1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng thuyết bên liên quan và thuyết thể chế phân tích mối quan hệ giữa áp lực các bên liên quan và chiến lược môi trường doanh nghiệp và các mối quan hệ kiểm soát

27 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng thuyết bên liên quan và thuyết thể chế phân tích mối quan hệ giữa áp lực các bên liên quan và chiến lược môi trường doanh nghiệp và các mối quan hệ kiểm soát
Tác giả Phùng Mạnh Hưng
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị Kinh doanh
Thể loại Kỷ yếu hội thảo
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 613,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Vận dụng thuyết bên liên quan và thuyết thể chế phân tích mối quan hệ giữa áp lực các bên liên quan và chiến lược môi trường doanh nghiệp và các mối quan hệ kiểm soát trình bày một số cơ sở lý thuyết về chiến lược môi trường doanh nghiệp và các bên liên quan.

Trang 1

MÔI TRƯỜNG DOANH NGHIỆP VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ KIỂM SOÁT

Phùng Mạnh Hùng 1

Tóm lược: Mối quan hệ giữa áp lực bên liên quan và chiến lược môi trường

doanh nghiệp là một chủ đề nghiên cứu phổ biến trong bối cảnh các nền kinh tế trên thế giới hướng tới phát triển bền vững, tuy nhiên do giới hạn về mẫu nghiên cứu nên các nghiên cứu hiện nay chưa thể đưa ra được một kết luận khái quát

về áp lực bên liên quan có ảnh hưởng quan trọng nhất tới chiến lược môi trường doanh nghiệp Thông qua tập hợp dữ liệu từ 58 nghiên cứu thực nghiệm, phân loại chúng vào 04 nhóm áp lực bên liên quan: bên trong (nội bộ), cưỡng chế, thị trường và xã hội Sau đó phân tích mối quan hệ giữa áp lực các bên liên quan

và chiến lược môi trường doanh nghiệp bằng phương pháp phân tích tổng hợp, kết quả là: Áp lực từ bên liên quan bên trong có ảnh hưởng quan trọng nhất tới

áp dụng chiến lược môi trường, áp lực các biên liên quan có ảnh hưởng lớn hơn tại các quốc gia phát triển so với các quốc gia đang phát triển, các doanh nghiệp phi sản xuất có thể thay đổi chiến lược môi trường dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp trong ngành sản xuất Kết quả nghiên cứu hàm ý rằng để chuyển đổi sang một nền kinh tế xanh cần những thay đổi mạnh mẽ từ các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là những doanh nghiệp trong ngành hàng ô nhiễm

Từ khóa: Thuyết thể chế, thuyết biên liên quan, chiến lược môi trường doanh

nghiệp, áp lực bên trong, áp lực thị trường, áp lực cưỡng chế, áp lực xã hội.

1 Trư ờng Đại học Thương m ại

Tác giả liên hệ Email: hungqtcl@tmu.edu.vn

Trang 2

cứu quan trọng của chủ đề này Từ bên ngoài doanh nghiệp, với vai trò

là chủ thể cốt lõi trong quản trị môi trường, các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với những quy định của cơ quan quản lý nhà nước

và sự giám sát từ các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng Từ bên trong doanh nghiệp, để đáp ứng với nhu cầu quan tâm tới môi trường của các bên liên quan bên ngoài, doanh nghiệp phải phát triển các chiến lược để cải thiện hành vi môi trường, dành nhiều sự quan tâm hơn cho nội dung chiến lược môi trường, thay đổi phương thức phản ứng với áp lực môi trường từ các bên liên quan để đạt được tính hợp pháp (Aragón-Correa

& Sharma, 2003)

Mối quan hệ giữa áp lực bên liên quan và chiến lược môi trường về

cơ bản được xem xét ở hai quan điểm tiếp cận: Quan điểm dựa trên các bên liên quan tập trung vào phương thức các bên liên quan khác nhau ảnh hưởng tới chiến lược môi trường doanh nghiệp (Céspedes-Lorente

et al., 2003; Henriques & Sadorsky, 1996) và quan điểm dựa trên thể chế mới tập trung vào phương thức doanh nghiệp phản ứng với các

áp lực thể chế (Jennings & Zandbergen, 1995) Gần đây, Francia & Garcés-Ayerbe (2019) đã chứng minh rằng tính chủ động với môi trường tự nhiên sẽ giúp đạt được lợi ích kinh tế Zhang et al (2019) phát hiện ra sự khác nhau trong hành vi xã hội giữa các doanh nghiệp phương Đông và phương Tây Das et al (2019) cho rằng chiến lược môi trường doanh nghiệp có ảnh hưởng ý nghĩa tới hành vi môi trường một cách tự nguyện

Cañón-De-Mặc dù có nhiều nghiên cứu đã triển khai về chủ đề áp lực bên liên quan và chiến lược môi trường doanh nghiệp, tuy nhiên tất cả những nghiên cứu này đều không đưa ra được một kết luận chung là bên liên quan nào là động lực chủ yếu trong triển khai chiến lược môi trường

Do vậy, cơ chế ảnh hưởng giữa các bên liên quan này là chưa rõ ràng Kết luận chung sẽ phụ thuộc vào tính sẵn có của dữ liệu, giới hạn của phương pháp đo lường và yếu tố bối cảnh Các nghiên cứu trước đây chưa kiểm định được mối quan hệ của tất cả bên liên quan và chiến lược môi trường vì hạn chế bởi sự sẵn có của dữ liệu Ví dụ như He et

al (2018) thì nghiên cứu về áp lực của bên liên quan bên trong và bên ngoài Maggioni & Santangelo (2017) tập trung vào các tổ chức phi lợi

Trang 3

nhuận về môi trường, những nghiên cứu này đều dựa trên tính sẵn có của dữ liệu Vấn đề tiếp theo là giới hạn của phương pháp đo lường có thể gây khó khăn khi đưa ra kết luận chung Một số nghiên cứu sử dụng bảng hỏi do vậy sẽ khó đạt được cỡ mẫu lớn hơn, từ đó một kết luận có tính khái quát cao hơn sẽ khó đạt được Yếu tố bối cảnh cũng cần được đưa vào trong các nghiên cứu, ví dụ như yếu tố trình độ phát triển kinh

tế (sự khác biệt giữa những nước phát triển và nước đang phát triển) và đặc thù ngành hàng khác nhau (sự khác biệt giữa những ngành sản xuất

và ngành phi sản xuất) là những yếu tố cần được khám phá thêm để làm rõ mối quan hệ giữa áp lực bên liên quan và chiến lược môi trường doanh nghiệp

Từ những căn cứ này, mục tiêu của nghiên cứu là sử dụng các kết quả từ những nghiên cứu trước đây về áp lực bên liên quan và chiến lược môi trường doanh nghiệp để làm rõ cơ chế ảnh hưởng và đạt được một kết luận có tính khái quát cao hơn Do vậy trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp (meta-analysis) để tập hợp kết quả từ các nghiên cứu khác nhau từ 58 nghiên cứu trong giai đoạn

từ năm 1996 đến năm 2018 liên quan tới chủ đề áp lực bên liên quan và chiến lược môi trường, từ đó làm rõ cơ chế ảnh hưởng của các bên liên quan đối với chiến lược môi trường doanh nghiệp

2 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC MÔI TRƯỜNG DOANH NGHIỆP VÀ CÁC BÊN LIÊN QUAN

2.1 Khái niệm “chiến lược môi trường doanh nghiệp”

Chiến lược môi trường doanh nghiệp là một tập hợp các kế hoạch chiến lược hướng tới tối hiểu hóa các tác động của doanh nghiệp lên môi trường tự nhiên, bao gồm: sản xuất sản phẩm, quá trình kinh doanh và các chính sách môi trường (giảm xả thải và giảm sử dụng năng lượng,

sử dụng các nguồn năng lượng sạch, sử dụng các hệ thống quản trị môi trường) (Bansal & Roth, 2000; Walls et al., 2011) Xây dựng và triển khai chiến lược môi trường là một quá trình phức tạp và sự tham gia của các bên liên quan bên ngoài đóng một vai trò ảnh hưởng quan trọng Triển khai chiến lược môi trường hiệu quả sẽ mang lại sự ổn định và tin tưởng lẫn nhau trong mối quan hệ giữa các bên liên quan

Trang 4

Để phản ứng lại với các áp lực môi trường từ bên liên quan, các doanh nghiệp có những cách phản ứng chiến lược môi trường rất khác nhau Hunt & Auster (1990) và Roome (1992) phân loại chiến lược môi trường doanh nghiệp căn cứ vào mức độ quản trị môi trường Những nhà nghiên cứu tiếp theo đã phân loại chiến lược môi trường doanh nghiệp từ cấp độ phản ứng (bị động) đến một chiến lược môi trường chủ động hơn (Aragón-Correa, 1998; Sharma và Vredenburg, 1998) Chiến lược môi trường bị động là một phản ứng tiêu cực đối với những áp lực từ môi trường tự nhiên Các doanh nghiệp áp dụng chiến lược này thường đầu tư vào các công nghệ “cuối nguồn” để đáp ứng với những yêu cầu tối thiểu của cơ quan quản lý về môi trường, tối thiểu hóa chi phí đầu tư vào bảo vệ môi trường và do vậy có thể giảm rủi ro từ ô nhiễm môi trường (Roome, 1992) Những doanh nghiệp áp dụng chiến lược môi trường bị động chủ yếu tập trung vào phản ứng với áp lực của

cơ quan quản lý về môi trường Boiral (2007) và Lim và Tsutsui (2012) cho rằng những phản ứng như vậy chỉ để đạt được tính hợp pháp Trái ngược với chiến lược bị động, chiến lược môi trường chủ động nhấn mạnh tới ngăn chặn ô nhiễm, điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cấp các năng lực môi trường (Hart, 1995) Sharma và Henriques (2005) cho rằng để xây dựng các năng lực môi trường, doanh nghiệp cần tích hợp hiệu quả các nguồn lực bên trong với nguồn lực bên ngoài Một chiến lược môi trường chủ động sẽ thể hiện cho hành vi môi trường bền vững của doanh nghiệp, một chiến lược phản ứng chủ động và quan tâm tới nhiều bên liên quan hơn trong sự phát triển bền vững

2.2 Cơ sở lý thuyết về các bên liên quan

2.2.1 Thuyết thể chế mới (The neo-Institutional View)

DiMaggio và Powell (1983) cho rằng tất cả các tổ chức hình thành nên một lĩnh vực nào đó thường bao gồm: nhà cung ứng, khách hàng,

cơ quan quản lý và các tổ chức khác cung ứng sản phẩm và dịch vụ Sự tương tác giữa tổ chức và môi trường trong lĩnh vực đó sẽ tạo thành một quá trình thể chế hóa từ trên xuống dưới, ảnh hưởng tới tổ chức trong lĩnh vực đó qua ba áp lực thể chế: áp lực cưỡng chế, áp lực chuẩn mực

và áp lực bắt chước từ đó tạo ra hiện tượng đồng hình tổ chức Trong

Trang 5

một lĩnh vực nào đó đã phát triển và chịu ảnh hưởng từ áp lực thể chế, các doanh nghiệp phải đáp ứng với yêu cầu của những bên liên quan khác nhau để đạt được tính hợp pháp bằng cách áp dụng những cấu trúc quản trị và hành vi thị trường giống nhau Jennings và Zandbergen (1995) là những học giả áp dụng sớm thuyết thể chế vào phân tích chiến lược môi trường doanh nghiệp Jenning và Zandbergen đã mở rộng lý thuyết của DiMaggio và Powell (1983) trong một nghiên cứu về môi trường tự nhiên và chỉ ra rằng áp lực thể chế lên hành vi môi trường của doanh nghiệp ở ba khía cạnh: cưỡng chế, chuẩn mực, bắt chước và

đề xuất chủ đề nghiên cứu về áp lực thể chế và chiến lược môi trường Một số học giả đã bổ sung các áp lực từ chuỗi cung ứng (Zhu & Sarkis, 2007), áp lực thị trường (Sine & Lee, 2009) và áp lực bên trong để bổ sung cho học thuyết hiện tại Kết quả của những nghiên cứu này chỉ ra rằng áp lực thể chế có ảnh hưởng tích cực đến phản ứng chiến lược môi trường của doanh nghiệp (Castka & Prajogo, 2013; Heras-Saizarbitoria

& Boiral, 2013)

2.2.2 Thuyết bên liên quan (Stakeholder-Based View)

Theo học thuyết bên liên quan, nhiều bên liên quan khác nhau

sẽ thúc đẩy doanh nghiệp không chỉ quan tâm tới các lợi ích kinh

tế ngắn hạn như là mục tiêu ưu tiên mà cần quan tâm nhiều hơn tới triển khai chiến lược môi trường (Buysse & Verbeke, 2003; Eesley & Lenox, 2006) Nghiên cứu đầu tiên bàn về áp lực của bên liên quan lên chiến lược môi trường doanh nghiệp được thực hiện bởi Henriques & Sadorsky (1996), hai tác giả đã kiểm định mối quan hệ giữa áp lực bên liên quan và xây dựng/ triển khai kế hoạch môi trường Kết quả cho thấy áp lực từ khách hàng, cổ đông, cơ quan quản lý và các nhóm cộng đồng có ảnh hưởng tích cực tới kế hoạch môi trường nhưng dưới áp lực của nhóm hành lang thì doanh nghiệp lại giảm sự quan tâm tới kế hoạch môi trường hơn Những nghiên cứu tiếp theo bắt đầu phân chia các bên liên quan thành nhiều nhóm dựa trên các tiêu chí phân loại khác nhau,

từ đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhóm tới chiến lược môi trường (Lee et al., 2018) đã phân tích sự hỗ trợ từ bên liên quan bên trong và cơ chế ảnh hưởng từ áp lực bên liên quan bên ngoài tới chiến

Trang 6

lược môi trường Thông qua phản ứng với những mối quan tâm về môi trường của bên liên quan, doanh nghiệp có thể đạt được mối quan hệ tin tưởng, tính hợp pháp và danh tiếng tốt Áp dụng các chiến lược môi trường khác nhau để thỏa mãn các mối quan tâm của các bên liên quan khác nhau.

2.2.3 Kết hợp hai lý thuyết

Dựa trên những phân tích ở trên, thuyết dựa trên thể chế mới và thuyết bên liên quan thể hiện ảnh hưởng của áp lực bên liên quan đến chiến lược môi trường doanh nghiệp ở những góc nhìn khác nhau Kết hợp với những nghiên cứu từ những quan điểm khác nhau này có thể thấy các quan điểm lý thuyết đang tập trung vào “áp lực, trạng thái

và phản ứng” Dưới áp lực từ những bên liên quan khác nhau, doanh nghiệp cần đưa ra quyết định phản ứng như thế nào với vấn đề môi trường, điều này là rất quan trọng với sự tăng trưởng của doanh nghiệp.Thuyết bên liên quan chỉ tập trung vào sự tham gia của bên liên quan và đặt ra các áp lực lên việc ra quyết định chiến lược về môi trường của doanh nghiệp, như vậy là chưa đủ để khám phá cơ chế ảnh hưởng của áp lực bên liên quan Trong khi đó, thuyết thể chế mới khám phá áp lực bên liên quan từ các chuẩn mực thể chế: cưỡng chế, chuẩn mực và bắt chước, tuy nhiên thuyết này thiếu phân tích về khía cạnh thị trường trong áp lực bên liên quan Trong nghiên cứu này sẽ kết hợp hai

lý thuyết và thể hiện một cơ chế ảnh hưởng đầy đủ hơn về áp lực bên liên quan

Trước tiên, tác giả sẽ nhận dạng các bên liên quan trong tổ chức, tập trung vào các tổ chức ảnh hưởng tới chiến lược môi trường doanh nghiệp (Freeman, 1984) đã phân loại thành 10 nhóm biên liên quan với mức độ ảnh hưởng tới chiến lược môi trường doanh nghiệp là rất khác nhau Trong những nghiên cứu sau này, các học giả tập trung nhiều hơn vào những bên liên quan có mức độ ảnh hưởng lớn tới chiến lược môi trường (Buysse & Verbeke, 2003; Sharma & Henriques, 2005) Do vậy,

sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp (meta-analysis) là cần thiết để nhận dạng những bên liên quan có ảnh hưởng đáng kể tới doanh nghiệp

Trang 7

Tiếp theo, tác giả phân tích cơ chế quản lý của các bên liên quan (cách thức từng bên liên quan ảnh hưởng tới chiến lược môi trường)

Về cơ bản, cơ chế gây áp lực của các bên liên quan là rất khác nhau do

sự khác biệt về thuộc tính của nhóm hoặc tổ chức Li et al (2018) đã

đề xuất một khuôn khổ quản lý xanh, trong đó nhóm tác giả phân loại thành: cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế quản lý hành chính và cơ chế quản

lý xã hội Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng áp lực cưỡng chế và áp lực xã hội để đại diện cho cơ chế cưỡng chế từ cơ quan quản lý, tổ chức bên thứ ba và cộng đồng Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng áp lực bên trong đại diện cho cổ đông, ban quản trị và người lao động trong doanh nghiệp Xuất phát từ áp lực từ chuỗi cung ứng và cạnh tranh trên thị trường, trong nghiên cứu này cũng bổ sung thêm áp lực từ thị trường

2.3 Cơ chế ảnh hưởng của các bên liên quan

Dựa trên những nghiên cứu trước đây, tác giả nhận thấy để khám phá cơ chế ảnh hưởng của các bên liên quan lên chiến lược môi trường doanh nghiệp thì cần nhóm chúng vào các nhóm khác nhau, từ đó có thể nhìn thấy sự khác biệt giữa các nhóm và cho phép chúng ta có một cái nhìn đa chiều hơn về cơ chế ảnh hưởng Từ các nghiên cứu, tác giả phân loại áp lực bên liên quan thành 4 nhóm: áp lực bên trong, áp lực cưỡng chế, áp lực thị trường và áp lực xã hội là đại diện cho các bên liên quan: cổ đông, người lao động, nhà quản trị, chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng, hiệp hội ngành, đối thủ cạnh tranh, nhà cung ứng và người mua

- Áp lực bên trong:

Các bên liên quan bên trong (nội bộ) có ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành chiến lược môi trường, những nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào các bên liên quan bên trong là cổ đông, nhà quản trị và người lao động (Delmas & Toffel, 2004; Singh et al., 2014) Henriques

và Sadorsky (1999) tin rằng cổ đông có ảnh hưởng lớn đến phản ứng chiến lược môi trường của doanh nghiệp và hành vi môi trường của doanh nghiệp phản ánh nhận thức môi trường của cổ đông Những cổ đông lớn thường bị ảnh hưởng bởi danh tiếng môi trường và hiệu quả sản xuất và họ sẽ yêu cầu doanh nghiệp triển khai một chiến lược môi trường tích cực Testa et al (2018) cho rằng áp lực từ cổ đông sẽ thúc

Trang 8

đẩy doanh nghiệp tích cực giới thiệu hệ thống quản trị môi trường Thêm vào đó, với sự gia tăng các nhà đầu tư trách nhiệm xã hội trong những năm gần đây hàm ý rằng hiệu quả môi trường sẽ là một lợi thế cạnh tranh để thu hút nhà đầu tư và đạt được lợi ích đầu tư (Deng et al., 2013) Bên cạnh cổ đông, những nghiên cứu gần đây cũng tập trung vào nhà quản trị bên trong Những nhà quản trị chịu trách nhiệm cho các hoạt động vận hành hàng ngày và liên quan trực tiếp tới các thực hành quản trị môi trường Do vậy, nhận thức môi trường của nhà quản trị là một yếu tố cốt lõi ảnh hưởng chiến lược môi trường Khi các nhà quản trị cấp cao quan tâm nhiều hơn tới vấn đề môi trường, họ sẽ phân

bổ nhiều nguồn lực hơn cho các hoạt động quản trị môi trường để triển khai các đổi mới về môi trường Các mối quan tâm môi trường của nhà quản trị có ảnh hưởng tới chiến lược đổi mới về môi trường do ban quản trị hy vọng có thể tạo ra ấn tượng với các bên liên quan bên ngoài về sự quan tâm của doanh nghiệp tới các vấn đề môi trường thông qua chiến lược môi trường (Eiadat et al., 2008) Các nghiên cứu gần đây chứng minh rằng nhận thức môi trường của ban quản trị có ảnh hưởng tích cực đến triển khai chiến lược môi trường (Buysse & Verbeke, 2003; Liu et al., 2010) Bên cạnh cổ đông và nhà quản trị, người lao động cũng là một bên liên quan đáng quan tâm, họ không chỉ đóng vai trò là một bên liên quan mà còn là một nguồn lực của doanh nghiệp Người lao động là một bên liên quan quan trọng, là thành phần cốt lõi trong phổ biến các tri thức thực hành môi trường tốt và thúc đẩy sự cải thiện các kết quả môi trường (Sharma & Henriques, 2005) Những nghiên cứu gần đây chỉ ra những ảnh hưởng của người lao động đến chiến lược môi trường, một mặt là thông qua nhận thức của họ về vấn đề môi trường, mặt khác khi so sánh với các bên liên quan khác thì người lao động có ảnh hưởng trực tiếp nhiều hơn tới hành vi chiến lược môi trường của doanh nghiệp Các kết quả thực nghiệm cho thấy mối tương quan tích cực giữa mức độ hợp tác doanh nghiệp và người lao động tới triển khai một chiến lược môi trường chủ động (Alt et al., 2015)

- Áp lực thị trường:

Áp lực thị trường đến từ các bên liên quan trong thị trường bao gồm các bên liên quan đến cạnh tranh và chuỗi cung ứng Để đạt được lợi

Trang 9

thế cạnh tranh, các chủ thể trong thị trường phải không ngừng nâng cao các công nghệ môi trường, từ đó đặt ra áp lực lên doanh nghiệp Trước tiên, cơ chế áp lực từ thị trường đến từ đối thủ cạnh tranh Ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh trong ngành không ngừng áp dụng công nghệ môi trường để cải thiện hoạt động sản xuất và kinh doanh, các bên liên quan bên ngoài sẽ có xu hướng nghiêng về phía các đối thủ này để chọn mua sản phẩm và dịch vụ Do vậy, các đối thủ giới thiệu và áp dụng công nghệ môi trường sẽ đạt được sự nhận biết cao hơn từ phía các bên liên quan bên ngoài (Bansal & Roth, 2000), từ đó sẽ chiếm thị phần của doanh nghiệp và thúc đẩy doanh nghiệp phải thay đổi chiến lược môi trường để cạnh tranh và giành lại lợi thế thị trường Bên cạnh đối thủ cạnh tranh, tổ chức hiệp hội ngành hàng cũng điều tiết hành vi môi trường của doanh nghiệp thông qua thiết lập các tiêu chuẩn và chuẩn mực của ngành (Delmas & Montes-Sancho, 2010) Các doanh nghiệp thành viên trong hiệp hội ngành hàng sẽ đối mặt với áp lực môi trường từ các tiêu chuẩn và chuẩn mực này, do vậy sẽ có xu hướng triển khai một chiến lược môi trường chủ động hơn Hiệp hội ngành hàng có thể thúc đẩy một bầu không khí bảo vệ môi trường trong tổ chức và giám sát các hành vi môi trường của doanh nghiệp bằng cách gửi đi các tín hiệu về lợi ích của

áp dụng hệ thống quản trị môi trường (Testa et al., 2012) Thêm vào đó, hiệu ứng tiêu chuẩn trong hiệp hội ngành hàng cũng gây áp lực lên doanh nghiệp và buộc doanh nghiệp có thể phải bắt chước các hệ thống quản trị môi trường từ đối thủ cạnh tranh Nhà cung ứng và người mua cũng là những bên liên quan quan trọng trong nhóm thị trường có ảnh hưởng tới việc thiết lập chiến lược môi trường trong doanh nghiệp (Liu et al., 2010; Testa et al., 2012) Những nghiên cứu gần đây đã khám phá ảnh hưởng của áp lực môi trường lên các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng và phát hiện ra rằng một doanh nghiệp áp dụng chiến lược môi trường chủ động có thể đạt được niềm tin trong chuỗi cung ứng (Sharfman & Shaft, 2009) Mặt khác, các nhà cung ứng xanh có thể hạn chế hành vi gây ô nhiễm của các doanh nghiệp ở cuối nguồn cung ứng thông qua đánh giá (Gimenez & Sierra, 2013), danh tiếng (Chen et al., 2018) và cơ chế mạng lưới (Chkanikova & Mont, 2015) của cả hai bên, sau đó yêu cầu doanh nghiệp mua phải cải thiện chiến lược môi trường Mặt khác, người mua cũng có thể gây sức ép bằng cách tẩy chay tập thể hoặc các vụ kiện để

Trang 10

ảnh hưởng tới chiến lược môi trường của doanh nghiệp (Horbach et al., 2012; Jiang & Bansal, 2003).

- Áp lực cưỡng chế:

Áp lực cưỡng chế đến từ chính phủ, cơ quan quản lý và chính sách pháp luật Áp lực cưỡng chế bắt buộc doanh nghiệp phải thực thi các thực hành xanh bằng cách sử dụng công cụ trừng phạt gây ô nhiễm môi trường hoặc thuế bảo vệ môi trường Áp lực cưỡng chế dưới dạng các quy định về môi trường được sử dụng để thúc đẩy các thực hành môi trường trong doanh nghiệp bằng quyền lực hành chính, từ đó buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh chiến lược môi trường Mặt khác, quyền lực hành chính từ các quy định thể hiện qua kiểm soát ô nhiễm từ hành

vi xả thải ra môi trường của doanh nghiệp Quyền lực hành chính cũng khuyến khích doanh nghiệp áp dụng các hệ thông quản trị môi trường (Johnstone & Labonne, 2009) như ISO 14001 và công nghệ đổi mới sinh thái (Antonioli et al., 2013) để cải thiện chất lượng kiểm soát ô nhiễm và công nghệ ngăn chặn ô nhiễm

Tuy nhiên một số nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng áp lực môi trường

từ chính phủ và các cơ quan quản lý trong một số trường hợp không thể định hướng cho hành vi môi trường của doanh nghiệp Điển hình là Palmer et al (2018) và Kassinis và Vafeas (2006) cho rằng các quy định môi trường quá chặt chẽ gây ra gánh nặng chi phí lên doanh nghiệp và doanh nghiệp khó chấp nhận những chi phí này Wang et al (2017) phát hiện ra có một mối quan hệ hình chữ “U” ngược giữa các mức độ điều tiết của chính phủ và hành động môi trường trong các nghiên cứu với các doanh nghiệp tại thị trường Trung Quốc Chính phủ không thể tăng đầu tư cho hành động bảo vệ môi trường trong doanh nghiệp (Zhou & Shen, 2019) Mặc dù không có thỏa thuận nào về cơ chế đứng đằng sau

áp lực cưỡng chế của chính phủ và cơ quan quản lý đối với phản ứng chiến lược về môi trường của doanh nghiệp, nhưng nó vẫn là một nhân

tố quan trọng ảnh hưởng tới chiến lược môi trường doanh nghiệp

- Áp lực xã hội:

Áp lực xã hội đến từ các chuẩn mực và hành động được thể chế hóa mà qua đó công chúng và các tổ chức phi chính phủ đóng một vai

Trang 11

trò quan trọng trong chiến lược môi trường doanh nghiệp (Jennings & Zandbergen, 1995; Zhu et al., 2016) Nhận thức về môi trường của công chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc ra quyết định của doanh nghiệp liên quan tới trách nhiệm xã hội môi trường (Marquis et al., 2007), bởi vì các chuẩn mực xã hội quyết định các hành động của doanh nghiệp

có giá trị xã hội hay không Nhận thức về vấn đề môi trường sẽ ảnh hưởng đến cách nhìn nhận của công chúng đối với các vấn đề môi trường (Sexton & Sexton, 2014) Khi công chúng có một nhận thức mạnh mẽ, họ

sẽ gây sức ép lên doanh nghiệp Các nghiên cứu liên quan chỉ ra rằng khi công chúng có nhận thức mạnh mẽ về môi trường thì các doanh nghiệp

có xu hướng sử dụng các nguồn năng lượng sạch hơn (Sine & Lee, 2009) Các nghiên cứu về chiến lược môi trường chỉ ra rằng doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi nhận thức môi trường và quan tâm tới môi trường hơn trong việc ra các quyết định kinh doanh (Lee & Lounsbury, 2015) Tuy nhiên nhận thức về môi trường của công chúng có ít ảnh hưởng tới hành vi môi trường của doanh nghiệp, họ triển khai các hành động môi trường đơn giản vì lợi ích kinh tế hơn là sự chú ý từ cộng đồng Bên cạnh nhận thức công chúng, ảnh hưởng từ các tổ chức phi chính phủ (NGOs) cũng đáng quan tâm Các tổ chức này hoạt động như là một bên giám sát thứ ba đối với môi trường tự nhiên, giám sát các hành vi môi trường của doanh nghiệp Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng NGOs có thể tham gia tích cực vào quá trình quản trị xanh của doanh nghiệp bằng cách ảnh hưởng tới danh tiếng thông qua các cơ chế gián tiếp như công khai chỉ trích và theo đuổi các vụ kiện về môi trường, từ đó ảnh hưởng tới chiến lược môi trường (Eesley & Lenox, 2006; Sharma & Henriques, 2005) Các nghiên cứu gần đây cũng khẳng định cơ chế giám sát môi trường của NGOs đã làm thay đổi chiến lược môi trường trong doanh nghiệp (Maggioni & Santangelo, 2017)

3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1 Giới thiệu phân tích tổng hợp (meta-analysis)

Phân tích tổng hợp là một phương pháp phân tích thống kê dựa trên kết quả của các nghiên cứu định lượng trước đó, tích hợp và sáp nhập nhiều nghiên cứu có cùng chủ đề, từ đó có thể đưa ra một kết luận

Trang 12

khái quát hơn từ những nghiên cứu này Do đó, phân tích tổng hợp là một phương pháp định lượng cho phép đưa ra một cái nhìn tích hợp về các lý thuyết cùng chủ đề và giảm các sai số chủ quan của các bài tổng quan nghiên cứu định tính truyền thống Trong những năm gần đây, meta-analysis đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về quản trị Ví dụ như: Nason và Wiklund (Nason & Wiklund, 2018) đã áp dụng meta-analysis để khám phá mối quan hệ giữa quan điểm dựa trên nguồn lực và sự tăng trưởng của doanh nghiệp.

Dựa trên nghiên cứu về áp lực bên liên quan và chiến lược môi trường doanh nghiệp, vẫn còn một số quan điểm trái chiều về cách đo lường chiến lược môi trường thông qua dữ liệu chuẩn như: các báo cáo hàng năm của doanh nghiệp và báo cáo về trách nhiệm xã hội (Walls et al., 2011) Điều này gây khó khăn cho phân tích với lượng mẫu lớn, vì các nghiên cứu chủ yếu sử dụng bảng hỏi, do vậy tạo ra những giới hạn với kết luận nghiên cứu Bằng cách kết hợp những kết quả nghiên cứu giống nhau, phân tích meta-analysis có thể giúp đạt được một kết quả nghiên cứu khái quát hơn, nhấn mạnh tới những hạn chế của nghiên cứu hiện tại, và để xuất các định hướng với bên liên quan cũng như chiến lược môi trường doanh nghiệp

3.2 Phương pháp tìm kiếm dữ liệu

Bước đầu tiên trong phân tích meta-analysis là tìm kiếm các nghiên cứu về chủ đề áp lực bên liên quan và chiến lược môi trường doanh nghiệp Quá trình này gồm ba bước: lựa chọn cơ sở dữ liệu, thu thập các nghiên cứu và truy xuất nghiên cứu

Bước đầu tiên là lựa chọn cơ sở dữ liệu EBSCO, Elsevier, Emerald, Spinger, Wiley, JSTOR, MDPI và Google Scholar là các cơ sở dữ liệu

để tìm kiếm các nghiên cứu uy tín và phù hợp

Bước tiếp theo là thu thập các nghiên cứu Để tìm kiếm các nghiên cứu một cách hệ thống và khoa học, tác giả sử dụng phương pháp của (Mura et al., 2018) bao gồm thiết lập ba nhóm từ khóa: đối tượng nghiên cứu, tính bền vững và giải pháp Mỗi một lần, tác giả sẽ trích xuất một

từ khóa từ mỗi nhóm và loại bỏ những mẫu trùng lặp Danh sách các từ khóa ở trong Bảng 1

Trang 13

Bảng 1 Các từ khóa sử dụng để tìm kiếm nghiên cứu

Sustainab *

Social

Strategy Practice Management Proactivity Responsibility Policy Initiative

* Các tìm kiếm bằng công cụ fuzzy với các từ khóa liên quan

Cuối cùng, tác giả loại bỏ bớt những nghiên cứu không phù hợp Dựa trên các nghiên cứu được thu thập, tác giả đánh giá mức độ liên quan của nghiên cứu với chủ đề áp lực bên liên quan và chiến lược môi trường doanh nghiệp dựa trên tiêu đề nghiên cứu, tóm lược và từ khóa Tiếp theo, tác giả đánh giá phương pháp nghiên cứu, loại bỏ các bài viết phân tích lý thuyết, tổng quan lý thuyết, nghiên cứu tình huống và chỉ giữ lại các nghiên cứu định lượng thuần túy Quá trình này được thực hiện bởi hai tác giả độc lập, những bất đồng trong việc loại bỏ sẽ được thảo luận công khai và đi đến thống nhất Kết quả thu được 58 nghiên cứu phù hợp trong số 32.001 nghiên cứu được tìm kiếm

3.3 Mã hóa dữ liệu, trích xuất và xử lý các chỉ số

3.3.1 Mã hóa và trích xuất dữ liệu

Dựa trên các nghiên cứu được thu thập, tác giả tiến hành mã hóa thông tin của mẫu Thông tin mã hóa bao gồm: thông tin xuất bản (tác giả, năm xuất bản, tạp chí), nguồn mẫu (ngành và quốc gia), phân loại bên liên quan và trích xuất dữ liệu mẫu (hệ số tương quan) Toàn bộ quá trình được thực hiện bởi hai tác giả độc lập, những bất đồng trong quá trình xử lý được đưa ra thảo luận để đi đến kết luận chung, sau đó quá trình mã hóa được thực hiện đồng nhất

3.3.2 Tính toán mức độ ảnh hưởng

Trong phân tích tổng hợp (meta-analysis), tác giả thu thập các hệ

số tương quan giữa áp lực của bên liên quan và chiến lược môi trường

Ngày đăng: 09/12/2022, 10:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w