TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂNBÀI TẬP CUỐI KỲ CHÍNH SÁCH HƯỚNG ĐÔNG CỦA ẤN ĐỘ QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - ASEAN TRONG THẬP NIÊN ĐẦU CỦA THẾ KỶ XXI Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS...
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI TẬP CUỐI KỲ CHÍNH SÁCH HƯỚNG ĐÔNG CỦA ẤN ĐỘ
QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - ASEAN
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU CỦA THẾ KỶ XXI
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Cảnh Huệ Học viên thực hiện: Nguyễn Văn Lùng 20831060206
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2021
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
2.1 Đối tượng nghiên cứu 2
2.2 Phạm vi nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 4
CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH HƯỚNG ĐÔNG CỦA ẤN ĐỘ VÀ BỐI CẢNH QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI 5
1.1 Chính sách hướng đông của Ấn Độ 5
1.1.1 Sự ra đời và mục tiêu của chính sách hướng Đông 5
1.1.2 Các giai đoạn của chính sách hướng Đông 6
1.1.3 Chính sách Hành động ở phía Đông 6
1.2 Bối cảnh tác động đến quan hệ Ấn Độ - ASEAN trong lĩnh vực kinh tế 7
1.2.1 Bối cảnh thế giới 7
1.2.2 Bối cảnh khu vực 7
1.3 Quan hệ Ấn Độ - ASEAN trước thế kỷ XXI 7
1.3.1 Quan hệ Ấn Độ - Đông Nam Á giai đoạn 1947 - 1967 7
1.3.2 Quan hệ Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 1967 – 1991 8
1.3.3 Quan hệ Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 1991 – 2000 9
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - ASEAN TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI 10
2.1 Quan hệ Ấn Độ - ASEAN trong lĩnh vực kinh tế 10
2.2 Quan hệ Ấn Độ - Singapore trong lĩnh vực kinh tế 12
2.3 Quan hệ Ấn Độ - Myanmar trong lĩnh vực kinh tế 12
2.4 Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế 14
2.5 Quan hệ Ấn Độ - Thái Lan trong lĩnh vực kinh tế 16
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn và đông dân nhất thế giới với bề dày lịch sử và nềnvăn minh vượt bậc trong quá khứ Ấn Độ hiện nay lại có vị thế vô cùng quan trọng trongbức tranh chính trị, xã hội và kinh tế toàn cầu Kinh tế Ấn Độ là một trong những nền kinh
tế lớn trên thế giới, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến các mối quan hệ kinh tế khác Trongkhi đó, Đông Nam Á là một khu vực có vị trí địa lý vô cùng quan trọng trong con đườnggiao thương giữa Ấn Độ và các nước Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản vàcác nước phương Tây Từ khi thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)năm 1967, một số nước Đông Nam Á đã tận dụng được sức mạnh liên kết khu vực để khaithác hiệu quả tiềm năng về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa
Từ năm 1947 đến nay, quan hệ Ấn Độ - Đông Nam Á tương đối ổn định Ấn Độ
đã tích cực ủng hộ hoạt động giành độc lập, tự chủ của các quốc gia Đông Nam Á Cóthể kể đến như Hội nghị Liên Á (3/1947), Hội nghị Bandung (5/1955), là nước sánglập ra “Con đường không liên kết” và tham gia tích cực vào phong trào không liên kết(ra đời năm 1961) (Đào, 2012)
Chính sách hướng Đông của Ấn Độ được công bố năm 1991 và được chú trọngthực hiện dù trải qua một số quá trình đổi tên và các mục tiêu, đối tượng mà nó hướngtới Ban đầu, chính sách này không nêu cụ thể bằng văn bản, kế hoạch nào chính thức,
mà được thể hiện qua báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Chính vì thế, mãi đến
sự kiện Ấn Độ trở thành đối tác đối thoại từng phần của ASEAN, Bộ Ngoại giao Ấn
Độ mới khẳng định chính sách hướng Đông ra đời năm 1992 trong Báo cáo thườngniên 2006 – 2007 Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu vẫn cho rằng chính sách này gắnliền với cuộc cải cách toàn diện đất nước năm 1991
Trong các giai đoạn của việc triển khai chính sách hướng Đông, Ấn Độ đã tậptrung tăng cường quan hệ trên mọi lĩnh vực với khu vực Đông Nam Á Các quốc gia ĐôngNam Á đã có nhiều cơ hội hợp tác trên mọi lĩnh vực với Ấn Độ từ rất sớm Đến thế kỷXXI, cùng với xu hướng phát triển của thế giới, các mục tiêu mà ASEAN hướng đến đãđặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng cho các quốc gia thành viên Trong bối cảnh hướng đếnthành lập các cộng đồng kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh - chính trị, các quốc gia ĐôngNam Á tích cực mở rộng hợp tác với các nước khác, trong đó có Ấn Độ
Trang 4- một đối tác tiềm năng Ấn Độ cũng đã tận dụng thời cơ này để thúc đẩy cơ chế hợp tác về nhiều lĩnh vực như là một phần của chính sách hướng Đông của mình.
Thập niên đầu thế kỷ XXI có thể được xem là bước ngoặt lịch sử của thế giới nóichung và ASEAN nói riêng khi cơ chế hợp tác song phương, đa phương được đẩy mạnh.Mối quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN cũng được tăng cường trên mọi lĩnh vực, trong đó cólĩnh vực kinh tế Đây cũng là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam có bước phát triển mới, tạođiều kiện thuận lợi trong cơ chế hợp tác Ấn Độ - Việt Nam, Ấn Độ - ASEAN Chính
vì thế, vấn đề nghiên cứu về mối quan hệ về kinh tế giữa Ấn Độ và một số nước ĐôngNam Á cần được chú trọng Nó góp phần vào việc phác họa bức tranh quan hệ hợp táccủa Ấn Độ trong chính sách “Hành động ở phía Đông” của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ hợp tác về mặt kinh tế của chủthể nghiên cứu là Ấn Độ và một số quốc gia Đông Nam Á Trong đó, đề tài tập trungvào mối quan hệ song phương giữa Ấn Độ với một số nước thành viên ASEAN
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian nghiên cứu, đề tài nghiên cứu dựa trên mối quan hệ giữa Ấn Độ
và một số nước Đông Nam Á bao gồm: Singapore, Myanmar, Việt Nam và Thái Lan
Về thời gian nghiên cứu, đề tài tổng hợp và phân tích mối quan hệ này trong bối
cảnh thập niên đầu thế kỷ XXI, giai đoạn 2000 – 2010
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN hay Ấn Độ và các nước Đông Nam Á đã cónhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, từ đó nguồn tài liệutham khảo về vấn đề rất phong phú và đa dạng Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụngnguồn tài liệu phong phú đó như một cơ sở dữ liệu rộng lớn nhằm tổng hợp, phân tích
và so sánh các mối quan hệ của Ấn Độ với các nước Đông Nam Á trong lĩnh vực kinh
tế thập niên đầu thế kỷ XXI
Trong các công trình nghiên cứu gần với chủ đề nhất là công trình nghiên cứu của
tác giả Bùi Thị Đào (2012) với Luận văn Thạc sĩ “Quan hệ Ấn Độ - ASEAN trong thập niên đầu của thế kỷ XXI” Trong công trình này, tác giả tiếp cận và phân tích mối quan hệ
Ấn Độ và các nước ASEAN dưới các lĩnh vực kinh tế, văn hóa giáo dục và khoa
Trang 5học cộng nghệ, chính trị - ngoại giao Đây là nguồn tài liệu quan trọng để khai thácmối quan hệ Ấn Độ - ASEAN trong phương diện kinh tế.
Tác giả Lê Nguyễn Hương Trinh (2005) với “Chính sách ngoại thương Ấn Độ thời kỳ cải cách” đã đề cập đến sự chuyển hướng của chính sách ngoại thương Ấn Độ
thời kỳ cải cách Trong đó, chính sách hướng Đông của Ấn Độ và sự chuyển hướngtrong quan hệ thương mại Ấn Độ - ASEAN được phân tích cụ thể
Công trình nghiên cứu “Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ đầu thế kỷ XXI đến nay”
của tác giả Đỗ Thanh Hà (2020) cũng là một nguồn tài liệu quan trọng trong việc phântích mối quan hệ giữa Ấn Độ - Việt Nam trong bối cảnh hiện nay Đặc biệt, đây còn lànguồn tài liệu cung cấp dữ liệu rất mới Tác giả Đỗ Thanh Hà đã phân tích sâu cácnhân tố tác động đến mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đầu thế kỷ XXI, những cơ chếhợp tác giữa hai bên, kết quả và kiến nghị
Ngoài ra, trong giới hạn nội dung của bài tiểu luận, tác giả nghiên cứu còn thamkhảo một số nguồn tài liệu khác trong các bài báo khoa học, báo cáo thường niên củachính phủ
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bảntrong việc hệ thống tư liệu dựa trên việc tái hiện bức tranh tổng thể chính sách hướngĐông của Ấn Độ với ASEAN, bao gồm phương pháp lịch sử, phương pháp logic vàphương pháp thống kê
Phương pháp lịch sử là tái hiện trung thực bức tranh quá khứ của sự vật, hiện
tượng dựa trên các nguồn cứ liệu Trong đó, đề tài trình bày tái hiện các chính sáchhướng Đông của Ấn Độ đối với chính sách song phương giữa Ấn Độ và ASEAN nóichung và đa phương giữa Ấn Độ và các nước thuộc ASEAN Theo đó, dựa trên cácnguồn tài liệu có sẵn, các chính sách của Ấn Độ từ trước đến nay trong mối quan hệvới ASEAN và đặc biệt là đầu thế kỷ XXI
Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu hiện tượng trong hình thức tổng
quát nhằm vạch ra quy luật, khuynh hướng của sự vận động khách quan Vì thế, đề tàiphân tích các sự kiện tổng quát của Ấn Độ và các nước ASEAN để tìm ra quy luật vàkhuynh hướng chính sách hướng Đông của Ấn Độ trong thập niên đầu của thế kỷ XXI
Phương pháp thống kê là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu và
tính toán các đặc trưng của đối tượng Trong đề tài, nhóm nghiên cứu thu thập và tổng
Trang 6hợp số liệu thống kê các hoạt động và thành tựu kinh tế giữa Ấn Độ với các nướctrong ASEAN nhằm biểu thị rõ mối quan hệ và chính sách đa phương giữa Ấn Độ vớicác nước trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
5 Bố cục đề tài
Đề tài được chia thành hai chương cụ thể:
Chương 1: Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và bối cảnh quan hệ Ấn Độ ASEAN thập niên đầu thế kỷ XXI Trong chương này, đề tài giới thiệu khái quát
-chính sách hướng Đông và -chính sách Hành động ở phía Đông của Ấn Độ Đây đượcxem như tiền đề và nguyên nhân thúc đẩy quá trình hợp tác của Ấn Độ với các nướcASEAN Đồng thời chương này còn khái quát bối cảnh thế giới và bối cảnh khu vựctác động đến quan hệ Ấn Độ và ASEAN thập niên đầu thế kỷ XXI
Chương 2: Quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI.
Chương này khái quát kết quả hợp tác giữa Ấn Độ và ASEAN, giữa Ấn Độ và các nướcthành viên ASEAN trong lĩnh vực kinh tế
Trang 7CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH HƯỚNG ĐÔNG CỦA ẤN ĐỘ
VÀ BỐI CẢNH QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
1.1 Chính sách hướng đông của Ấn Độ
1.1.1 Sự ra đời và mục tiêu của chính sách hướng Đông
Kể từ năm 1990, dưới thời thủ tướng Narasimha Rao, Ấn Độ bắt đầu đề xuất
“chính sách hướng Đông” Đến từ giữa năm 1990 đến 1991, chính sách này mới đượctriển khai Tuy nhiên, nó không được xuất hiện chính thức bằng văn bản hoặc kế hoạchnào, mà là xuất hiện trong Báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Một bộ phận tronggiới học giả Ấn Độ cho rằng chính sách hướng Đông của Ấn Độ chỉ là quan hệ của Ấn
Độ với Đông Nam Á nói chung và ASEAN nói riêng Tuy nhiên, các nhà chính trị vàcác nhà hoạch định chính sách của Ấn Độ lại xem phim vi của chính sách hướng Đôngvượt qua khuôn khổ của khu vực Đông Nam Á (Đào, 2012)
Thuật ngữ “Chính sách hướng Đông” được chính thức sử dụng lần đầu tiêntrong Báo cáo thường niên 1995 – 1996 của Bộ Ngoại giao Ấn Độ Tuy nhiên, đếnBáo cáo thường niên 2006 – 2007, chính sách hướng Đông mới được khẳng định được
ra đời vào năm 1992 Thời gian đầu, chính sách hướng Đông được xem là sự khởi đầucủa chính sách ngoại giao Ấn Độ khi nhận định đúng được tầm quan trọng trong mốiquan hệ với các nước trên thế giới, trong đó, các nước nằm ở phía Đông Ấn Độ (baogồm ASEAN, Trung Quốc,…) đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với Ấn Độ
Mục tiêu chung của chính sách hướng Đông là biến Ấn Độ trở thành cườngquốc kinh tế và quân sự ở châu Á và trên toàn thế giới Trong đó, 3 mục tiêu chủ yếubao gồm: dựa vào khu vực để phục vụ cho sự phát triển ổn định của Ấn Độ, đặc biệt làthúc đẩy sự phát triển ở 7 bang vùng Đông Bắc Ấn Độ - những bang kém phát triển vềkinh tế - xã hội và bất ổn an ninh; hội nhập kinh tế khu vực; mở rộng ảnh hưởng của
Ấn Độ ra toàn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Thảo, 2015)
Trong bài phát biểu tại Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN năm
1996, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ I.K Gulraj chỉ rõ: “Hướng Đông thực chất có nghĩa làmột Ấn Độ hướng ngoại, là tập hợp tất cả sức mạnh động lực nội tại và khu vực, là đanghướng trực tiếp vào sự đồng vận với một vùng lân cận thống nhất và tiến bộ tới phía Đôngthuộc đất mẹ châu Á” (Thảo, 2015) Thủ tướng Ma (Trinh, 2005) (Quý, 2001) (Huệ,2008)nmohan Singh cũng đã khẳng định việc xem vận mệnh của Ấn Độ gắn với
Trang 8các nước Đông Nam Á và Đông Á Đồng thời nhắc lại cam kết của Ấn Độ trong việccùng ASEAN và các nước Đông Á biến thế kỷ XXI thực sự là thế kỷ của châu Á”.
1.1.2 Các giai đoạn của chính sách hướng Đông
Chính sách hướng Đông chia làm hai giai đoạn, tập trung vào ba lĩnh vực: chínhtrị, kinh tế và quân sự
Giai đoạn 1 được xác định từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến năm 2002.Trong giai đoạn này, Ấn Độ tập trung mối quan hệ với Đông Nam Á trên mọi lĩnh vực,trong đó chú trọng về thương mại và đầu tư, lấy chính sách ngoại giao kinh tế làm trụcột
Giai đoạn 2 được tính từ năm 2002, dấu mốc là Hội nghị cấp cao Ấn Độ - ASEANtại Phnôm Pênh (Campuchia) Như vậy, thập niên đầu thế kỷ XXI rơi vào giai đoạn 2 củachính sách hướng Đông của Ấn Độ Giai đoạn này còn mở rộng mối quan hệ vượt rangoài ASEAN để bao hàm cả Đông Á và Nam Thái Bình Dương Ấn Độ cam kết với khốiASEAN là yếu tố then chốt của việc tạo ra viễn cảnh cộng đồng kinh tế châu Á
1.1.3 Chính sách Hành động ở phía Đông
Từ khi thực hiện chính sách hướng Đông, New Delhi đã có những tiến bộ trongtái kết nối với châu Á từ thập niên 1990 Tuy nhiên, sự kỳ vọng về gia tăng vai trò của
Ấn Độ và ảnh hưởng chính trị của New Delhi còn khá khiêm tốn
Sau đó, Ấn Độ đã chuyển “Chính sách hướng Đông” thành “Hành động ở phíaĐông” Điều này thể hiện sự chủ động của Ấn Độ nhằm tăng cường quan hệ giữa haicực tăng trưởng trong châu Á Những mục tiêu của chính sách hướng Đông tiếp tụcđược hoàn thiện bằng những hành động thiết thực để bảo vệ lợi ích quốc gia
Nếu trước đây, New Delhi thường đóng vai người quan sát trong các vấn đề,tranh chấp quốc tế, đặc biệt ở những nơi nằm ngoài khu vực “lợi ích cốt lõi” truyềnthống của mình là khu vực Nam Á và Ấn Độ Dương, thì nay mọi chuyện đã thay đổi
Kể từ khi Biển Đông trở thành một vấn đề mang tầm quốc tế, thành vũ đài trung tâmcủa những tranh cãi và các diễn đàn về an ninh ở khu vực CA - TBD do sự trỗi dậy củaTrung Quốc với những hành xử ngày càng cứng rắn, mang tính đe dọa, thách thức tự
do hàng hải và luật pháp quốc tế của Bắc Kinh, phớt lờ cảnh báo của các cường quốcbên ngoài như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ cho nên New Delhi cũng đã bộc lộthái độ khá rõ ràng (Thảo, 2015)
Trang 91.2 Bối cảnh tác động đến quan hệ Ấn Độ - ASEAN trong lĩnh vực kinh tế
1.2.1 Bối cảnh thế giới
Trong bối cảnh đầu thế kỷ XXI, các nền kinh tế phát triển luôn muốn mở rộngthị trường, nguồn vốn đầu tư, địa bàn chuyển nhượng kỹ thuật truyền thống và hìnhthanh phân công lao động quốc tế thì phải mở rộng những mối quan hệ quốc tế cùng
có lợi Bản chất của nền kinh tế thị trường là sự trao đổi kinh tế vượt ra ngoài biêngiới, không thể khép kín, tự cấp tự túc như nền kinh tế xã hội chủ nghĩa truyền thốngban đầu Trong giai đoạn này, hầu hết các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng đã chuyểnsang cơ chế thị trường, phá bỏ chế độ cô lập Đồng thời yêu cầu mở rộng một khốikinh tế lớn khi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) hoạt động mạnh mẽ, các nước cónền kinh tế lớn đã đẩy mạnh liên kết và mối quan hệ song phương, đa phương Thếgiới trở thành thị trường toàn cầu và sự xuất hiện của toàn cầu hóa nền kinh tế
Toàn cầu hóa nền kinh tế mang đặc trưng của giao lưu, trao đổi hàng hóa, dịch
vụ, lao động và tư bản trên phạm vị toàn cầu Nó mang lại cơ hội vô cùng lớn cho cácnền kinh tế biết nắm bắt thời cơ để mở rộng quy mô nền kinh tế, biến nền kinh tế quốcgia mang yếu tố toàn cầu Tuy nhiên, để tự do trong thương mại, được sự hỗ trợ trongcác hoạt động kinh tế quốc tế, sự thúc đẩy quan hệ về kinh tế với các nước quan trọng
1.3 Quan hệ Ấn Độ - ASEAN trước thế kỷ XXI
1.3.1 Quan hệ Ấn Độ - Đông Nam Á giai đoạn 1947 - 1967
Sau khi giành độc lập năm 1947, Ấn Độ chính thức tuyên bố chính sách “chungsống hòa bình”, ban hành “5 nguyên tắc cơ bản”: chủ quyền, không gây hấn, khôngcan thiệp, bình đẳng và chung sống hòa bình (Đào, 2012)
Trang 10Để tăng cường vai trò của mình ở châu Á, Ấn Độ đã triệu tập “Hội nghị châu Á
về tình hình Indonesia” Hội nghị có 18 nước tham gia, 4 nước là quan sát viên với nộidung lên án hành động xâm lược của thực dân Hà Lan, đòi phải trao trả ngay độc lậpcho Indonesia, đồng thời đã lên án liên minh phương Tây ủng hộ và viện trợ cho HàLan xâm lược Indonesia
Sau đó, tại Hội nghị Á – Phi họp tại Bandung (Indonesia) vào tháng 4/1955, cácnước đã nhất trí đổi “5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” thành “10 nguyên tắcBandung”, trong đó có Ấn Độ góp một phần vô cùng quan trọng Đến thập niên 60,tình hình thế giới và khu vực chuyển biến phức tạp Quan hệ Trung - Ấn chuyển từhữu nghị sang thù địch Ấn Độ cùng các nước, trong đó có Indonesia đã sáng lậpphong trào “không liên kết” trong khóa họp thứ 15 năm 1960 của Đại hội đồng LiênHợp quốc và Hội nghị cấp cao lần thứ nhất các nước không liên kết năm 1961
1.3.2 Quan hệ Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 1967 – 1991
Năm 1954, Thái Lan và Philippines đã tham gia tổ chức chống cộng “Hiệp ướcĐông Nam Á” do Mỹ bảo trợ Đến năm 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) được thành lập gồm 5 thành viên: Indonesia, Malaysia, Thái Lan,Singapore, Philippines Trong thời gian này, ASEAN tích cực hướng về phương Tâyvới định hướng phương Tây Trong khi đó, Ấn Độ lại ủng hộ các nước Đông Dươngtrong phong trào chống Mỹ Chính vì lẽ đó, Ấn Độ thực hiện chính sách được xem lànước đôi trong mối quan hệ với ASEAN
Năm 1979, trong sự kiện diệt chủng của Pol Pot, Việt Nam đưa quân đội vàoCampuchia Trong khi nhiều nước trong khu vực và trên thế giới lên án, coi đó là hành
vi “xâm lược” thì Ấn Độ đã ủng hộ hành động đó Chính vì bất đồng quan điểm nàygiữa Ấn Độ cà các nước ASEAN lúc bấy giờ, điển hình là Singapore, mối quan hệ
ASEAN - Ấn Độ trở nên tồi tệ Có thể kể đến sự kiện Thủ tướng Singapore Lý QuangDiệu từ chối tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Phong trào Không liên kết tại New Delhinăm 1983
Trong những năm 70, thương mại Ấn Độ - ASEAN tăng nhanh chóng nhưngkhông có trọng điểm Trao đổi mậu dịch của Ấn Độ với các nước ASEAN chiếm tỷ lệnhỏ: chiếm 1,5% tổng xuất khẩu và 0,39% tổng nhập khẩu năm 1970 – 1971 Đến năm
1978 – 1979, giá trị trên đã tăng tương ứng là 4,2% và 5,2% (Đào, 2012)
Trang 111.3.3 Quan hệ Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 1991 – 2000
Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Ấn Độ triển khai chính sách hướng Đông Mụctiêu chủ yếu của nó là đẩy mạnh hợp tác kinh tế với khu vực Đông Nam Á và châu
Á – Thái Bình Dương Năm 1993, Ấn Độ trở thành thành viên đối thoại bộ phận vớiASEAN Cuộc họp các quan chức cấp cao đầu tiên về đối thoại bộ phận Ấn Độ - ASEANđược tổ chức tại New Delhi vào tháng 3 năm 1993 Tiếp theo đó, thủ tướng Ấn Độ -Narasimha đã đến thăm Thái Lan năm 1993, Việt Nam và Singapore năm 1994,Malaysia năm 1995
Năm 1995, Hội nghị cấp cao ASEAN tại Bangkok đã quyết định nâng quan hệ
Ấn Độ - ASEAN lên thành quy chế thành viên đối thoại đầy đủ Điều đó cho phép Ấn
Độ mở rộng hợp tác chặt chẽ với ASEAN trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, đặcbiệt là kinh tế Đến năm 1996, Ấn Độ trở thành thành viên của Tổ chức Diễn đàn khuvực ASEAN và các đối tác cấp thượng đỉnh cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, HànQuốc năm 2002
Quan hệ về kinh tế của Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 1991 – 2000 đạt nhiều thànhtựu đáng kể Các nước ASEAN đi đầu là Singapore, Thái Lan và Malaysia đã tăngcường đầu tư, buôn bán với Ấn Độ Singapore trở thành nước đứng thứ 10 đầu tư vào
Ấn Độ và đầu tư xây dựng Trung tâm kỹ thuật Bangalore với số vốn 150 triệu USD.Tháng 9 năm 1994, hai bên ký 12 hiệp định đầu tư với số vốn 530 triệu USD Mậudịch hai chiều Ấn Độ và Indonesia tăng từ 103 triệu USD năm 1988 lên 485 triệu USDnăm 1993 Indonesia đứng thứ 18 trong các nước đầu tư vào Ấn Độ
Hợp tác giữa Ấn Độ và ASEAN bị tổn thương và thụt lùi sau khi Ấn Độ tiếnhành thử hạt nhân Pokhran II vào tháng 5 năm 1988 Tuy ASEAN không lên án mạnh
mẽ việc Ấn Độ thử hạt nhân nhưng xuất khẩu của Ấn Độ sang các nước ASEAN giảmmạnh