1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các trường hợp giới hạn quyền tác giả theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ

18 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các trường hợp giới hạn quyền tác giả theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ
Chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ
Thể loại bài tiểu luận
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 368,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2 ĐẶT VẤN ĐỀ 3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3 I Phân tích các trường hợp giới hạn quyền tác giả theo quy định của Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam Cho ví dụ 3 1 Các trường hợp sử.

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2

ĐẶT VẤN ĐỀ 3

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3

I Phân tích các trường hợp giới hạn quyền tác giả theo quy định của Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam Cho ví dụ 3

1 Các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 25) 4

2 Các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 26) 8

II Đánh giá về việc Tổng công ty Sao Sáng sử dụng tên thương mại “Công ty xuất nhập khẩu Sao Sáng cho công ty với dự định thành lập 9

1 Quyền của Công ty xuất nhập khẩu Sao Sáng đã được thành lập ở tỉnh K đối với tên thương mại của công ty mình 9

2 Xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại 12

3 Chủ thể thực hiện hành vi 14

4 Xác định phạm vi của hành vi xâm phạm 15

5 Kết luận về việc dự định thành lập công ty xuất nhập khẩu Sao Sáng của tổng Công ty Sao Sáng 15

KẾT THÚC VẤN ĐỀ 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kamil Idris - Nguyên Tổng giám đốc Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới từng

nói:“Sở hữu trí tuệ- Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế và tạo nên sự

thịnh vượng” Nhận định trên đã phản ánh chân thực về vai trò của tài sản trí tuệ

đối với đời sống vật chất và tinh thần của con người, đồng thời tác giả cũng dự báo về xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài người dựa trên nền tảng kinh

tế tri thức Với ý nghĩa quan trọng nên nhiều nước trên thế giới luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho lĩnh vực sở hữu trí tuệ Trong đó có Việt Nam- một nước đang phát triển và dần từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế

Do đó, pháp luật về sở hữu trí tuệ của đất nước ngày càng được chú trọng hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của thời đại, đặc biệt là quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những bất cập và hành vi xâm phạm đối với hai loại quyền trên Để tìm hiểu và làm rõ hơn vấn đề

này, em xin phép chọn đề số 4 làm đề tài cho bài tiểu luận

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Phân tích các trường hợp giới hạn quyền tác giả theo quy định của

Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam Cho ví dụ

Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng tiến nhanh theo bước đi của thời đại, chinh phục những đỉnh cao mới của trí tuệ và sáng tạo.Từ thực tế

đó, đòi hỏi phải có một sự bảo vệ và ghi nhận xứng đáng cho những thành quả

mà con người tạo ra, một trong số đó là quyền tác giả Tuy nhiên, pháp luật cũng cần phải đảm bảo cho công chứng có khả năng đón nhận tác phẩm một cách có hiệu quả nhất, thuận tiện nhất, tạo điều kiện để thúc đẩy, khuyến khích quá trình sáng tạo Chính vì vậy, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm

2009, 2019 đã đặt ra quy định về các trường hợp giới hạn quyền tác giả, để nhằm đảm bảo quyền lợi cho cả tác giả và các chủ thể khác có nhu cầu đón nhận tác phẩm

Theo khoản 2, điều 4, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định: “Quyền tác

Trang 4

giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” Giới hạn quyền tác giả được quy định tại Điều 9 Công ước Bern và Điều

13 Hiệp định TRIPS Theo đó, tác phẩm được sử dụng tự do trong một số trường hợp như: trích dẫn để minh họa cho giảng dạy, in lại trên báo chí, phát lại trên đài truyền hình hay phương tiện thông tin đại chúng những bài báo có tính chất thời sự về kinh tế, chính trị hay tôn giáo đã đăng tải trên các tập san hay các tác phẩm truyền thanh

Tuy nhiên trong trường hợp này quyền tác giả vẫn được bảo vệ vì người

sử dụng phải ghi rõ nguồn gốc tác phẩm và tên tác giả Sự trích dẫn phải phù hợp với những thông lệ chính đáng và trong mức độ phù hợp với mục đích

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 đã xác định giới hạn cho quyền tác giả bằng việc quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 25) và các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 26)

Các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 25)

Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam đã kế thừa tinh thần các điều ước kể trên khi

quy định về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép,

không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” Theo quy định của điều luật, ngoại lệ

này chỉ dành cho một số trường hợp sử dụng tác phẩm đáp ứng ba điều kiện sau:

- Việc sử dụng tác phẩm hoàn toàn vào mục đích phi thương mại (như nghiên cứu khoa học, giảng dạy, sử dụng riêng)

- Việc sử dụng không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến quyền tác giả

- Khi sử dụng phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả (thông tin về tác giả, tác phẩm)

Điều đó được thể hiện qua hai trường hợp đó là sao chép tác phẩm và trích dẫn hợp lý tác phẩm Cụ thể:

Trang 5

- Sao chép tác phẩm:

+ Tự sao chép một bản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 của Luật sở hữu trí tuệ áp dụng đối với các trường hợp nghiên cứu khoa học, giảng dạy của

cá nhân không nhằm mục đích thương mại

+ Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật sở hữu trí tuệ là việc sao chép không quá một bản Thư viện không được sao chép và phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số.1

- Trích dẫn tác phẩm:

+ Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình Việc trích dẫn tác phẩm phải đáp ứng điều kiện: Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng

tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩm của mình và phần trích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn; phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn

+ Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong

ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu

+ Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại

- Các trường hợp khác:

+ Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào

+ Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy

1 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009

về quyền tác giả, quyền liên quan

Trang 6

+ Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó

+ Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị + Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng: chỉ áp dụng cho trường hợp nhập khẩu không quá một bản

Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định này trên thực tế còn nhiều khó khăn:

Đối với quyền sao chép: Trong nội dung quyền tác giả thì quyền sao

chép, quyền kiểm soát hành vi sao chép (bao gồm cả việc ngăn cản người khác sao chép tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, cuộc biểu diễn hoặc chương trình phát sóng) là quyền năng quan trọng nhất, vì nó là cơ sở pháp lý đối với các hình

Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ dành ra một số ngoại lệ đối với quyền sao

chép là các trường hợp: “tự sao chép nhằm mục đích nghiên cứu khoa

học”, “sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện” Làm rõ hơn về quyền sao

chép trong trường hợp này, điều 22 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định về việc sao chép là “sao chép một bản” để nhằm mục đích tự nghiên cứu hay lưu trữ trong thư viện Như vậy, việc sao chép quá một bản là hành vi trái pháp luật Tuy nhiên có thể thấy trên thực tế hiện nay, với sự phát triển ngày một mạnh của công nghệ, kỹ thuật, sự xuất hiện của các loại máy in, máy fax, máy photocopy,… thì bất cứ ai cũng có thể tự sao chép cho mình hơn một bản tác phẩm ở nhà Chính vì vậy, việc kiểm soát cũng như phát hiện những hành vi trên

sẽ không thể kiểm soát cũng như quản lí được Do đó, theo quan điểm của em, luật SHTT cần phải có sự thay đổi, bổ sung để phù hợp với sự phát triển của xã hội

Đối với việc trích dẫn tác phẩm:

Theo quy định của Điều 25 Luật sở hữu trí tuệ, các trường hợp trích dẫn hợp

lí tác phẩm để bình luận hoặc minh hoạ; để viết báo; dùng trong chương trình phát thanh, truyền hình; trích dẫn để giảng dạy trong nhà trường, để đưa tin tức

Trang 7

là những trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả nhuận bút, thù lao Tuy nhiên, như thế nào là “trích dẫn hợp lí” vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi Trích dẫn hợp lý được quy định rõ hơn tại điều 23, Nghị định số 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan, tuy nhiên tại quy định này vẫn chưa làm rõ việc trích dẫn hợp lí là trích dẫn một phần hay

có thể trích dẫn toàn bộ Vậy thì đặt ra một câu hỏi: Việc trích dẫn toàn bộ một tác phẩm để bình luận, minh họa thì có còn là “trích dẫn hợp lý” hay không? Hay hành vi này là “sử dụng tác phẩm”- một hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định tại điều 28, Luật Sở hữu trí tuệ? Chính việc quy định không rõ ràng về “trích dẫn hợp lí” đã gây ra nhiều vụ việc còn tranh cãi Đơn cử như vụ việc tranh chấp dân sự liên quan đến quyền tác giả giữa hai nhà nghiên cứu truyện Kiều là ông Đào Thái Tôn và ông Nguyễn Quang Tuân2 Mặc dù đến nay

đã có quyết định phúc thẩm của tòa án nhưng vụ việc vẫn còn được nhắc tới và được các nhà làm luật phân tích để thấy sự bất cập trong quy định về “trích dẫn hợp lý”

Do đó, để thống nhất về cách hiểu cũng như áp dụng pháp luật, tránh tình trạng tranh chấp như hiện nay, em mong nhà làm luật hãy xem xét, sửa đổi, bổ sung thêm quy định hướng dẫn cụ thể về “trích dẫn hợp lý”, theo đó, nếu việc trích dẫn toàn bộ tác phẩm để bình luận, minh họa thì sẽ được coi là “sử dụng tác phẩm”, do đó cần phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả

• Ví dụ minh họa: Hiện nay, trong thư viện của các nhà trường có rất nhiều luận văn, luận án và các bài báo khoa học của các tác giả nổi tiếng nhằm giúp cho sinh viên tích lũy thêm kiến thức trong quá trình học tập Mặc dù vậy, không phải bất cứ khi nào sinh viên cũng có thể ở thư viện để nghiên cứu Do đó,

có nhiều sinh viên đã photo các bài báo để tiện nghiên cứu tại nhà, việc photo

2 https://tuoitre.vn/tu-mot-vu-kien-ban-quyen-hieu-luat-cach-nao-cung%E2%80%A6-dung-181045.htm

Trang 8

này chỉ được phép photo thành một bản Hành vi này không được coi là trái pháp luật do phù hợp với quy định tại điểm a, khoản 1, điều 25, Luật Sở hữu trí

tuệ là: “Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy

của cá nhân” Nhận thấy, quy định này rất phù hợp với thời điểm hiện tại, vừa

tạo điều kiện cho các em học sinh có thể dễ dàng học tập, vừa không xâm phạm tới các quyền tác giả Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp các bạn học sinh khi

đã được photo tại thư viện, đã tự tiện photo ở các quán in thành nhiều bản khác nhau, và hành vi này không thuộc trường hợp được quy định tại điều 25 nữa Đây chính là bất cập mà luật chưa thể giải quyết được

Các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 26)

Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao Đây là ngoại lệ dành riêng cho những trường hợp đặc thù về lĩnh vực hoạt động, những chủ thể này thường xuyên sử dụng tác phẩm, bản ghi âm trong hoạt động kinh doanh, thương mại như vũ trường, nhà hàng, khách sạn,… để tạo điều kiện thuận lợi cho những chủ thể này trong quá trình sử dụng tác phẩm, pháp luật quy định họ không phải xin phép tác giả nhưng vẫn phải trả nhuận bút, thù lao khi sử dụng

Quy định tại điều 26 được hiểu là tổ chức phát sóng khi sử dụng tác phẩm

để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất

kì hình thức nào thì mới phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu; còn nếu chương trình phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền thì không phải trả nhuận bút, thù lao cho tác giả

Quy định này phù hợp với thực tiễn của Việt Nam vì trong nhiều năm qua, phần lớn tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, kể cả nguồn nhân lực sáng tạo chung đều được hình thành bởi sự đầu tư, bao cấp của Nhà nước và xã hội Do

đó, phải tính đến lợi ích của Nhà nước và cộng đồng xã hội Đồng thời, cũng phù hợp với khoản 2 Điều 11 Công ước Berne cho phép quốc gia thành viên được quy định điều kiện áp dụng quyền tác giả, bảo đảm không vi phạm quyền

Trang 9

tinh thần cũng như quyền được nhận thù lao hợp lý của tác giả Quy định như vậy cũng không mâu thuẫn với Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội Quyền sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự đã được quy định trong Bộ luật dân sự

và Luật sở hữu trí tuệ Vì vậy, trước hết cần thực hiện theo nguyên tắc thoả thuận Trường hợp các bên không thoả thuận được thì giao Chính phủ quy định

về mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán để thực hiện; đồng thời làm căn cứ để Toà án giải quyết khi đương sự khởi kiện tại Toà án

• Ví dụ minh họa: Trong thời đại khoa học- kỹ thuật phát triển như hiện nay Việc lấy những ca khúc, bản video ghi hình để phát sóng không còn là điều hiếm thấy nữa Đặc biệt là tại các quán karaoke, số lượng bản ghi âm, ghi hình

là rất nhiều Và các bản ghi âm, ghi hình này khi được sử dụng trong quá trình kinh doanh thì không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo quy định tại điều 26, Luật SHTT 2005 Điều này là hợp lý, do việc các quán karaoke lấy số lượng bản ghi âm, ghi hình rất nhiều nên việc xin phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ trở nên cồng kềnh và rắc rối Ngoài ra, do các quán karaoke sử dụng hình ảnh hay âm thanh của các bản ghi âm, ghi hình nhằm mục đích kinh doanh nên để đảm bảo cho quyền lợi của tác giả thì các quán karaoke cần phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả do họ đã cống hiến khả năng của bản thân để có những bản ghi âm, ghi hình tốt nhất cho các quán karaoke thực hiện hoạt động thương mại của mình

II.Đánh giá về việc Tổng công ty Sao Sáng sử dụng tên thương mại

“Công ty xuất nhập khẩu Sao Sáng cho công ty với dự định thành lập

1 Quyền của Công ty xuất nhập khẩu Sao Sáng đã được thành lập ở tỉnh

K đối với tên thương mại của công ty mình

• Đối tượng được bảo hộ là tên thương mại:

Đầu tiên cần hiểu về khái niệm tên thương mại, theo khoản 21, điều 4, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi năm 2009, 2019:

“Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động

Trang 10

kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.”

Theo Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ thì đối tượng quyền sở hữu trí tuệ gồm:

“1 Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa

học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá

2 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý

3 Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.”

Theo bài thì đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ là tên thương mại nên đối tượng được bảo hộ trong trường hợp này là tên thương mại

• Căn cứ xác lập quyền SHCN đối với tên thương mại của công ty:

Theo điểm b, khoản 3, điều 6, Luật Sở hữu trí tuệ quy định “Quyền Sở

hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại”

Khoản 4, Điều 6, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo

vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ với nội dung: “Đối

với tên thương mại, đối tượng được bảo hộ được xác định trên cơ sở quá trình

sử dụng, lĩnh vực và lãnh thổ sử dụng tên thương mại đó.”

Do đó, ta cần nhận định về việc bảo hộ tên thương mại đối với Công ty xuất nhập khẩu Sao Sáng được thành lập ở tỉnh K thông qua tên thương mại, khu vực kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh hợp pháp, thời điểm bắt đầu sử dụng

Ngày đăng: 09/12/2022, 11:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nghị định số 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2018
3. Nghị định số 105/2006/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 105/2006/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
4. Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
5. Bàn về quy định của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam liên quan đến giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan / Vũ Thị Hải Yến // Luật học. Số 7/2010, tr. 37 - 45, 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quy định của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam liên quan đến giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan
Tác giả: Vũ Thị Hải Yến
Nhà XB: Luật học
Năm: 2010
6. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại tại Việt Nam : luận văn thạc sĩ Luật học / Đỗ Việt Hà ; TS. Trần Lê Hồng hướng dẫn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại tại Việt Nam
Tác giả: Đỗ Việt Hà
7. Hoàn thiện pháp luật bảo hộ tên thương mại ở Việt Nam hiện nay / Phạm Thị Thúy Liễu // Dân chủ và Pháp luật. Số 10/2015, tr. 35 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật bảo hộ tên thương mại ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Thị Thúy Liễu
Nhà XB: Dân chủ và Pháp luật
Năm: 2015
8. Từ một vụ kiện bản quyền: Hiểu luật cách nào cũng… đúng: https://tuoitre.vn/tu-mot-vu-kien-ban-quyen-hieu-luat-cach-nao-cung%E2%80%A6-dung-181045.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ một vụ kiện bản quyền: Hiểu luật cách nào cũng… đúng
9. Về vấn đề trích dẫn tác phẩm của người khác: https://www.agllaw.com.vn/ve-van-de-trich-dan-tac-pham-cua-nguoi-khac/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề trích dẫn tác phẩm của người khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w