Cụ thể gồm: Hệ thống điện truyền tải vận hành ở chế độ vận hành bình thường khi đáp ứng các điều kiện sau: Công suất phát và phụ tải ở trạng thái cân bằng Không thực hiện sa thải ph
Trang 1ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Viện Điện
BÁO CÁO BÀI TẬP NHẬP MÔN
Đề tài: Tìm hiểu về Hệ thống điện Việt Nam Bao gồm 3 khâu:
Sản xuất-Truyền tải-Phân phối điện năng đến hộ tiêu thụ.
Nhóm 2:
Nguyễn Đức Duy 20212490 Phạm Trung Hải 20212530 Ngô Đức Duy 20212489 Nguyễn Tuấn Hải 20210302 Đào Văn Hiến 20212534
GVHD: Nguyễn Thị Anh
Trang 2A Sản xuất điện tại Việt Nam
Sản xuất điện hàng năm đã tăng hơn 20 lần, từ 8,6TWh vào năm 1990 đến 241,1 TWh vào năm 2019 Tỷ lệ tăng hàng năm trong gia đoạn này rơi vào khoảng 12%-15%, gần như gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP Thủy điện, khí tự nhiên và than là những nguồn năng lượng chính cho sản xuất điện Than chiếm
tỉ trọng cao nhất trong các ngồn năng lượng với 41,6%, theo sau là thủy điện với 37,7% và khí với 18,8% Ngoài thủy điện lớn, bao gồm cả thủy điện nhỏ, năng lượng tái tạo chỉ chiếm một phần rất nhỏ 0,5% Mặc dù vậy, từ đầu năm
2019, tỉ trọng năng lượng tái tạo trogn hệ thống năng lượng đã tăng lên đáng kể, phần nhiều nhờ vào năng lượng mặt trời, tuy vậy năng lượng gió cũng đang trên
đà phát triển
Cơ chế sản xuất điện cơ bản: Sử dụng động năng làm quay tua-bin để làm chạy máy phát điện, tạo ra điện năng
Nhà máy sản xuất điện được phân loại dựa trên cách thức tạo ra động năng
Ở Việt Nam có nhiều nhà máy sản xuất điện khác nhau, được chia làm 2 loại chính:
I Nhiệt điện (Hóa năng Nhiệt năng Động năng Điện
năng)
*Cơ chế: Đốt nhiên liệu hóa thạch, hóa năng của nhiên liệu chuyển hóa thành
nhiệt năng làm cho nước bay hơi, hơi nước này được dẫn qua tua-bin và làm quay tua-bin
1 Nhiệt điện than (sử dụng than đá):
- Là nguồn cung điện chủ yếu của đất nước (Tổng công suất năm 2020 khoảng 26.000 MW – 42,7% công suất toàn nguồn)
-Phát triển rất mạnh xuyên suốt một thế kỉ qua nhưng đang dần chững lại do các động thái hạn chế sử dụng nhiệt điện than nhằm bảo vệ môi trường của nhiều nước trên thế giới
2 Nhiệt điện khí (sử dụng khí đốt)
- Độ phổ biến chưa cao, tập trung ở miền Nam do nguồn cung ít
- Hiện tại, PV Power (đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) sở hữu hầu hết các nhà máy nhiệt điện khí trên lãnh thổ đất nước, tiêu biểu như Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2, Cà Mau 1, Cà Mau 2,
II Điện tái tạo
Trang 3Do sự kêu gọi giảm thiểu sử dụng năng lượng hóa thạch nên các nhà máy điện tái tạo đang được Nhà nước thúc đẩy phát triển Ở Việt Nam, nhà máy điện tái tạo gồm 4 loại:
1 Thủy điện (Thế năng Động năng Điện năng)
*Cơ chế: Có một con đập chắn nước sông, tạo ra một bên có mực nước cao
hơn để làm xuất hiện chênh lệch thế năng Sau đó để nước chảy từ trên cao qua tua-bin để xuống dưới thấp Khi đó, nước sẽ làm quay tua-bin (Thế năng sụt giảm của nước đã chuyển hóa thành động năng)
- Được đầu tư phát triển và nhiều lần hợp tác với nước ngoài, mạng lưới gần như
đã hoàn thiện Tổng công suất các nhà máy là khoảng 16.000 MW (2018)
- Các nhà máy tiêu biểu: Thủy điện Thác Bà, Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Sơn La,
2 Điện mặt trời (Nhiệt năng Điện năng)
*Cơ chế: Các gương phản xạ và tập trung ánh sáng mặt trời, các bộ thu gom
lấy năng lượng mặt trời và biến đổi nó thành năng lượng nhiệt Một máy phát điện có thể được vận hành để phát điện từ năng lượng nhiệt này
-Năm 2020, sản lượng điện phát từ điện mặt trời đạt 10,6 tỷ kWh, chiếm khoảng 4,3% tổng sản lượng huy động nguồn toàn hệ thống điện quốc gia
-Dù được Nhà nước hỗ trợ và bùng nổ mạnh mẽ trong 2 năm 2019-2020, điện mặt trời vẫn đang gặp nhiều bất cập vì tính bất định của nó
3 Điện gió (Động năng Điện năng)
*Cơ chế: Gió làm quay cánh quạt của những cối xay gió, trục của những cánh
quạt này được nối liền với tua-bin, từ đó cánh quạt quay sẽ làm quay tua-bin
-Tổng công suất các nhà máy đang vận hành là 3980 MW (10/2021)
-Điện gió ở Việt Nam thuộc nhóm công nghiệp năng lượng mới nổi, được nhập cuộc theo sự phát triển nguồn năng lượng tái tạo chung của thế giới, sự nhập khẩu khoa học kỹ thuật, đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn năng lượng khi các nguồn thủy điện lớn đã khai thác hết, các thủy điện nhỏ không đảm bảo lợi ích mang lại so với thiệt hại môi trường mà nó gây ra Một số nhà máy lớn
có thể kể đến Điện gió Bình Thạnh, Điện gió Hướng Linh, Điện gió Hướng Phùng,
4 Điện sinh khối (Hóa năng Nhiệt năng Động năng Điện năng)
Cơ chế: Sử dụng hóa năng từ các sản phẩm sinh khối như bã mía hoặc rác thải
đô thị để đốt và làm bay hơi nước Hơi nước sau đó được dẫn qua tua-bin và làm quay tua-bin
-Các nhà máy điện sinh khối được hứa hẹn sẽ giúp xử lý vấn đề rác thải đô thị đang rất nóng những năm gần đây Tuy nhiên loại điện này chỉ mới đang trong
Trang 4giai đoạn bắt đầu phát triển và cần thêm thời gian mở rộng do những bất
cập trong việc xử lý những thứ phẩm gây ô nhiễm mỗi trường
B Truyền tải
I Hệ thống điện truyền tải là gì?
Theo giải thích tại Thông tư 25/2016/TT-BCT, hệ thống điện truyền tải là hệ thống điện bao gồm lưới điện truyền tải và các nhà máy điện đấu nối vào lưới điện truyền tải
II. Các chế độ vận hành của hệ thống điện truyền tải
Các chế độ vận hành của hệ thống điện truyền tải được quy định tại
Điều 59 Thông tư 25/2016/TT-BCT Cụ thể gồm:
Hệ thống điện truyền tải vận hành ở chế độ vận hành bình
thường khi đáp ứng các điều kiện sau:
Công suất phát và phụ tải ở trạng thái cân bằng
Không thực hiện sa thải phụ tải điện
Mức mang tải của đường dây và máy biến áp trong lưới điện truyền tảiđều dưới 90 % giá trị định mức;
Các nhà máy điện và thiết bị điện khác vận hành trong dải thông số cho phép;
Tần số hệ thống điện trong phạm vi cho phép đối với chế độ vận hành bình thường theo quy định tại Điều 4 Thông tư này;
Điện áp tại các nút trên lưới điện truyền tải trong phạm vi cho phép theo quy định tại Điều 6 Thông tư này đối với chế độ vận hành bình thường;
Các nguồn dự phòng của hệ thống điện quốc gia ở trạng thái sẵn sàng đảm bảo duy trì tần số và điện áp của hệ thống điện quốc gia trong dải tần số và điện áp ở chế độ vận hành bình thường; các thiết bị tự động làm việc trong phạm vi cho phép để khi xảy ra sự cố bất thường sẽ không phải sa thải phụ tải điện
Hệ thống điện truyền tải vận hành ở chế độ cảnh báo khi xuất
hiện hoặc tồn tại một trong các điều kiện sau đây:
Mức dự phòng điều tần thứ cấp, dự phòng khởi động nhanh thấp hơn mức yêu cầu ở chế độ vận hành bình thường”
Mức mang tải của các đường dây và máy biến áp trong lưới điện truyền tải từ 90 % trở lên nhưng không vượt quá giá trị định mức;
Điện áp tại một nút bất kỳ trên lưới điện truyền tải ngoài phạm vi cho phép trong chế độ vận hành bình thường, nhưng trong dải điện áp cho phép đối với trường hợp xảy ra sự cố đơn lẻ trong hệ thống điện quy định tại Điều 6 Thông tư này
Có khả năng xảy ra thiên tai hoặc các điều kiện thời tiết bất thường có thể gây ảnh hưởng tới an ninh cung cấp điện
Trang 5 Có khả năng xảy ra các vấn đề về an ninh, quốc phòng đe dọa an ninh
hệ thống điện
Hệ thống điện truyền tải vận hành ở chế độ khẩn cấp khi xuất
hiện hoặc tồn tại một trong các điều kiện sau đây :
Tần số hệ thống điện nằm ngoài dải tần số cho phép đối với trường hợp xảy ra sự cố đơn lẻ trong hệ thống điện quy định tại Điều 4 Thông tư này;
Mức mang tải của bất kỳ thiết bị nào trong lưới điện truyền tải hoặc thiết bị đấu nối với lưới điện truyền tải từ 110 % giá trị định mức trở lên mà thiết bị này khi bị sự cố do quá tải có thể dẫn đến tan rã từng phần hệ thống điện;
Khi hệ thống điện truyền tải đang ở chế độ vận hành khẩn cấp, các biện pháp được thực hiện để đưa hệ thống điện về trạng thái vận hành
ổn định không thực hiện được dẫn tới hiện tượng tan rã từng phần hệ thống điện, tách đảo hoặc sụp đổ điện áp hệ thống điện
Hệ thống điện truyền tải vận hành ở chế độ khôi phục khi các tổ máy phát điện,
lưới điện truyền tải và các phụ tải điện đã được đóng điện và đồng bộ để trở về trạng thái làm việc bình thường
III. Nguyên tắc vận hành hệ thống điện truyền tải
- Thứ nhất, đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện có trách nhiệm
chung trong việc vận hành hệ thống điện truyền tải an toàn, tin cậy, ổn định, chất lượng và kinh tế Đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc, quy định về vận hành, điều độ hệ thống điện quốc gia quy định tại Quy trình điều độ hệ thống điện quốc gia do Bộ Công Thương ban hành
- Thứ hai, nguyên tắc lập kế hoạch vận hành hệ thống điện truyền tải:
Đảm bảo vận hành an toàn, ổn định và tin cậy;
Tuân thủ yêu cầu về chống lũ, tưới tiêu và duy trì dòng chảy sinh thái theo các quy trình vận hành hồ chứa thủy điện đã được phê duyệt;
Đảm bảo ràng buộc về nhiên liệu sơ cấp cho các nhà máy nhiệt điện;
Đảm bảo các điều kiện kỹ thuật cho phép của các tổ máy phát điện và lưới điện truyền tải;
Đảm bảo thực hiện các thỏa thuận về sản lượng điện và công suất trong các hợp đồng xuất, nhập khẩu điện, hợp đồng mua bán điện;
Đảm bảo nguyên tắc tối thiểu chi phí mua điện cho toàn hệ thống điện
- Thứ ba, đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện có trách nhiệm lập
kế hoạch vận hành hệ thống điện truyền tải cho năm tới (năm N+1) và có xét
Trang 6đến 01 năm tiếp theo (năm N+2), tháng tới, tuần tới, lịch huy động ngày tới và lịch huy động chu kỳ giao dịch tới, bao gồm các nội dung chính sau:
Kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị điện, lưới điện truyền tải;
Đánh giá an ninh hệ thống điện;
Dự báo nhu cầu phụ tải điện, kế hoạch cung cấp nhiên liệu từ các nhà máy nhiệt điện, tiến độ vào vận hành các công trình điện mới, dự báo thủy văn
từ các nhà máy thủy điện, tính toán mức dự phòng hệ thống điện, kế hoạch huy động nguồn, huy động các dịch vụ phụ trợ và sa thải phụ tải (nếu có) để đảm bảo an ninh hệ thống điện;
Cảnh báo tình trạng suy giảm an ninh hệ thống điện (nếu có)
- Thứ tư, kế hoạch vận hành hệ thống điện truyền tải năm tới (năm N+1) và có
xét đến một năm tiếp theo (năm N+2) phải đảm bảo:
Kế hoạch vận hành hệ thống điện truyền tải năm tới (năm N+1) được Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện lập phù hợp với phương thức vận hành
hệ thống điện quốc gia năm tới (năm N+1) quy định tại Quy trình điều độ hệ thống điện quốc gia do Bộ Công Thương ban hành;
Kế hoạch vận hành hệ thống điện truyền tải cho năm N+2 phục vụ đánh giá an ninh, định hướng các kịch bản vận hành và các giải pháp trong trung hạn
để đảm bảo hệ thống điện quốc gia vận hành an toàn, ổn định và tin cậy
- Thứ năm, đơn vị truyền tải điện và Khách hàng sử dụng lưới điện truyền tải
căn cứ vào kế hoạch vận hành, phương thức vận hành và lịch huy động của Đơn
vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện để lập kế hoạch vận hành nhà máy điện và lưới điện trong phạm vi quản lý đảm bảo không ảnh hưởng đến vận hành an toàn, tin cậy và ổn định hệ thống điện truyền tải
- Thứ sáu, trong quá trình vận hành hệ thống điện truyền tải, Đơn vị vận hành
hệ thống điện và thị trường điện phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây để đảm bảo duy trì sự an toàn, ổn định và tin cậy của hệ thống điện truyền tải:
Trong chế độ vận hành bình thường, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện có trách nhiệm vận hành, điều độ hệ thống điện đảm bảo các tiêu chuẩn, thông số vận hành trong phạm vi cho phép đối với chế độ vận hành bình thường quy định tại Chương II Thông tư này và đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 59 Thông tư này;
Trang 7 Trong chế độ vận hành cảnh báo, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện phải thông báo trên trang thông tin điện tử của hệ thống điện và thị trường điện về tình trạng và các thông tin cần cảnh báo của hệ thống điện, đồng thời đưa ra các biện pháp cần thiết để đưa hệ thống điện trở lại chế độ vận hành bình thường;
Trong chế độ vận hành khẩn cấp, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện phải tiến hành các biện pháp cần thiết để đưa hệ thống điện trở lại chế độ vận hành bình thường sớm nhất;
Trong chế độ vận hành cực kỳ khẩn cấp hoặc khi xảy ra sự cố nhiều phần
tử hoặc khi có nguy cơ đe dọa đến tính mạng con người hoặc an toàn thiết bị, có quyền sa thải phụ tải điện nhưng phải phù hợp với quy định tại Quy trình xử lý
sự cố trong hệ thống điện quốc gia do Bộ Công Thương ban hành
IV. Xử lý sự cố khi vận hành hệ thống điện truyền tải
-Trong quá trình xử lý sự cố, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện được phép vận hành hệ thống điện với tần số và điện áp khác với tiêu chuẩn quy định ở chế độ vận hành bình thường nhưng phải nhanh chóng thực hiện các giải pháp để khôi phục hệ thống điện về chế độ vận hành bình thường, đảm bảo sự làm việc ổn định của hệ thống điện
-Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Đơn vị truyền tải điện và Khách hàng sử dụng lưới điện truyền tải phải thực hiện xử lý sự cố đảm bảo tuân thủ quy định tại Quy trình xử lý sự cố trong hệ thống điện quốc gia do Bộ Công Thương ban hành
Các biện pháp chính xử lý sự cố:
+ Thay đổi công suất phát tổ máy phát điện, ngừng hoặc khởi động tổ máy phát điện để khôi phục tần số về dải tần số ở chế độ vận hành bình thường;
+ Sa thải phụ tải theo từng tuyến đường dây bằng rơ le tự động sa thải hoặc sa thải phụ tải theo lệnh điều độ
+ Sa thải phụ tải tự động bằng rơ le tần số thấp Hệ thống sa thải phụ tải tự động theo tần số phải được bố trí, cài đặt hợp lý để đảm bảo hệ thống điện không bị tan rã khi có sự cố xảy ra Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện có trách nhiệm xác định vị trí lắp đặt, các giá trị chỉnh định của rơ le tần số thấp và thực hiện lệnh sa thải phụ tải trong trường hợp sự cố xảy ra trong hệ thống điện;
+ Xây dựng các phương thức phân tách hệ thống thành các vùng hoặc tạo mạch vòng để khi xảy ra sự cố lan truyền vẫn có thể cân bằng được công suất trong từng vùng, nhằm duy trì vận hành riêng rẽ một phần hệ thống điện và ngăn ngừa
sự cố lan rộng trong hệ thống điện;
Trang 8+ Khi tần số tăng đến trị số cho phép, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện có trách nhiệm khôi phục lại các phụ tải đã bị sa thải;
+ Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện có quyền can thiệp để hạn chế việc phải tách liên tiếp các tổ máy phát điện, các đường dây tải điện ra khỏi vận hành;
+ Trường hợp sự cố tan rã toàn bộ hoặc một phần hệ thống điện, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện được chỉ định nhà máy điện có khả năng khởi động đen để khôi phục hệ thống điện Trường hợp cần thiết, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện có thể yêu cầu nhà máy phát điện vận hành tổ máy phát điện không theo các đặc tính vận hành với điều kiện đảm bảo
an toàn cho người và thiết bị Đơn vị phát điện có trách nhiệm tuân thủ lệnh khởi động đen và thông báo lại cho Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện có trách nhiệm khôi phục các phụ tải thích hợp để đảm bảo vận hành ổn định tổ máy phát điện và hoà đồng bộ với các tổ máy phát điện khác
V. Thông báo suy giảm an ninh hệ thống điện
Tại bất kỳ thời điểm nào, khi nhận thấy có tín hiệu suy giảm an ninh hệ thống điện, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện phải gửi ngay thông báo về tình trạng giảm mức độ an toàn của hệ thống điện cho Đơn vị truyền tải điện, Khách hàng sử dụng lưới điện truyền tải và các bên có liên quan những thông tin sau:
Tình trạng suy giảm an ninh hệ thống điện;
Nguyên nhân;
Phụ tải có khả năng bị sa thải;
Các đơn vị và khu vực chịu ảnh hưởng
Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện phải thông báo trước cho các đơn vị bị ảnh hưởng khi thực hiện sa thải phụ tải theo lệnh điều độ Thông báo phải bao gồm những thông tin sau:
Các khu vực bị ngừng, giảm cung cấp điện;
Lý do ngừng, giảm cung cấp điện;
Thời điểm bắt đầu ngừng, giảm cung cấp điện;
Thời điểm dự kiến khôi phục cung cấp điện
Khi không thể thông báo trước về sa thải phụ tải theo lệnh điều độ, Đơn
vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện phải thông báo cho Đơn vị truyền tải điện, Khách hàng sử dụng lưới điện truyền tải và các đơn vị liên quan ngay sau khi thực hiện sa thải phụ tải theo lệnh điều độ:
Trang 9 Các khu vực đã bị ngừng, giảm cung cấp điện;
Lý do ngừng, giảm cung cấp điện;
Thời điểm bắt đầu ngừng, giảm cung cấp điện;
Thời điểm dự kiến khôi phục cung cấp điện
Hình thức thông báo: Trên cơ sở đánh giá an ninh hệ thống điện theo kế hoạch vận hành hệ thống điện năm, tháng, tuần và lịch huy động ngày, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện có trách nhiệm thông báo suy giảm
an ninh hệ thống điện và các biện pháp phòng ngừa ngừng, giảm cung cấp điện (nếu có) như sau:
Gửi văn bản tới các đơn vị liên quan và đăng thông tin trên Trang thông tin điện tử của hệ thống điện và thị trường điện đối với thông báo suy giảm an ninh hệ thống điện theo kế hoạch vận hành hệ thống điện năm, tháng;
Gửi văn bản, ra lệnh điều độ trong phạm vi quyền điều khiển và đăng thông tin trên Trang thông tin điện tử của hệ thống điện và thị trường điện đối với thông báo suy giảm an ninh hệ thống điện theo kế hoạch và phương thức vận hành hệ thống điện tuần, ngày
Lấy ví dụ về đường dây truyền tải điện: đường dây truyền tải điện BẮC NAM
Lưới điện 220 kV miền Nam hiện nay cũng có 11 đường dây vận hành tải cao trên 80% định mức (như Long Bình - Long Thành (2 mạch); Long Thành - Phú
Mỹ (2 mạch); Tân Định (lộ 279) - Mỹ Phước (274); Thốt Nốt 2 (275) - Long Xuyên 2 (271); Mỹ Tho 2 (274) - Mỹ Tho (275); Nhà máy Thủy điện Trị An
(271) - Sông Mây (279); Sông Mây (275) - Long Bình (276); Thuận An - Hóc Môn (2 mạch) Lưới điện 220 kV miền Nam hiện nay cũng có 11 đường dây vận hành tải cao trên 80% định mức (như Long Bình - Long Thành (2 mạch); Long Thành - Phú Mỹ (2 mạch); Tân Định (lộ 279) - Mỹ Phước (274); Thốt Nốt 2
(275) - Long Xuyên 2 (271); Mỹ Tho 2 (274) - Mỹ Tho (275); Nhà máy Thủy điện Trị An (271) - Sông Mây (279); Sông Mây (275) - Long Bình (276); Thuận
An - Hóc Môn (2 mạch)
Hệ thống phân phối điện mặc dù trong điều kiện tương đối tốt vẫn còn có tổn thất điện năng cao Đường dây bị quá tải, máy biến áp vận hành với hiệu suất chưa cao, cáp điện có chất lượng kém là nhưng nguyên nhân chính gây ra tổn
Trang 10thất cao EVN đã có một số biện pháp quan trọng để giải quyết những vấn đề này và hiện nay đã giảm đáng kể những tổn thất trên lưới truyền tải và phân phối EVN có kế hoạch tiếp tục giảm tỷ lệ tổn thất hệ thống xuống dưới
8.8% vào năm 2013 và các năm tiếp theo
Một số dạng sự cố xảy ra khi vận hành đường dây truyền tải:
Thứ nhất :Sự cố do sét:
Nguyên nhân được xác định do sét đánh trực tiếp vào dây chống sét với cường độ lớn vượt ngưỡng chịu đựng của cách điện, gây phóng điện ngược chuỗi cách điện của các pha đường dây 500 kV và 220 kV, nhất là ở kỳ mưa bão, giông sét tập trung ở miền Bắc và miền Nam
Thứ hai: Sự cố do đứt dây dẫn, hoặc dây chống sét, tụt lèo, đứt cách điện:
Một trong các nguyên nhân là tồn tại do nhà thầu xây dựng trong quá trình thi công không xử lý các tổn thương dây, hoặc thi công không đúng quy trình, không thông báo cho tư vấn giám sát biết, hoặc công tác nghiệm thu không phát hiện
Thứ ba: Sự cố do dây lèo dao động chạm vào thân cột, vào xà; dây dẫn dao động chạm vào cây, vách núi, công trình ngoài hành lang:
Nguyên nhân chủ yếu là do gió bão, hoặc giông, gió lốc cục bộ làm dây dẫn dao động mạnh va vào vách taluy dương, cây cối ngoài hành lang, hoặc dây lèo dao động giật văng vào thân cột gây phóng điện
Thứ tư: Sự cố do vi phạm hành lang đường dây:
Nguyên nhân là do các phương tiện (giao thông tàu thuyền, phương tiện giao thông xây dựng, cần cẩu) vi phạm chiều cao khoảng cách an toàn tới dây dẫn điện gây phóng điện
Thứ năm: Sự cố do quá tải dây dẫn:
Khiến cho các dây dẫn bị quá tải gây nên cháy nổ
Thứ sáu: Sự cố do băng tuyết:
Nguyên nhân được xác định do nhiệt độ môi trường xuống thấp <0 độ C tại khu vực miền núi phía Bắc, nước đóng băng bám trên dây dẫn làm tăng tải trọng của dây dẫn, cộng thêm gió lốc lớn đã làm gục xà dây dẫn, gây sự cố
C Phân phối điện đến hệ tiêu thụ.