1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) phân tích quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và liên hệ trong quá trình học tập của sinh viên hiện nay

13 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và liên hệ trong quá trình học tập của sinh viên hiện nay
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thu Hường
Trường học Trường đại học Phenikaa
Chuyên ngành Triết học
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 117,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ăngghen đã có quan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người “ Thực tiễn là toàn bộ những

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN HỌC TRIẾT

HỌC MÁC- LÊNIN

vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và liên hệ trong quá trình học tập của sinh viên hiện nay

Sinh viên Lớp

Mã sinh viên Giáo viên hướng dẫn Năm học

: Nguyễn Trường Giang : K15 – NGÔN NGỮ HÀN QUỐC 3 : 21011534

: TS Nguyễn Thị Thu Hường : 2021-2022

1

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

Các mối quan hệ giữa các sự vật – hiện tượng trong thế giới mà chúng ta đang sống luôn tồn tại một cách phức tạp Triết học Mác- Lênin thông qua quá trình nghiên cứu sâu sắc các quy luật chung nhất của thế giới, đã tìm ra được những vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Hai thành phần Thực tiễn và Nhận thức luôn bị chi phối và ràng buộc của các mối quan hệ biện chứng Triết học Mác,

đã đưa ra quan niệm về thực tiễn đồng thời vạch rõ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, đó là: thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, thực tiễn

là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Vì cả hai yếu tố đều là quan trọng và tất yếu nên tìm hiểu về mối quan hệ giữa thực tiễn và nhận thức là tìm hiểu điều căn bản nhất trong quá trình phát triển của lịch sử thế giới

Bên cạnh đó, trong công cuộc hội nhập và đua tranh toàn cầu của người Việt Nam, có lẽ điều mà chúng ta cần hội nhập đầu tiên và mạnh mẽ nhất, đó là hội nhập về tri thức Thực tiễn cho thấy, muốn có một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thịnh vượng và văn minh, thì phải có những con người Việt Nam mới, những con người được nuôi dưỡng tâm hồn, được khai sáng trí tuệ

và rèn luyện thể chất tốt Điều này chỉ có thể có được khi chúng ta có một nền giáo dục mới, một nền giáo dục hội nhập và sánh vai với thế giới Muốn có một nền giáo dục như vậy, phải dựa và nhiều yếu tố, một trong những yếu tố đầu tiên và không thể thiếu đó là phải có tư duy mới, tầm nhìn mới, tri thức mới cho giáo dục Việc phát triển nhu cầu nhận thức cho sinh viên các trường Đại học là một trong những yếu tố thúc đẩy năng lực tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân cho sinh viên

Việc ứng dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức là điều rất cấp thiết đối với các bạn sinh viên hiện nay , nó không chỉ giúp chúng ta có một cách nhìn đúng đắn về mục tiêu học tập của mình mà còn giúp chúng ta nâng cao khả năng nhìn nhận, tư duy và giải quyết vấn đề hiệu quả hơn Qua đó giúp đất nước chúng ta bồi dưỡng và phát hiện thêm nhiều tài năng để phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước sau này

Qua quá trình học tập môn Triết học Mác- Lênin, em đã nhận thức rõ vai trò

của thực tiễn đối với nhận thức Vì vậy em quyết định chọn đề tài “quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và liên

hệ trong quá trình học tập của sinh viên hiện nay” Tuy nhiên do kinh

nghiệm nghiên cứu còn chưa nhiều nên em không thể tránh khỏi những thiếu sót

Trang 3

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận về phạm trù thực tiễn và phạm trù nhận thức

1.1 Khái quát về phạm trù thực tiễn

1.1.1 Định nghĩa về khái niệm thực tiễn

Là một hiện tượng xã hội, từ rất sớm thực tiễn đã thu hút sự chú ý của các nhà triết học Các nhà triết học duy tâm cho rằng hoạt động nhận thức, hoạt động của

ý thức, hoạt động của tinh thần nói chung là hoạt động thực tiễn Các nhà triết học tôn giáo thì cho rằng hoạt động sáng tạo vũ trụ của thượng đế là hoạt động thực tiễn Phoiơbắc cũng đã tìm hiểu thực tiễn, đưa ra một số kiến giải về quan hệ giữa thực tiễn với lý luận, song, theo Mác, ông không hiểu được ý nghĩa của hoạt động cách mạng, của hoạt động thực tiễn phê phán

Kết luận : Các nhà triết học duy vật trước triết học duy vật biện chứng đã có nhiều đóng góp cho quan điểm duy vật về nhận thức, nhưng chưa có một đại biểu nào hiểu đúng được bản chất của thực tiễn cũng như vai trò của nó đối với nhận thức Sở dĩ các trào lưu triết học trước đó không giải quyết chính xác vấn

đề thực tiễn vì ngoài những nguyên nhân về thế giới quan và phương pháp luận còn do sự hạn chế về mặt nhận thức thực chất vấn đề thực tiễn

Kế thừa và phát triển sáng tạo những yếu tố hợp lý trong những quan niệm về thực tiễn của các nhà triết học trước đó, C Mác và Ph Ăngghen đã có quan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng

như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người “ Thực tiễn là toàn

bộ những hoạt động vật chất – cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ”.

1.1.2 Đặc trưng cơ bản của thực tiễn :

Nhìn tổng thể, thực tiễn có ba đặc trưng cơ bản : thực tiễn là những hoạt

động vật chất – cảm tính, tính lịch sử xã hội, Thực tiễn là hoạt động có mục đích nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội phục vụ cho loài người

Thứ nhất, Thực tiễn không phải là toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ

là những hoạt động vật chất – cảm tính Đó là những hoạt động vật chất của

con người cảm giác được ( nghĩa là con người có thể quan sát trực quan được

các hoạt động vật chất này ) Hoạt động vật chất – cảm tính là những hoạt động mà con người phải sử dụng lực lượng vật chất, công cụ vật chất tác động vào các

đối tượng vật chất để làm biến đổi chúng Trên cơ sở đó, con người mới làm biến đổi thế giới khách quan phục vụ cho mình

Thứ hai, hoạt động thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội

của loài người Hoạt động thực tiễn được thực hiện thông qua việc con người

sử dụng những công cụ vật chất tác động trực tiếp vào những đối tượng làm cho chúng biến đổi theo những mục đích nhận định Trong hoạt động thực tiễn, con người truyền lại cho nhau những kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác Cũng vì vậy, hoạt động thực tiễn luôn bị giới hạn bỏi những điều kiện lịch sử

Trang 5

-xã hội cụ thể Đồng thời, thực tiễn có trải qua các giai đoạn lịch sử phát triển cụ thể của nó

Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã

hội phục vụ con người Khác với hoạt động có tính bản năng, tự phát của động

vật nhằm thích nghi thụ động với thế giới, con người bằng và thông qua hoạt

động thực tiễn, chủ động tác động cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới Tính mục đích, tính

tự chủ, tính sáng tạo của hoạt động thực tiễn biểu thị rõ thực tiễn có tính năng động, tự giác Tính năng động tự giác không chỉ là đặc điểm của thực tiễn, mà còn là một trong những thước đo trình độ phát triển thực tiễn

1.1.3 Những hình thức cơ bản của vật chất :

Hoạt động thực tiễn rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị

-xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học

Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực

tiễn vì ngay từ khi con người mới xuất hiện trên trái đất phải tiến hành sản xuất vật chất dù là giản đơn để tồn tại Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra những của cải

và các điều kiện thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển của mình và xã hội

Do vậy, cải tạo hoạt động sản xuất đối với tự nhiên là hoạt động thực tiễn sớm nhất của nhân loại, cũng là hoạt động căn bản của nhân loại quyết định tất cả các hoạt động khác

Ví dụ: hoạt động sản xuất ra lúa gạo, hoa màu, thức ăn, nước uống, kinh

doanh ra vải vóc, quần áo, hàng hóa tiêu dùng, xây dựng nhà cửa Phát minh

ra các loại xe máy, ô tô, máy móc phục vụ cho công nghiệp

Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động thực tiễn thể hiện tính tự giác cao của

con người nhằm biến đổi, cải tạo xã hội, phát triển các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội,… Hoạt động chính trị - xã hội gồm các hoạt động như đấu tranh giai cấp; đấu tranh cho hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội; đấu tranh cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội, nhằm tạo ra môi trường xã hội dân chủ, lành mạnh, thuận lợi cho con người phát triển Thiếu hình thức hoạt động thực tiễn này thì con người không thể phát triển bình thường

Ví dụ hoạt động của các tổ chức : Mặt trận tổ quốc, Hội chữ thập đỏ, Đoàn thanh niên CS Hồ Chí minh, Hội cựu chiến binh

Hoạt động thực nghiệm khoa học là hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn

Đây là hoạt động được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định những quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở đó, vận dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, vào cải tạo chính trị - xã hội, cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội “Tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa thành lực lượng sản xuất trực tiếp”

4

Trang 6

Ví dụ : Ví dụ việc trồng rau trong nhà kính, xây dựng vườn bách thảo, các công viên quốc gia, nuôi cấy mô, thực nghiệm sinh học, nghiên cứu vũ trụ

trong môi trường không trọng lượng, nghiên cứu thực nghiệm các môn khoa học tự nhiên…

⟹ Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có chức năng quan trọng như nhau Ba hình thức thực tiễn này có quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau; trong đó, sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng, quyết định hai hình thức thực tiễn kia Tuy nhiên, hai hình thức thực tiễn kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất Chính sự tác động qua lại lẫn nhau của các hình thức hoạt động cơ bản đó làm cho thực tiễn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng có vai trò quan trọng đối với nhận thức.

Tiểu kết : Như vậy, thực tiễn là cầu nối con người với tự nhiên, xã hội, nhưng

đồng thời thực tiễn cũng tách con người khỏi thế giới tự nhiên, để “làm chủ” tự nhiên Nói cách khác, thực tiễn “ tách” con người khỏi tự nhiên để khẳng định con người, nhưng muốn “tách” con người khỏi tự nhiên thì trước hết phải

“nối” con người với tự nhiên Cầu nối này chính là hoạt động thực tiễn

1.2 Khái quát phạm trù nhận thức

1.2.1 Định nghĩa về khái niệm nhận thức :

Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới khách quan, bắt các

sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính và quy luật của chúng Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy sinh các vấn

đề đòi hỏi con người phải giải đáp và do đó nhận thức được hình thành Trong lịch sử triết học, cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề con người có thể nhận thức được thế giới khách quan hay không cũng như cơ sở nền tảng của nhận thức là

gì, luôn diễn ra gay go, phức tạp với nhiều quan điểm khác nhau Chủ nghĩa duy tâm chủ quan với các đại biểu như Beccoli, Berkeley phủ nhận chân lý khách quan, thừa nhận thượng đế là chủ thể của nhận thức, coi sự vật chỉ là kết quả của

sự phức hợp cảm giác Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu như Plato, Hegel không phủ nhận khả năng nhận thức của con người, nhưng lại giải thích một cách duy tâm, thần bí khả năng này của con người Plato cho rằng, khả năng đó là khả năng của linh hồn vũ trụ Các đại biểu của chủ nghĩa hoài nghi đã nghi ngờ khả năng nhận thức của con người, thâm chí có người (như Hium) đã nghi ngờ cả bản thân sự tồn tại khách quan của sự vật, hiện tượng Các đại biểu của chủ nghĩa duy vật trước C.Mác nhìn chung đều công nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, tuy nhiên do tính chất siêu hình, chủ nghĩa duy vật trước C.Mác hiểu phản ánh chỉ là sự sao chép giản đơn nên ký luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật trước C.Mác còn mang tính siêu hình, máy móc

Còn theo quan điểm triết học Mác-Lenin, nhận thức được định nghĩa là “quá

trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con

người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn”

1.2.2 Học thuyết các C.Mác và Ph.Angghen về bản chất của nhận thức Bằng

sự kế thừa những yếu tố hợp lý của các học thuyết đã có, khái quát các

Trang 7

thành tựu khoa học, C Mác và Ph Angghen đã xây dựng nên học thuyết biện chứng duy vật về nhận thức Học thuyết này ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lý luận nhận thức vì đã xây dựng được những quan điểm khoa học đúng đắn về bản chất của nhận thức Học thuyết này ra đời dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau :

Thứ nhất, nguyên tắc thừa nhận sự vật khách quan tồn tại bên ngoài và độc

lập với ý thức con người Đây là nguyên tắc nền tảng của lý luận nhận thức của

chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định các sự

vật tồn tại khách quan, độc lập với ý thức, với cảm giác của con người và loài người nói chung, mặc dù người ta có thể chưa biết đến chúng

Thứ hai, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách

quan Coi nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là

hoạt động khách quan của chủ thể; thừa nhận không có gì là không thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được

Thứ ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực,

tự giác và sáng tạo Quá trình phản ánh đó diễn ra theo trinh tự từ chưa biết đến

biết, từ biết ít đến nhiều, từ chưa sâu sắc, chưa toàn diện đến sâu săc và toàn diện hơn

Thứ tư là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức và

là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.

⟹ Như vậy, nhận thức không phải là hiện thực khách quan mà là quá trình

phản ánh hiện thực khách quan một cách tích cực, sáng tạo Điều này vừa khẳng định trình độ nhận thức của con người đối với hiện thực, vừa thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người

2 Vai trò của thực tiễn đến nhận thức

2.1 Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức :

Thực tiễn luôn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức, vì thế nó luôn thúc đẩy sự ra đời của các nghành khoa học

Ví dụ : từ nhu cầu chữa trị các căn bệnh hiểm nghèo mà thúc đẩy nhận thức của con người khám phá ra bản đồ gen người, từ nhu cầu thực tiễn quan sát các vật

bé nhỏ mà thúc đẩy nhận thức con người sáng tạo ra các kính hiển vi,…

Mọi nhận thức của con người đều có nhận thức từ thực tiễn, thực tiễn cung cấp những tài liệu hiện thực khách quan làm cơ sở cho người nhận thức bằng hoạt động thực tiễn con người tác động ở thế giới khách quan và phải bộc lộ ra những đặc trưng, những thuộc tính, những quy luật vận động và phát triển để con người nhận thức và thông qua hoạt động nhận thức và thực tiễn con người đã sáng tạo

ra những công cụ những phương tiện ngày càng tinh xảo để nhận thức thế giới

và hoạt động thực tiễn làm cho con người ngày càng hoàn thiện hơn

Mọi sự hiểu biết của con người dù gián tiếp hoặc trực tiếp đều bắt nguồn từ thực tiễn Nhờ sự tiếp xúc, tác động vào sự vật hiện tượng mà con người phát hiện ra các thuộc tính, bản chất của chúng Về phương diện thực tiễn, trên cơ sở sự tương

tự về cấu trúc giữa các quá trình diễn ra trong giới tự nhiên vô sinh, sự

6

Trang 8

sống và xã hội(tư duy) người ta đã chế tạo ra hệ thống máy tự động, hoạt

động theo cơ chế tương tự bộ não và các giác quan con người Ví dụ : Robot, Trí tuệ AI, Điện thoại, máy tính,…

⟹ Như vậy có thể thấy, thực tiễn xã hội là nhân tố cơ bản và quyết định sự phát triển của nhận thức của nhân loại, tức là làm cho mỗi con người sau khi sinh ra từ trình độ nhận thức của một con người, cũng cần phải thông qua con đường cơ bản tiếp thu sự giáo dục của

xã hội, tham gia thực tiễn xã hội Thông qua hoạt động nhận thức và thực tiễn con người đã sáng tạo ra những công cụ những phương tiện ngày càng tinh xảo để nhận thức thế giới và hoạt động thực tiễn làm cho con người ngày càng hoàn thiện hơn.

2.2 Thực tiễn là động lực của nhận thức :

Hoạt động thực tiễn của con người từ lúc vừa mới bắt đầu là hoạt động mang tính xã hội Từ lúc bắt đầu thực hiện những hoạt động cơ bản nhất đã đòi hỏi con người phải có những động tác nhịp nhàng, trao đổi kinh nghiệm với nhau, do đó

đã xuất hiện ngôn ngữ Việc mở rộng sự trao đổi qua lại và phát triển ngôn ngữ trở thành hai động lực thúc đẩy lớn làm cho trình độ hoạt động nhận thức của con người không ngừng nâng cao, hình thành hoạt động năng lực trí tuệ có tính

xã hội mà chỉ riêng con người mới có

Thực tiễn có tác dụng rèn luyện các giác quan của con người, làm cho chúng phát triển tinh tế hơn, hoàn thiện hơn, trên cơ sở đó làm cho giúp quá trình nhận thức của con người tốt hơn

Ví dụ : Ca sĩ, nhạc sĩ do nghe nhiều và cảm nhận âm nhạc tốt nên có thể

phân biệt và nhận ra các nốt nhạc, giai điệu của các bài hát một cách chính xác Thực tiễn là động lực bởi thực tiễn đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ, phương hướng, cho nhận thức phát triển Thực tiễn còn tạo ra các tiền đề vật chất cần thiết cho nhận thức

Ví dụ: việc học tập phải đặt ra những yêu cầu học sinh phải giải và học những kiến thức mới và khó, sau khi giải quyết những bài tập khó đó thì nhận thức của các bạn sẽ được nâng cao hơn

⟹ Mọi tri thức khoa học – kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa khi được áp dụng vào đời sống thực tiễn một cách trực tiếp hay gián tiếp để phục vụ con người

2.3 Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý

Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai Khi nhận thức đúng thì nó mới phục vụ thực tiễn phát triển và ngược lại

Thực tiễn mang tính khách quan có tích lịch sử xã hội, thực tiễn là cơ sở là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức đúng sai

Thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức đồng thời thực tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức Như Mác đã từng khẳng định: ”Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn

không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực

tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”

Trang 9

⟹ Như vậy,thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức,là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức phải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình.

3 Liên hệ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức trong quá trình học tập của sinh viên hiện nay :

Lý luận về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành Giáo dục đại học giữ vai trò quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực theo các lĩnh vực chuyên môn cho đối tượng công dân là người lớn Việc phát triển nhu cầu nhận thức cho sinh viên các trường Đại học là một trong những yếu tố thúc đẩy năng lực tự giáo dục, tư hoàn thiện bản thân cho sinh viên

3.1 Thực trạng vấn đề “nhận thức” của sinh viên hiện nay

Nhu cầu nhận thức đòi hỏi của con người về việc tìm tòi tiếp thu cái mới, cái chưa có trong kinh nghiệm cá nhân mà họ cần được thỏa mãn để phát triển Nhu cầu nhận thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhu cầu học tập Theo nghĩa rộng nhất, học tập là học và luyện tập để hiểu hiết, một dạng của hoạt động nhận thức của con người Cả hoạt động nhận thức và hoạt động học tập đều là điều kiện tất yếu cho sự phát triển của con người, làm phong phú hơn các tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo cho con người và đều là sự phát hiện ra một cái gì đó mới mẻ một cách khách quan đối với họ Để có kỹ năng học tập xuất hiện với tư cách là một hoạt động nhờ phương pháp nhà trường Học tập là một dạng của hoạt động nhận thức của con người Sinh viên đại học đặc trưng bởi sự khả năng tư duy sâu sắc, năng lực trí tuệ cao, vốn kiến thức về môi trường xã hội rộng Sinh viên rất quan tâm đến việc phát triển các kĩ năng, cách ứng xử mới, mong muốn thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, chuẩn bị sẵn sàng đối diện với xã hội 3.2 Vai trò của thực tiễn ( thực hành ) với nhận thức ( việc học ) đối với sinh viên hiện nay :

Theo quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, “học” là một hoạt động nhận thức, là quá trình tiếp thu tri thức, thông qua đó hình thành các nhân cách, năng lực cần thiết; “hành” là thực hành, là làm việc, là sự vận dụng những điều đã học

để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra Giữa “học”(nhận thức) và “hành” (thực tiễn), Người cho rằng có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ với nhau, thể hiện ở những khía cạnh cơ bản sau:

Thứ nhất, thực tiễn cuộc sống là cơ sở, động lực và mục đích của việc học tập Mục đích của việc học tập được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt là “Học để làm việc, để làm người, làm cán bộ Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân,

Tổ quốc và nhân loại” Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc dạy và học phải xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn cuộc sống

Thứ hai, thực tiễn cuộc sống là tiêu chuẩn để kiểm tra những tri thức, hiểu biết đã được nhận thức thông qua học tập Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học phải gắn

8

Trang 10

với hành, học mà không hành, không áp dụng vào thực tế khác nào chiếc hòm đựng đầy sách, hành mà không học thì hành không trôi chảy Người cho rằng:

“Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác Nói tóm lại: Công việc thực tế, y không biết gì cả Thế là y chỉ có trí thức một nửa Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải là trí thức hoàn toàn Y muốn thành người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”

Như vậy, thông qua những quan điểm mà chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra đã giúp chúng ta nhận thức được vai trò của thực tiễn ( thực hành ) với nhận thức ( việc học ), theo đó hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học

đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội 3.3 Các biện pháp để nâng cao năng lực nhận thức, tư duy của các bạn sinh viên hiện nay

Thứ nhất, trong quá trình giảng dạy cần so sánh, phân tích lý luận, nêu vấn đề cho sinh viên giải quyết, sau đó kết luận

Ví dụ : Vì sao đảng ta lại quyết định mở chiến dịch biên giới Thu – Đông năm

1950 ?, sinh viên có thể tư duy xem hoàn cảnh, điều kiện lịch sử ra sao, sau đó kết luận được sự tài tình của đảng ta khi mở chiến dịch biên giới Thu- Đông,…

Thứ hai, sinh viên phải nghiên cứu nắm vững các nguyên tắc phương pháp luận biện chứng duy vật, phải tự trang bị cho mình vốn tri thức logic học, phải không ngừng rèn luyện thực tiễn, phải tích cực tự học tập rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân để từng bước hoàn thành và phát triển hoàn thành nhân cách nghề nghiệp tương lai

Thứ ba, tích cực tham gia vào các công trình nghiên cứu khoa học giúp

chúng ta có tính chủ động, tích cực hơn trong suy nghĩ và hành động, hình

thành những phương pháp, tư duy mới Bên cạnh đó còn giúp phát hiện ra vấn

đề và giải quyết vấn đề một cách tốt nhất

Thứ tư, giảng viên không chỉ thực hiện việc giảng dạy kiến thức cho sinh viên trong giờ học, mà người giảng viên luôn cố gắng tạo cho sinh viên một ý thức tự giác học tập, một phương pháp tự học, tự cũng cố, phát triển kiến thức trước và sau giờ học

Thứ năm, nhà trường phải tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, các phương tiện

kỹ thuật hiện đại, chuẩn bị phòng tự học cho sinh viên thuận lợi nghiên cứu ngoài giờ lên lớp, có wifi để sinh viên có thể khai thác tư liệu khoa học, hoàn thiện kiến thức của mình, có đầy đủ nguồn tài liệu, phòng thí nghiệm, các trang thiết bị kỹ thuật,…

Thứ sáu, nhà trường cần xây dựng và phát triển duy trì các câu lạc bộ sinh viênnghiên cứu khoa học, câu lạc bộ rèn luyện nghiệp vụ chuyên mộn, nghề nghiệp, câu lạc bộ kỹ năng sống để giúp các bạn sinh viên được học hỏi, giao lưu tiếp xúc với những cái mới

Ngày đăng: 09/12/2022, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w