệu quả về kinh tế của các loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất trồng lúa tại các địa bàn nghiên cứu như sau:

Bảng 3 Tổng hợp hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng lúa tại các địa bàn nghiên cứu

Kiểu sử dụng đất Hà Nội Giá trị sản xuất (triệu đồng/ha) Thái Bình Hải Dương Hà Nội Giá trị gia tăng (triệu đồng/ha) Thái Bình Hải Dương

(Nguồn: Kết quả điều tra PRA)

Trang 6

Qua Bảng 3, có thể thấy về loại hình sử dụng đất chính ở 3 tỉnh, thành đại diện cho đồng bằng Sông Hồng là 2 lúa và 2 lúa - 1 màu Trong đó, kiểu sử dụng đất 2 lúa - 1 màu cho thu nhập ổn định

và cao nhất trong các loại hình sử dụng đất trồng lúa, tuy nhiên, đây là những LUT đòi hỏi nhiều công lao động nên không phù hợp với những vùng ven thành phố hoặc có ngành nghề phụ - nơi người dân có thể có thu nhập cao hơn từ các nghề khác Kiểu sử dụng đất 1 lúa – 1 cá xét ra từ bảng trên cho thấy giá trị gia tăng cao nhất trong các loại hình sử dụng đất lúa, mô hình này đòi hỏi rất ít công lao động, giá trị ngày công cao, cá ăn lúa chết (lúa tái sinh) trên đồng nên đỡ được rất nhiều chi phí thức ăn Tuy nhiên, loại sử dụng đất này chỉ áp dụng được trên những vùng đất trũng, có thể cấp, thoát nước thuận tiện và phải cải tạo khoảng 20 % diện tích ruộng thành các mương cho cá Kiểu sử dụng đất 2 lúa cho thu nhập và giá trị gia tăng thấp nhất nhưng lợi thế là chi phí thấp,

kỹ thuật đơn giản, đòi hỏi rất ít công lao động nên được người dân ngoại thành và những khu vực

có mức độ công nghiệp hóa mạnh ưa thích lựa chọn Kiểu sử dụng đất 2 lúa - 1 cá chỉ thích hợp với vùng chiêm trũng, nền ruộng thấp nên chỉ thích hợp với Hải Dương, mặc dù cho giá trị kinh

tế tương đối cao

3.4.2 Hiệu quả về xã hội

Hiệu quả về xã hội được nghiên cứu và kết quả tổng hợp trong bảng sau:

Bảng 4 Tổng hợp hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất trồng lúa tại các địa bàn

nghiên cứu

Kiểu sử dụng đất

Chỉ tiêu định lượng Lao động (công/ha) GTGT/công lao động (1.000 đồng)

Hà Nội Thái Bình Hải Dương Hà Nội Thái Bình Hải Dương

(Nguồn: Kết quả điều tra PRA)

Qua số liệu bảng trên cho thấy: Mức độ thu hút lao động và giải quyết việc làm cho nông dân của các kiểu sử dụng đất Khả năng thu hút lao động cao là các loại hình sử dụng đất 2 lúa - 1 màu và loại hình sử dụng 2 lúa có khả năng thu hút lao động thấp hơn Lực lượng lao động trên địa bàn qua điều tra thì trình độ tay nghề được đào tạo chiếm tỷ lệ thấp, chủ yếu là lao động phổ thông Việc phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp là giải pháp quan trọng để tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng đời sống cho người dân

3.5 Các bất cập trong quá trình sử dụng đất trồng lúa tại đồng bằng Sông Hồng

* Về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa: Qua kết quả điều tra tại các địa bàn

nghiên cứu cho thấy mặc dù ở các địa phương đã có văn bản quy phạm pháp luật được ban hành

để hướng dẫn công tác lập, triển khai kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa nhưng trong quá trình thực hiện cho thấy vẫn còn thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể về việc xây dựng kế hoạch và quản lý sau chuyển đổi, nhất là đối với các diện tích thực hiện theo loại hình chuyển đổi

cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang trồng cây lâu năm; Các diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp

Trang 7

- Việc thay đổi liên tục các văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình thực hiện tuy đã đáp ứng kịp thời cho một số vấn đề phát sinh trong công tác quản lý triển khai thực hiện nhưng cũng gây khó khăn do thiếu thời gian và điều kiện để phổ biến, tuyên truyền sâu rộng đến các đối tượng liên quan

- Một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến việc xây dựng và triển khai kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa nên chưa ban hành Kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa theo đúng hướng dẫn và quy định tại các Nghị định liên quan

* Về cơ giới hóa trong sản xuất: Tỷ lệ cơ giới hoá trong một số khâu còn ở mức thấp, không

đồng đều đặc biệt là khâu bảo quản nông sản hầu như chưa được cơ giới hóa Một số nơi máy cơ giới chưa phát huy được hiệu quả cao do hạ tầng kém, ruộng đất tại một số khu vực còn manh mún, đường giao thông nội đồng xuống cấp, nhiều nơi không có bờ vùng bờ thửa nên máy cơ giới đi lại khó khăn Đầu tư cho cơ giới hóa thấp, yêu cầu vốn lớn so với khả năng của nông hộ, thiếu cơ sở dịch vụ máy cơ giới chuyên ngành; Sự gắn kết giữa doanh nghiệp và người sản xuất còn hạn chế;

Kỹ thuật vận hành sửa chữa máy nông nghiệp rất yếu Công tác đào tạo nghề cho công nhân và nông dân về vận hành, sửa chữa các loại máy cơ khí nông nghiệp chưa được quan tâm thích đáng

* Sự tham gia của các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp còn hạn chế: Mặc dù đã có

nhiều cố gắng trong thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nhưng do tỷ suất lợi nhuận nông nghiệp thấp, quy mô đất đai một số nơi còn manh mún, cơ sở hạ tầng nông thôn chậm phát triển,… nên chưa hấp dẫn các nhà đầu tư quan tâm đầu tư vào nông nghiệp Thời gian gần đây, một số doanh nghiệp đã bắt đầu đầu tư vào nông nghiệp theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, theo đó doanh nghiệp đóng vai trò đầu tàu trong lôi kéo các tác nhân khác trong chuỗi giá trị hàng nông sản Tuy nhiên, phạm vi còn hạn chế và ở hầu hết các địa phương doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận đất đai với quy mô đủ lớn để kinh doanh có lãi

* Chịu sức ép của tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa: Công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra

nhanh chóng trong một thời gian dài dẫn đến ngày càng thu hẹp diện tích đất canh tác đã làm cho một bộ phận lớn người nông dân tại các khu vực ven đô phải từ bỏ sản xuất nông nghiệp truyền thống của mình Việc mất đất nông nghiệp đã ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội của những người nông dân ở khu vực nông thôn Khi đất đai bị thu hẹp thì người nông dân bị mất đi phần tư liệu sản xuất quan trọng nhất để tạo nên thu nhập cho cuộc sống của gia đình họ và tạo ra của cải cho

xã hội Một mặt khi công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng đã thu hút một lượng lớn lao động nông thôn vào sản xuất dẫn đến một số nơi người dân bỏ ruộng để đi làm công nhân do họ được thu nhập cao hơn và không bị vất vả như đi làm ruộng

Đã có nhiều chính sách hỗ trợ đào tạo nghề để chuyển đổi sinh kế cho người dân Tuy nhiên, hoạt động này còn gặp nhiều bất cập Khó khăn lớn nhất trong chuyển nghề, tìm việc làm cho lao động nông nghiệp là trình độ học vấn và tay nghề thấp của người lao động; Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong việc nâng cao nhận thức và định hướng cho người dân chuyển đổi nghề phù hợp sau khi bị thu hồi đất Hơn nữa, ý thức của người lao động vẫn còn kém, hầu như không có kỷ luật lao động, tác phong thiếu chuyên nghiệp nên doanh nghiệp không muốn tuyển dụng

3.6 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa tại đồng bằng Sông Hồng

Qua các kết quả nghiên cứu trên, một số giải pháp chung được đề xuất như sau:

- Cơ cấu lại trồng trọt theo hướng sản xuất tập trung, quy mô lớn, đẩy mạnh công tác dồn điền, đổi thửa, tích tụ ruộng đất và khuyến khích các nông hộ chủ động trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy lợi thế vùng, miền, gắn với bảo quản, chế biến, tiêu thụ theo chuỗi giá trị Các

Trang 8

địa phương cần đảm bảo quá trình thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch, tăng cường công tác thanh kiểm tra để kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện

- Tạo điều kiện thuận lợi để nông dân dễ dàng chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ đất trồng lúa kém hiệu quả nhằm tăng hiệu quả kinh tế và phù hợp với nhu cầu của thị trường Hạn chế chuyển đổi đất trồng lúa ở các khu vực có điều kiện thuận lợi về nguồn nước và đã được đầu tư hạ tầng thủy lợi đồng

bộ, khu vực đất trồng lúa chuyên canh được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật Người

sử dụng đất trồng lúa có trách nhiệm cải tạo, làm tăng độ màu mỡ của đất; không được chuyển sang

sử dụng vào mục đích trồng cây lâu năm, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, làm muối và vào mục đích phi nông nghiệp nếu không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép

- Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa theo Nghị định

số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 của Chính phủ và các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng hạ tầng nông thôn của các địa phương

- Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu cầu đầu tư sản xuất lúa được tạo điều kiện về đất đai và được hưởng các ưu đãi đầu khích việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả tránh bỏ hoang, không sử dụng gây lãng phí đất đai

4 Kết luận

Tính đến năm 2020 diện tích đất trồng lúa toàn vùng đồng bằng Sông Hồng là 560.812 ha (trong đó diện tích đất chuyên trồng lúa nước là 522.340 ha), chiếm 14,32 % diện tích đất trồng lúa của cả nước Trong giai đoạn 2014 - 2020 diện tích đất trồng lúa vùng ĐBSH giảm 38.058 ha, bình quân giảm 5.436,86 ha/năm Nguyên nhân giảm diện tích đất trồng lúa vùng đồng bằng Sông Hồng trong giai đoạn 2014 - 2020 là do đất trồng lúa được chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp, trong khi đất chưa sử dụng không còn khả năng khai thác để bổ sung cho quỹ đất trồng lúa của vùng Việc tích tụ đất trồng lúa là một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa tại đồng bằng Sông Hồng Nghiên cứu cho thấy năm 2020, tại Hà Nội mới tích tụ được khoảng

78 - 80 % trên tổng số diện tích đất lúa, Thái Bình tích tụ được 28 - 30 % và Hải Dương là 89 - 90 % diện tích đất lúa

Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng lúa đã được nâng cao rõ rệt sau khi chuyển đổi loại hình

sử dụng Cụ thể theo nghiên cứu, loại hình 2 lúa - 1 màu, 1 lúa - 1 cá cho giá trị gia tăng cao đi đôi với thu hút nhiều nhân công lao động

Các bất cập như chậm ra các chính sách văn bản hướng dẫn về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa, việc đầu tư cơ sở hạ tầng, kỹ thuật khoa học vào trồng lúa còn thiếu và yếu,

sự tham gia các nhà đầu tư và doanh nghiệp vào nông nghiệp còn yếu và đặc biệt sự đô thị hóa làm mất quỹ đất trồng lúa là những nguyên nhân chính khiến giá trị hiệu quả sử dụng đất trồng lúa chưa cao Qua đó các biện pháp đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa như:

+ Cơ cấu lại trồng trọt theo hướng sản xuất tập trung, quy mô lớn, đẩy mạnh công tác dồn điền, đổi thửa, tích tụ ruộng đất và khuyến khích các nông hộ chủ động trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy lợi thế vùng, miền

+ Tạo điều kiện thuận lợi để nông dân dễ dàng chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ đất trồng lúa kém hiệu quả nhằm tăng hiệu quả kinh tế và phù hợp với nhu cầu của thị trường

+ Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu cầu đầu tư sản xuất lúa được tạo điều kiện về đất đai và được hưởng các ưu đãi nhằm khuyến khích việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả tránh bỏ hoang, không sử dụng gây lãng phí đất đai

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2021) Nghiên cứu hoàn thiện quy định về chuyển quyền sử dụng đất nông

nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ để thực hiện chủ trương tích tụ ruộng đất Đề tài cấp Bộ, Trường Đại học

Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.

[2] Thái Thị Quỳnh Như (2020) Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn đề xuất mô hình sử dụng đất tập

trung, quy mô lớn, hiệu quả, bền vững đáp ứng yêu cầu ứng dụng công nghệ Đề tài cấp Nhà nước, Viện

Nghiên cứu Quản lý đất đai.

vùng đồng bằng Sông Hồng, các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hà Nội.

[4] Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất quốc gia giai đoạn 2021 - 2030 và tầm nhìn 2050.

[5] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2021) Quyết định số 555/QĐ-BNN-TT ngày 26/01/2021 của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2025

và 2030.

BBT nhận bài: 24/8/2022; Chấp nhận đăng: 31/10/2022

Ngày đăng: 09/12/2022, 11:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w