Tiếp nội dung phần 1, Thành phố Hồ Chí Minh và vùng đô thị Châu Á: Phần 2 cung cấp cho người học những kiến thức như: phát triển đô thị hoá và quản lý đô thị ở sài gòn -TP Hồ Chí Minh. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1CHUONG
PHAT TRIEN ĐÔ THỊ
Ở SÀI GÒN- TP HỒ CHÍ MINH
VUNG DO TH] CHAU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH e 165
Trang 3I LICH SU TIEN TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA G SAI GON -
TP HỒ CHÍ MINH
'Tiến trình mởrộng Không gian từ một Kặoảnh đấtnỏ ởnfiững năm đầu của thế Kỷ 17 dén fon 2.000 KhÈ hôm nay, Sdi Gon-TP Hd Chi Minh da trải qua 300 năm uới nhiều giai doan phat trién Kidc nhau Day (a thank phd lon nhdt, nang dong nidt cla Vigt nam voi gdn 7 trigu din dang trong quá trình: “quá độ đô thị” để đuuyển từ đại dé thi don tdm sang da ove phi tập
trung hóa voi muc tiêu “van minh, hiện đại uà đậm đà bẩn sắc uăn fda dan
Cũng như tất cả các thành phố khác trên thế giới, Sài Gòn-
“Phan này tham khảo từ các khảo cứu của rất nhiều nhà nghiên cứu về lịch
Sử thành phố Sài Gòn (xem phần tài liệu tham khảo) Các số liệu về dân số,
diện tích tử các nguồn tài liệu này trong nhiều trường hợp rất không rõ ràng, sự khác biệt nhau về con-số thống kê thường là do không xác định được một cách
fạch ròi giữa địa điểm và thời điểm của ba khu vực chính: Sài Gòn, Chợ Lớn,
Gia Định Chúng tôi đã cố gắng đối chiếu và sắp xếp lại, nhưng vẫn còn những mâu thuẫn Để đảm bảo tính nhất quán, chúng tôi chủ yếu dựa vào nguồn của
nhà nghiên cứu lịch sử đô thị Nguyễn Đình Đầu (from Saigon to HoChiMinh City,
300 year history Science and Technics Publishing House 1998) va tham khao
wikm tl cdc nhà nghiên cứu khác như: Trần Bạch Đằng, Trần Văn Giàu, Nguyễn Công Bình, Nguyễn Hữu Thái (Địa chí văn hóa TP Hồ Chí Minh NXB TP.HCM
1987, 1988, 1990), Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Phạm Thiếu Hương, Nguyễn Đại Phúc, Đỗ Văn Anh (Sài gỏn - Gia Định xưa NXB Thành phố Hồ
Chí Minh.1996) và Lý Thái Sơn, Mạc Đường, v.v
VUNG BO TH] CHAU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH e 169
Trang 4TP Hồ Chí Minh có một lịch sử hình thành và phát triển hơn 300
năm So với Hà Nội (1010), thành phố Sài Gòn còn khá trẻ, nhưng
so với các thành phố khác trong khu vực thì nó có bể dày lịch sử không kém Nó ra đời sau Manila (1571) 127 năm, nhưng trước
Bangkok (1782) 84 năm và trước Kuala Lumpur (1857) những
159 năm
Trước thế kỷ 17, khu vực thành phố Sài gòn ngày nay còn
một là vùng đất hoang vu, rừng rậm, sinh lây với hệ sinh thái còn
ở dạng nguyên sinh, dân cư thưa thớt Trong cuốn “Phủ biên tạp lục” của Lê Quí Đôn viết năm 1776 được coi là cuốn sách sớm nhất của Việt Nam viết về vùng Nam Bộ, có viết rằng:” Ở phú Gia Định, đất Đông Nai, từ các cửa Cân Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại,
Cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm bạt ngàn” Còn theo “Gia
Định Thành Thông Chf" của Trịnh Hoài Đức thì lưu dân Việt đã vào vùng đất này sinh sống từ thời các “Tiên Hoàng Nhà Nguyễn”
(TK XVI-XVID Họ là lưu dân tứ xứ tới đây lập nghiệp và khai
hoang trên vùng địa bàn thành phố ngày nay, lúc đó gọi là dinh
Phiên Trấn Sử sách có ghi lại vào thời gian này đã có khoảng
40.000 hộ dân sinh sống rải rác khắp vùng.!
Mùa xuân năm Mậu Dần (1698) được coi là cột mốc quan
trọng đánh dấu sự ra đời chính thức của thành phố này bằng việc xác lập về hành chính từ triểu đình nhà Nguyễn Chúa Nguyễn Phước Chu sai Thống Suất Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược Nguyễn Hữu Cảnh đã “lập ra xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn” Như thế Phiên Trấn Dinh chính là cái tên đầu tiên của thành phố Sài Gòn ngày nay,
từ đó Sài Gòn trở thành một trung tâm hành chính, có chế độ cai trị đi dan vao né nếp, có sự quản lý của nhà nước, theo luật pháp, giảm thiểu việc tranh hùng, xưng bá tự phát theo kiểu “mạnh được, yếu thua”, và tiết giảm chế độ tự quản theo nhóm cộng đồng của lưu dân Sự kiện này đã xác định chủ quyền của nhà
1 Sài gòn- Gia Định xưa NXB Thành phố Hồ Chí Minh.1996 trang 8
170 VUNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 5nước Việt Nam trên một vùng đất mới theo tinh than “Dan lang
mở đất trước, nhà nước đến cai trị sau’
Tiến trình mở rộng không gian của thành phố này không nằm ngoài qui luật phát triển từ “trấn”, “thành” tới “thành thị” và “đô
thị” Tiến trình này được thể hiện theo dòng lịch sử như sau:
e Năm 1623, Chúa Nguyễn cho lập đôn thu thuế tại Prei
Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé) Chẳng bao lâu sau,
xung quanh hai đổn thuế này trở thành thị tứ trên bến dưới thuyền,
công nghiệp và thương nghiệp sầm uất?
e Sự ra đời của dinh Điều Khiển (một đại đồn binh tọa lạc
khoảng ngã tư Nguyễn Trãi - Cống Quỳnh gần chợ Thái Bình, quận 1 ngày nay) Người lãnh đạo là một võ tướng, và được goi
là quan Điều Khiển
e Năm 1772, Ông Nguyễn Cửu Đàm là tướng quân Điều Khiển đã đắp lũy Lũñy Tân Hoa mệnh danh là Lũy Bán Bích
nhằm mục đích phòng vệ cho thành phố trước họa xâm lấn của
quân Xiêm La Lũy kéo dài 15 đặm (chừng 10 km) từ chùa Cây
Mai (thuộc Chợ Lớn) vòng qua Nhiêu Lộc - Thị Nghè, phố thị
Bến Nghé (nay là Sài Gòn) ở phía Đông và phố thị Sài Gòn (nay
‘1a chợ Lớn) ở phía Tây, nhằm bảo vệ Phía Tây và phía Bắc của
Sài Gòn Lũy này kết hợp với các rạch Bến Nghé và Thị Nghè
đã khoanh “vùng Sài Gòn” có diện tích chừng 30 km? Tướng Nguyễn Cửu Đàm không chỉ là chà quân sự lỗi lạc (ông đã chiến thắng quân Xiêm La xâm lược) và nhà hành chính xuất sắc mà còn được coi là nhà qui hoạch đầu tiên của thành phố
e Cùng với yếu tố “thành” thì yếu tố “thị” cũng đã được hình thành từ trước đó Trước 1772, bên cạnh và rải rác xung quanh
những đồn và dinh đã có chợ, hàng quán, thuyển bán hàng lưu động, đã có phố thị Bến Nghé (Quận 1), Sài Gòn (quận 5), nay
? Thành phố Hồ Chí Minh 20 năm (1975-1995) NXB TP Hồ Chí Minh, 1997, Trang 13-14
3300 năm địa chính Sở địa chính TP Hồ Chí Minh 1998 trang 9
VÙNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH e 171
Trang 6có thêm tường thành bảo vệ, nên nó đã có đủ cơ sở của “thành”
và “thị” để gọi là “thành thị” khi nói về địa giới Bến Nghé( Sai
Gòn) và do vậy mà người Tây phương gọi là Sài Gòn City hay
Ville de Sai Gon Còn nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu khẳng định: “Kể từ 1772, Sài Gòn là một thành phố đúng nghĩa từ nguyên của thành và phố Riêng việc buôn bán tập trung thóc gạo và các
nông sản khác đã thu hút tàu bè tứ xứ Các phố xá và chợ ngày
càng nhiều và đông đúc” và quả quyết rằng ngay thời đó “thì nơi đây đúng là thành phố thực sự vì vừa có thành vừa có phố” Điều này cho thấy người dân ở thành phố này đã làm quen với thương mại và kiểu kinh tế thị trường từ rất sớm
e Ngay sau khi chiến thắng Tây Sơn, Sài Gòn được Nguyễn Ánh nâng lên thành kinh đô với tên gọi là Gia Định Kinh Năm
1790 (Canh Tuất) vào tháng 3 âm lịch, thành Bát Quái (hay thành Qui) rộng lớn, đổ sộ 1 có 3 lớp được xây dựng tại làng Tân Khai Theo bản đổ ngày nay thì thành này nằm giữa 4 con đường là Định Tiên Hoàng (đông), Nam Kỳ Khởi Nghĩa (tây), Lê Thánh Tôn (nam) và Nguyễn Đình Chiểu (bắc) Chúa Nguyễn điều động 30.000 nhân công để xây thành với sự giúp đỡ của các kỹ sư, kiến trúc sư người Pháp như Le Brun (được coi là kiến trúc sư qui hoạch đâu tiên của Sai Gon) va Olivier (kỹ sư đôn đốc thi công)
theo kiến trúc quân sự bố phòng Vauban (Vauban là thống chế
người Pháp (1633-1707), tác giả của kiến trúc pháo đài phòng thủ có hình ngôi sao vào cuối thế kỷ 17) Giám thành là Trần Văn Học Ông là người đọc được sách Tây phương và đã học được nghề xây thành trì ở Ấn Độ Ông có thể được coi là một trong những
“kiến trúc sư” Việt Nam đầu tiên ở Nam Bộ tiếp thu và ứng dụng kiểu kiến trúc Tây phương vào vùng đất này Ông góp phần đáng
kể vào việc xây dựng thành và qui hoạch phố thị Bến Nghé
“Goi la thành Qui vì nó có hình dáng giống con rùa thuộc tứ linh (long, ly, qui, phụng), có đặc tính trường thọ Cũng còn gọi là thành bát quái vì có 8 cạnh như 8 quê dịch Đây là biểu hiện của việc kết hợp triết lý phương Đông với kỹ thuật xây dựng phương Tây vào thời kỳ đó
172 VUNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 7BAN DO MO TA THANH QUI NAM 1790
Vào năm 1802, sau khi thâu phục được Huế và Bắc Hà,
Nguyễn Ánh lên ngôi với niên hiệu Gia Long và đặt kinh đô tại
Phú Xuân- Huế, thì thành Gia Định chỉ còn là ly sở của Nam Bộ ngũ trấn rỗi Nam Kỳ lục tỉnh, nhưng với sự bề thế của thành và phố thị, nó vẫn được mệnh danh là Gia Định Kinh
e Từ năm 1811, sau khi nhà Nguyễn quyết định chọn Huế làm kinh đô thì Gia Định mất vai trò là kinh đô mà bị hạ xuống
một bậc từ Gia Định Kinh trở thành Gia Định Thành (tên chính thức được gọi từ năm 1801) Năm 1835, thành Bát Quái bị vua Minh Mạng cho triệt phá toàn bộ vì Lê Văn Khôi (con nuôi của
Tả Quân Lê Văn Duyệt- Tổng trấn thành Gia Định) khởi loạn
đánh chiếm vùng Nam Bộ (1833-1835) và lấy thành làm nơi cố
thú Sau đó thành Gia Định được xây dựng lại, 10.000 nhân công
được huy động từ 4 tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định
Tường đã tham gia xây thành Thành được xây xong sau hai tháng,
nhưng chu vi chỉ có 1.960 m nhỏ hơn rất nhiều so với thành cũ và
VUNG DO THI CHAU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH e †73
Trang 8tường thành thấp hơn trước chỉ khodng 4,7 m để tỏ rõ thứ bậc so
với thành trì ở Huế Thành mới có hình vuông nên gọi là thành
Phụng và nằm trên góc phía đông - bắc của thành cũ (căn cứ theo bản đổ TP HCM ngày nay thì thành nằm trong bốn con đường: mặt trước là đường Nguyễn Du, mặt sau là đường Nguyễn Đình Chiểu, mặt bên trái là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, còn mặt phải là Mạc Đĩnh Chi, cổng chính mở về đường Tôn Đức Thắng, cổng sau là Đinh Tiên Hoàng và hai cổng bên nhìn về đường Nguyễn Thị Minh Khai) Thành Phụng cũng theo kiến trúc bố phòng Vauban và hoàn toàn do người Việt Nam thực hiện, không hễ có
kỹ sư hay kiến trúc sư ngoại quốc làm cố vấn như đối với thành Qui Từ 1832, sau khi Lê Văn Duyệt qua đời, Minh Mạng bãi bỏ chức Tổng trấn để thực hiện chính sách trung ương tập quyển, và
Gia Định bị hạ cấp hành chính chỉ còn là Tỉnh Gia Định và cũng
như các tỉnh khác trực tiếp chịu sự cai quản của triều đình Vào năm 1820 địa bàn TP Hồ Chí Minh hiện nay nằm trên địa phận
của khoảng 300 xã thôn thuộc tổng Bình Trị, Tân phong, Dương
Hòa, Long Hưng với dân số phỏng đoán là 225.000 người
Trang 91.2 Giai đoạn từ 1858 đến 1945
1.2.1 Tiến trình mở rộng không gian và hình thành cơ sở hạ
tâng kỹ thuật
e Ngày 8-3-1859, liên quân Pháp - Tây Ban Nha do tướng
De Genouilly chỉ huy với 8 chiến thuyền, 2.000 quân nổ súng hạ được thành Gia Định và đặt 32 trái mìn cho nổ tung các tường thành Ngày 5-6-1862, triều đình Huế buộc phải ký hòa ước Nhâm Tuất để cho Pháp chiếm làm thuộc địa 3 tỉnh miễn đông Nam kỳ
là Gia Định, Biên Hòa và Định Tường
e Bắt đầu từ những năm 1860 trở đi, thực dân Pháp đã đưa vào miễn Nam nói chung và thành phố Sài Gòn nói riêng những
hoạt động cai trị theo kiểu phương Tây như hệ thống hành chính
từ cấp tỉnh, thành đến ty, sở Kiểu quản lý đô thị, qui hoạch đô thị, phong cách kiến trúc kiểu phương Tây cũng như hoạt động kinh tế thị trường bắt đầu xuất hiện và tác động mạnh mẽ ở thành phố này trong gần 100 năm Pháp đô hộ, và ảnh hưởng của
nó còn đến tận hôm nay “Thành phố chỉ thực sự chuyển từ mô hình trung tâm hành chính sang mô hình trung tâm công thương nghiệp kể từ ngày giao lưu với phương Tây, cách đây gân 150
năm” Điều này cũng đã được Võ Văn Sen nhận định: “Khi Pháp
đến, các hoạt động kinh doanh tư bản chủ nghĩa của nhà nước thực dân Pháp và các tập đoàn tư bản tư nhân nước ngoài, chả yếu là tự bẩn Pháp đã làm cho các thành thị cũ của nước ta phát
triển theo hướng mới: trở thành những đô thị công thương nghiệp
hơn là những trung tâm chính trị, văn hóa như trước”® Một trong biểu hiện rõ rệt nhất được nhắc đến trong “Địa chí Văn hóa TP
Hồ Chí Minh” là “cho dẫu là người Việt, Hoa hoặc Ấn cũng phải
“Hội đồng khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh Giáo sư Trần Văn Giàu; Trần
Bạch Đằng Địa chí văn hóa TP Hồ Chí Minh NXB TP Hồ Chí Minh, 1998,
Trang 10làm nhà cửa, phố thị theo kiểu Tây đông loạt” 7
Về qui hoạch Sài Gòn, các nhà qui hoạch và kiến trúc sư của
Pháp đã cố gắng kiến tạo “Sài Gòn giống hệt như một thành phố địa phương của Pháp”, cũng như họ đã thiết kế Đà Lạt là một
“Paris nhỏ” Người ta thường hay nhắc đến đại tá công binh người Pháp tên là Coffyn, ông là người đâu tiên đưa ra ý đổ qui hoạch
TP Sài Gòn theo kiểu phương Tây, theo chỉ thị của đô đốc Pháp Bonard Ngày 30-4-1862, Coffyn đã đệ trình bản thiết kế dự án
xây dựng thành phố Sài Gòn có qui mô vừa phải và mỹ quan
theo phong cách Tây phương Mặc dù để án qui hoạch này không
được thực thi, nhưng nó rất quan trọng, bởi vì đây là bản qui
hoạch đâu tiên của thành phố theo phong cách phương Tây hiện đại, những tư tưởng thiết kế mang tính triết học duy lý của nó ít nhiều ảnh hưởng đến các nhà qưi hoạch sau này Những ý tưởng viết trong dé án này khiến cho chúng ta hôm nay còn ngạc nhiên
và thán phục Một vài điều cần được nhắc đến trong để án này:
- VỀ qui mô không gian và dân số, Coffyn qui hoạch thành
phố Sài Gòn có diện tích rộng khoảng 2.500 ha, sức chứa theo
tính toán vào khoảng 500.000 đến 600.000 dân Ranh giới được chỉ ra: mặt phía đông của vùng qui hoạch là sông Sài Gòn, phía Nam là rạch Bến Nghé và kênh Thị Nghè phía Tây và phía Bắc
là kênh Bao Ngạn Trong qui hoạch này thì người Việt Nam bản địa sẽ định cư ở ngoại ô, bởi người Pháp không muốn nếp sinh hoạt xã thôn truyền thống tổn tại trong trung tâm thành phố
- Về phân khu chức năng, Coffyn đưa ra ý tưởng chia thành phố ra làm hai phần chính Phần thứ nhất là khu vực hành chính
và công nghiệp, phần thứ hai là kinh doanh, thương mại.Khu vực thứ nhất trải dài từ phía Đông của đường Hoàng Đế (Hai Bà
Trưng hiện nay) tới kênh Thị Nghè với diện tích chừng 200 ha
7 Hội đồng khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh Giáo sư Trần Văn Giàu; Trần
Bạch Đằng Địa chí văn hóa TP Hồ Chí Minh NXB TP Hồ Chí Minh, 1998,
trang 521
176 e VÙNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 11Khu vực này có toà Thống đốc, các văn phòng hành chính, bộ chỉ
huy quân sự, bệnh viện quân đội, bến tầu Khu vực thứ hai trải
dài từ phần phía Tây tới khu chợ Lớn, bao gồm diện tích hơn
2.300 ha chủ yếu là để kinh doanh, các khu nhà dân sự Còn các
công trình khác như nhà thờ, nghĩa trang, chợ, nhà hát sẽ được bố
trí địa điểm tuỳ theo chức năng và nhu cầu của người dân
- Tác giả của công trình này cũng đưa ra những tiêu chuẩn đầu tiên trong kiến trúc và xây dung Ong ta dé xuất những trục đường .chính của thành phố phải có bể mặt rộng là 40 mét, những đường
cấp 2 (đường nhánh của đường chính) là 30 mét bể rộng Những con đường loại một trong khu dân cư chạy qua trước nhà là 4 mét,
mặt đường được lát, có vỉa hè và hai hàng cây ở mỗi bên đường, còn đường loại hai có bể rộng là 2 mét và một hàng cây chạy một
bên đường Hành lang dọc theo bến cảng Sài Gòn, Bến Nghé, Thị
Nghè sẽ được thiết kế như một con đường đi bộ với bể mặt rộng 40 mét, vỉa hè rộng 6 mét, có hai hàng cây nằm sát cạnh các ngôi nhà Dọc theo con kênh hở từ rạch Bến Nghé đến Nhiêu Lộc là một đại lộ có chiều dài 20 km và chiều rộng 40 mét như ở bến cảng Sài Gòn để chọ mọi người thả bộ dưới bóng râm của cây
- Ở tất cả các trung tâm của khu dân cư chính, đài phun nước
và vòi nước phải được ưu tiên hàng đầu, bởi vì nơi đây là khí hậu nhiệt đới Việc thiết lập hệ thống thoát nước thải và nước mưa ở thành phố này rất khó khăn, bởi vì địa hình của Sài Gòn thấp hơn mặt nước của sông và kênh rạch Do vậy nên thiết lập hệ thống thoát nước thải theo chế độ tự động Coffyn còn gợi ý là chúng ta nên học tập thành phố Calcutta của Ấn Độ, đào một cái hỗ nhân tạo lớn ở trung tâm thành phố để điều hòa nước Hồ này có một
số cửa nó sẽ được mở ra để nhận nước sạch từ sông và kênh rạch chay vào khi nước thủy triểu lên và bằng cách này nó sẽ tống nước bẩn ra kênh rạch bằng một hệ thống các ống dẫn ra kênh Bến Nghé, Thị Nghè và sông Sài Gòn khi mà nước triểu xuống
Cứ hai lần một tuần nước chảy vào và xả ra sẽ làm sạch hệ thống nước thải của thành phố
VUNG BO THI CHAU Á & THÀNH PHỐ HỎ CHÍ MINH @ 177
Trang 12- Tuy nhiên, qui hoạch của Coffyn có phần thiên về bố phòng
quân sự, hơn nữa vào thời gian 1862, thì qui hoạch Coffyn bị coi
là ảo tưởng, thiếu tính khả thi, bởi vì số tiền để đầu tư cho cơ sở
hạ tầng như đường sá, cầu cống, công viên, cấp thoát nước là quá lớn, và trên thực tế nó ít được đưa vào triển khai thực tế,
nhưng từ sau những năm 1900 thì nó lại bị coi là lạc hậu vì qui
mô thực tế của thành phố đã vượt ra khỏi tầm qui hoạch mà
Coffyn để xuất
Bên cạnh kế hoạch của Coffyn ra, những quan điểm qui hoạch
và thiết kế Sài Gòn còn được thể hiện ra trong nhiều tài liệu chính thức khác của người Pháp như bức thư của Chỉ huy trưởng Aries gửi cho đô đốc Bonard và thư phúc trình của Ủy ban Công
nghiệp và Nông nghiệp Đông Dương Trong bức thư gửi đô đốc Bonard viết tháng 12-1861 với tựa để “Bàn về các vấn đề của đô thị hóa và sở hữu đất”, ông Aries có để cập đến việc đền bù giải tổa các loại chủ sở hữu đất khác nhau khi xây dựng thành phố Sài Gòn theo mô hình Châu Âu, đặc biệt trong dự thảo của Ủy ban Công nghiệp và Nông nghiệp đã phác thảo rất tỉ mỷ thiết kế
thành phố Sài Gòn mới, mà dấu ấn của nó vẫn còn in đậm đến
hôm nay, chẳng hạn: con đường được quan tâm đầu tiên là đường Catinat (Đồng Khởi) nó nối từ sông Sài Gòn đến toà thành cũ (thành Phụng), và nó được làm chuẩn để cho các con đường khác bắt đầu từ sông Sài Gòn phải xây dựng sao cho chạÿ song song
với nó Sau nữa là các kiến nghị giữ lại các con kênh, nạo vét
sâu xuống để tạo sự thuận tiện cho tàu bè cặp ngay vào mặt trước chợ Bến Thành, và chính những con kênh này sẽ tạo ra “vẻ đẹp như bất kỳ thành phố nào của châu Âu” Tác giả (hoặc nhóm tác giả) đã để xuất việc xây dựng các vòng xoay là điểm giao cắt của nhiễu con đường gặp nhau, ở tâm điểm là một tượng đài
và bao xung quanh là một quảng trường Đây chính là một đặc
trưng điển hình nhất của thiết kế đô thị phương Tây Một trong số các vòng xoay - quảng trường điển hình là quảng trường trước
Ủy ban Nhân dân Thành phố ngày nay (trước kia gọi là National
178 VUNG DO TH] CHAU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 13Street) Tất cả các con cường đều chạy theo hướng Đông-Nam tới Tây-Bắc, chúng được cắt vuông góc bởi những con đường
chạy theo hứơng Tây-Nam tới Đông Bắc, và điều quan trọng nhất là chúng bắt đầu từ bến cảng Những con đường ngang này
là Vannier (Ngô Đức Kế), Bonard (Lê Lợi), Thabe:t (Nguyễn Du), Chasseloup-Laubat (Nguyễn Thị Minh Khai), Tất cả các con đường đều phải có vỉa hè đi bộ được phủ bằng vật liệu xây dựng, bên dưới nó là các ống thoát nước và dọc theo các con đường
là trồng những hàng cây có ấn tượng như me, xoài, sao, hạnh Một
vườn bách thảo cũng được để xuất trong dự án của uỷ ban
Các công trình xây dựng ở đây được nhóm tác giả này khuyến cáo nên kết hợp giữa kiến trúc phương Tây và kiến trúc bản địa,
thậm chí là cả các trường dòng, nhà thờ cũng được gợi ý là thiết
kế kết hợp giữa Gothic và bản địa để có thể tạo ra vẻ đẹp khí
nhìn từ xa Trong bản báo cáo này các tác giả cũng đưa ra con số
du tinh cho Sài Gòn là vào khoảng 65.000 đến 75.000 ngần người Những ý tưởng thiết kế này về sau được thi công trong thực tế
mà chúng ta thấy ngày nay
e Đến năm 1863, người Pháp đã thực hiện được một số ý
tưởng của mình, chẳng hạn qui hoạch xong được khu vực trung tâm Đó là khu vực sông Sài Gòn từ rạch Thị Nghè đến rạch Bến Nghé đài khoảng 2 km và đi sâu vào chừng hơn lkm tới đường Chasseloup-Laubat (Nguyễn Thị Minh Khai) Nghĩa là khu vực được qui hoạch và xây dựng theo kiểu Tây Âu mới được chừng
vẻn vẹn có 2 km2 Từ năm 1868 Pháp cho lấp một số kênh rạch lớn như Kinh Lấp (đường Nguyễn Huệ ngày nay), vũng đâm lớn gọi là Boresse được lấp đi để xây dựng chợ Bến Thành (khánh thành năm 1911) Trong phạm vi nhỏ hẹp đó người Pháp đã xây dựng được một số công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đầu tiên mang dấu ấn hiện đại, chẳng hạn như sở bưu điện Sài Gòn (13-
1); nhà máy Ba Son (28-4); cảng Nhà Rồng, Thảo cầm viên, cột
đồng hồ, sở thiên văn, kho bạc, quân cảng, thương cảng, kho thuốc súng, hãng chuyên chở Nhà Rông, Từ năm 1863 trở đi
VUNG DO THI CHAU Á & THÀNH PHO HO CHi MINH e 179
Trang 14các công trình mang dấu ấn phương Tây lần lượt xuất hiện như cảng Sài Gòn năm 1866, dinh Norodom 1868, Dinh xã tây- nay
là Ủy ban Nhân dân Thành phố Hề Chí Minh, nhà thờ Đức Bà
1877 Cho đến năm 1883, toàn thành phố đã có 55 đường phố với tong chiéu dai là 25 km Lúc đầu đường phố chỉ bằng đất nện, sau đó là rải đá đăm
ø Ngày 3-1-1865, chính quyển thuộc địa cho lập hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn riêng rẽ, nhỏ hẹp Nghị định lập qui chế thành phố Sài Gòn ra đời ngày 15-6-1865 Trong đó qui định riêng thành phố Sài Gòn xây theo quy hoạch và kiến trúc đô thị
Tây phương Địa phận thành phố Sài Gòn chính thức được xác lập khi đó chỉ rộng chưa tới 3 km? nằm gọn trong khuôn viên:
đường Nguyễn Đình Chiểu, rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn và
đường Cách Mạng Tháng Tám ngày nay, còn diện tích của Chợ Lớn cũng không hơn 2 km? Giữa Sài Gòn và Chợ Lớn vẫn là những ruộng rau, làng xóm lơ thơ và vũng lầy
e Sau khi chiếm toàn Nam Kỳ năm 1867, Pháp chính thức
bắt tay xây dựng Sài Gòn thành thủ phủ của cả miễn nam Đông Dương Cho đến năm 191i số đường phố lên đến 94 con đường với tổng chiều dài là 93 km, trong đó có 6 đại lộ, từ 1905 đã bắt
đầu có những con đường trải nhựa Đến năm 1930, Sài Gòn có
125 con đường, Chợ Lớn có 164 đường, tổng cộng là 344 con đường với 260 km Năm 1870 bắt đầu trồng cây hai bên đường Năm 1873 xây vỉa hè, cũng vào năm này hình thành nên hệ thống cấp nước sạch cho một vài khu dân cư cao cấp bằng tháp nước Năm 1867 có hệ thống chiếu sáng đường phố, lúc đầu
dùng đầu dừa, sau đó đến năm 1869 thắp đèn đường bằng dầu
hỏa, năm 1873 dùng gas, mãi đến năm 1900 mới có đèn đường
bằng điện, về sau có nhiều hơn do có nhà máy điện ra đời năm
1909 Từ năm 1879 bắt đầu đánh số nhà theo thông lệ bên phải
là chẵn, trái là lẻ và được bắt đầu số nhỏ từ rạch Thị Nghè hoặc
bờ sông Sài Gòn Các con đường được đặt tên (chủ yếu mang tên Pháp) Một số tên con đường dưới đây vào năm 1865, cho thấy
180 ¢ VUNG DO THI CHAU A & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 15các đường phố Sài Gòn khi đó đều mang tên nước ngoài
TÊN ĐƯỜNG PHỐ VÀO NĂM 1865 HIỆN NAY
Bến Napoleon Tôn Đức Thắng
Lefebvre Nguyễn Công Trứ
Dayot Nguyễn Thái Bình
Vannier Ngô Đức Kế
Hamelin Lê Thị Hồng Gấm
Hospital Đồn Đất
Impériale Hai Ba Trung
Palanca (phan Nam) - Lé Thanh Tén
Isabelle II (phần ở giữa) Lê Thánh Tôn
Sainte-Enfance (phần bắc) Lê Thánh Tôn
Catinat Đồng Khởi
Rigault de Genouilly (trai) Nguyén Hué
Charner (phai) Nguyén Hué
Thabert Nguyén Du
Olivier (phai) Nam Kỳ Khởi Nghĩa
Chasseloup-Laubat Nguyễn Thị Minh Khai
e Năm 1890, Betraux, một nhà qui hoạch người Pháp đã đưa
ra một qui hoạch tổng thể hoàn thiện hơn và được thực thi nhiều
hơn trong thực tế Qui hoạch này được tính toán khá chặt chẽ
theo nguyên tắc của toán học và hình học Năm 1893 ban dé qui
hoạch thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn với tỷ lệ 1/20.000 được
hoàn thành Những ý tưởng của các tác giả từ năm 1982 đã được kế thừa và nâng cao lên Các ô phố, các bùng binh, các vòng xoay có tượng đài, quảng trường, và đường sá được bố cục
theo ô vuông bàn cờ, các trục đường chính được thiết kế vuông
góc nơi giao nhau lần lượt ra đời Nhà nghiên cứu đô thị Nguyễn
Hữu Thái đã viết trong “Địa chí Văn hóa TP Hồ Chí Minh” như
VUNG DO THI CHAU A & THANH PHO HO CHi MINH e 181
Trang 16sau “Sài gon vẫn quy hoạch xây dựng dựa trên các trục đường Gia Định Thành thời cũ nhưng người Pháp rõ ràng bị ảnh hưởng
sâu sắc của lối quy hoạch đô thị La Mã và nhất là quy hoạch
Paris mới của Thị trưởng Haussmann, rất thời thượng ở Châu Âu
lúc bấy giờ Quy hoạch dựa trên hai trục Cardos (Nam-Bắc, đường
Lê Duẩn) và Decumanus (Đông -Tây, đường Đông Khởi) lấy
dinh Thống Nhất và nhà thờ Đúc Bà làm điểm kết Hai trục phụ
là Nguyễn Huệ và Lê Lợi, với Ủy ban Nhân dân và Nhà hát làm
điểm kết Các con: đường còn lại chạy song song theo 6 vudng
bàn cờ, lề đường trông cây, có các ngã năm ngã bảy, quảng trường, bùng binh, công viên, chỗ đậu xe Thành phố chủ yếu chia
làm hai khu vực như thời Gia Định Thành, trên phan đất cao là
trung tâm xây cất kiểu trình diễn, phô trương thanh thế chính
quyên thuộc địa với dinh thự, công số, nhà Tây; phần đất thấp chạy dọc theo kinh rạch kéo dài đến Chợ Lớn là không gian làm
ăn sinh sống bản xứ, xúm xít chật chội hơn Thực ra, Sài Gòn thời
Pháp cùng lúc tôn tại song song các lối sống và văn hoá khác nhau: Thành phố vườn của người Âu (quận 1, 3), phố ngõ xúm xít
theo bang hội người Hoa (dọc rạch Bến Nghé, kinh Tàu Hủ đến Chợ Lớn), nhà phố liên kết của người Ấn Chetty (quanh chợ Cũ,
chợ Bến Thành), và mạng lưới hẻm nhỏ chật chội nhà lá của người Việt (phía Tân Định, Phú Nhuận, Hoà Hưng, Khánh Hội)®"
e Vào thời gian đó thành phố này được qui hoạch trên một
điện tích là 7,5 km, mật độ 44 người/ha Vào năm 1865, ở thành
phố Sài Gòn đã có 70 hãng, công ty thương mại lớn như rượu,
nước ngọt, xây dựng, vận tải, thuốc tây, máy móc, đệt, đồng hồ,
khách sạn, nhưng không có hãng nào của người Việt Nam; 65
trong số đó là của người Châu Âu, 5 còn lại là của người Trung Quốc Cư dân sinh sống ở khu trung tâm hầu hết là người Pháp, người Hoa, người Ấn Có một số ít người Việt làm công nhân
® Hội đồng khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh Giáo sư Trần Văn Giàu; Trần Bạch Đằng Địa chí văn hóa TP Hồ Chí Minh NXB TP Hồ Chí Minh, 1998, trang 476
182 e VÙNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 17viên chức hay tạp vụ trong nội thành, nhưng cư trú phân tán không
quy tụ thành khu vực riêng Sài Gòn thực sự trở thành nơi đô hội
và là nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại khá phát
trién so với toàn bộ khu vực Nam Bộ vào thời gian đó, và phố thị
Sài Gòn-Bến Nghé ngày càng khuếch trương rộng lớn hơn Về khu vực dân cư này, Học giả Nguyễn Đình Đâu mô tả “Trên
vùng đôi cao, dọc đường Nguyễn Thị Minh Khai, là khu dành cho
các công thự lớn như dinh Thống đốc, tòa án, nhà thờ lớn, bưu
điện, nhà thương, sau thêm toà xã Tây, nhà hát lớn,v.v Phía bờ
sông là khu thương nghiệp dịch vụ Các hãng buôn lớn và ngân hàng của thương gia Pháp hoặc ngoại quốc đều tọa lạc nơi đây Nhưng nơi cư trú của họ là các biệt thự có vườn xung quanh
thoáng mát nằm trên phần đôi cao (plateau) Các tiệm buôn bán
cỡ nhỏ và vừa của người Hoa thì tập trung gần chợ Bến Thành
(Ngân Khố ngày nay) sau cả khu vực Chợ Cũ lan rộng tới chợ
Câu Ông Lãnh Người Cha Ấn Độ - công chức cấp thấp, gác
cổng, chạy xe ngựa, chăn dê - tụ hội khá đông trong khu vực đầu
đường Lý Tự Trọng Một số người Ấn theo Hỏi giáo và buôn
hàng vải vóc Bombay, thì ở đường Đông Du Còn người Ấn làm
nghé Chetty cho vay lấy lãi tụ tập nơi đường Tôn Thất Dam” °
Vào thời gian này Chợ Lớn được qui định làm thành phố bậc
2, cũng không rộng hơn 2 km? Qui hoạch và kiến trúc ở Chợ Lớn
tuy vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc và luật lệ của đô thị do nhà
câm quyển để ra, nhưng nó vẫn mang đậm phong cách Trung Hoa Giữa hai thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn còn là đồng ruộng, làng mạc và bãi đất hoang
Cuối thế kỷ XIX, khoảng cách giữa hai thành phố được thu
hẹp dần do sự bành trướng của hai thành phố khiến chúng ngày
càng sát cạnh nhau Thật khó xác định được là yếu tố “thị” được xuất hiện trước ở Sài Gòn hay là Chợ Lớn Có thể chợ búa, giao
®Trung tâm nghiên cứu phát triển đô thị và cộng đồng Văn hóa truyền thống
trong phát triển đô thị NXB Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh 2004, trang 69-71
VÙNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH e 183
Trang 18thươag, mua bán xuất hiện ở Bến Nghé trước (nay thuộc Sài
Gòn), nhưng hình như kiểu mua bán được tập trung tại một vài
địa điểm với mật độ đày đặc theo kiểu phường, hội mang tính
chuyên nghiệp cao (ngày nay gọi là công nghệ kinh doanh) lại xuất hiện sớm hơn ở Chợ Lớn Vào năm 1698, xã Minh Hương
được người Hoa lập nên (Theo Gia Định thành thông chí của
Trịnh Hoài Đức, còn theo “Minh Hương Gia Thạnh” thì làng Minh Hương được lập vào 1789- Ký Dậu) sau đó những người Hoa từ nơi khác đổ về (chủ yếu là từ Biên Hòa) làm cho Minh Hương ngày một sẩm uất và phát triển thành trung tâm của Chợ Lớn ngày ấy và cả bây giờ Một trong những mặt hàng đầu tiên mà
người Hoa kinh doanh lớn là “gạo”, những dãy phố dài liên tục
kết hợp nhiều cửa hàng mặt phố vừa để ở vừa để kinh doanh
được ra đời Chính vì vậy mà các nhà nghiên cứu châu Âu gọi
loại nhà này với cái tên là “China house” hoặc “China
shophouse"“9, Đây chính là tiền thân của kiểu phố chuyên doanh
ở thành phố này Một số kiểu làm ăn như bán sỉ, nợ gối đầu, chu
trình buôn bán được tách ra thành từng công đoạn riêng mỗi người
chiu trach nhiệm một khâu (đặt hàng, đóng gói, vận chuyển, lưu kho, giao hàng, trả tiền, ) vẫn còn tổn tại đến ngày nay Trong khi đó yếu tố “đô” (được hiểu là các hoạt động chính trị, ngoại
giao, hành chính, quản lý) lại tỏ ra chiếm ưu thế hơn ở Sài Gòn
Nói chung vào cuối thế kỷ 19, yếu tố “thị” ở vùng đất này phát triển rất mạnh “Tờ cuối thế kỳ 17 đã hình thành hai trung tâm thương mại lớn, đó là trung tâm thương mại Bến Nghé (tức Sài
Gòn ngày nay tập trung đông thương nhân người Việt) và trung tâm thương mại Sài Gòn (tức Chợ Lớn ngày nay) tập trung đông
thương nhân người Hoa” '! (vào thời kỳ đó vùng Chợ Lớn ngày nay được gọi là Sài Gòn và vùng Sài Gòn được gọi là Bến Nghé) Cho đến 1861 địa danh hành chánh Sài Gòn mới được thông dụng,
'®Michael Leaf lnner ci Redevelopment in China,Great Britain.1995
''!Mạc Đường Xã hội người Hoa ở TP Hồ Chí minh sau 1975: tiềm năng và
phát triển NXB Khoa học xã hội 1994.Trang 37
184 ae VUNG DO THI CHAU A & THÀNH PHỐ HỖ CHÍ MINH
Trang 19địa danh Bến Nghé bị đi vào quên lãng, còn địa danh Chợ Lớn
được ghi lần đầu tiên trên bản đồ Gia Định do Taberd thực hiện'?
Gần tương tự như thế, ngày nay các địa danh Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định không còn tổn tại với tư cách là tên của một địa giới hành
chính chính thức mà chỉ tổn tại trong đời sống giao tiếp
Sau nhiều lần mở rộng, đến năm 1872 thành phố Sài Gòn có điện tích là 447 ha Năm 1894, vùng Đa Kao ~Tân Định gồm các
làng Hòa Mỹ, Phú Hòa, Nam Chơn, Tân Định, Xuân Hòa với điện
tích khoảng 344 ha hội nhập vào thành phố, làm cho diện tích tăng
lên 791 ha Năm 1895, các làng Khánh Hội và Tam Hội (Quận 4
ngày nay) rộng 182 ha gia nhập thêm vào, đưa diện tích Sài Gòn tăng lên 973 ha Năm 1906, Sài Gòn thu nhận thêm hai làng Tan
Hòa, Phú Thạnh (vùng Chợ Quán) rộng 344 ha lam cho diện tích
Sài Gòn tăng lên 1.317 ha và địa giới sát với thành phố Chợ Lớn Năm 1907, hai làng Vĩnh Hội, Chánh Hưng rộng 447 ha nhập vào
Sài Gòn làm cho diện tích tiếp tục tăng lên thành 1.764 ha
Tới Thế chiến thứ I (1914-1918), Sài Gòn đã xây dựng thêm nhiều công trình khang trang, đường phố sạch sẽ với nhiều hàng
cây, công viên, vườn thú xen kế các khu dân cư, hành chính, thương
mại và công nghiệp, nên Sài Gòn được mệnh danh là Hòn ngọc
Viễn Đông Dù vậy nhìn tổng mặt bằng thì Sài Gòn và vùng ven dân cư vẫn còn thưa thớt, chưa có nhiều phương tiện giao thông cơ giới, cảng Sài Gòn có nhiều tàu buồm hơn iàu chạy hơi nước Sài
Gòn tuy còn nhỏ nhưng được :hiết kế khá hợp lý cùng với các cơ sở
hạ tầng như điện, hệ thống cấp thoát nước
Ngày 27-4-1931, hai thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn được hợp nhất gọi là vùng Sài Gòn - Chợ Lớn (Région de Sai Gon - Cho Lon), rộng 5.100 ha, tức gấp đôi diện tích quy hoạch của Coffyn
- mà 70 năm trước bị coi là ảo tưởng Toàn vùng chia ra làm năm
quận (3 thuộc Sài Gòn va 2 thuộc Chợ Lớn)
'2Trần Văn Giàu (chú biên) Địa chí văn hóa TP Hồ Chí Minh, NXB TP Hồ Chí Minh,1987, tr 219 và 227
VUNG BO TH] CHAU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH e 185
Trang 20BAN DO THANH PHO SAI GON NAM 1930
Trang 211.2.2 Tiến trình gia tăng dân số
Cùng với việc gia tăng qui mô không gian là gia tăng dân số Tuy nhiên việc thống kê dân số trong thời kỳ này khá phức tạp Các triểu đình phong kiến Việt Nam chưa hiểu biết các kỹ thuật thống kê dân số Mãi đến khi người Pháp đến Việt Nam thì việc
lập bản đồ và các phương pháp thông kê dân số từ phương Tây
mới được áp dụng, chẳng hạn như vẽ bản đồ theo kinh tuyến, vĩ tuyến, việc lập bản đồ địa chính đầu tiên là do các sĩ quan công binh Pháp thực hiện, hay là việc mô tả thống kê dân số theo biểu
để Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu căn cứ vào biểu đê thống
kê của A Baudrit để mô tả về dân số của Sài Gòn và Chợ Lớn
1941 như sau) :
Năm 1881, Sài Gòn có 13.481 người, Chợ Lớn có 39.806 người, cộng cả Sài Gòn và Chợ Lớn là 52.930 người
Năm 1895, thành phố Sài Gòn có 37.593 người, Chợ 12n có
122 132 người, cả Sài Gòn-Chợ Lớn là 159.725 người
Năm 1900, cả Sài Gòn và Chợ Lớn có 161.900 người, trong
đó Sài Gòn là 56.500 người và Chợ Lớn là 135 400 người
Năm 1908, Sài Gòn có 57.739 người, Chợ Lớn có 178.993
người, tổng cộng cả Sài Gòn-Chợ Lớn là 236 732 người
Năm 1931, dân số cộng chung vào khoảng 256.000 người
Năm 1936, dân số là 314.000 người
Năm 1943, cả Sài Gòn và Chợ Lớn là 498.143 người, trong
đó 182.000 người Việt, 18.935 Pháp, 291.957 Hoa, 4.000 người
thiểu số và 1.252 người thuộc các dân tộc khác hoặc không khai
báo rõ Như vậy, cộng đồng người Hoa đông hơn người Việt Người Hoa tập trung nhiễu nhất ở Chợ Lớn và chia ra 5 bang: Quảng Đông 56,5%, Triều Châu 34%, Phúc Kiến 6%, Hải Nam
2%, Hẹ 1,5% Họ có ngân hàng, báo chí, bệnh viện, hội quán
'3Xem: Nguyễn Đình Đầu, from Saigon to HoChiMinh City, 300 year history
Science and Technics Publishing House 1998, trang 120-123
VUNG BO THI CHAU A & THANH PHO HO CHI MINH e 187
Trang 22đến miếu riêng của từng bang
1.3 Giai đoạn từ 1945 đến 1954
Từ 1945 đến 1954 là thời ký kháng chiến chống Pháp, do lý
do chiến tranh cho nên hầu như diện tích đô thị không tăng thêm, một số công thự bị xuống cấp, các công trình công cộng không
có gì mới Trên địa bàn thành phố còn nhiều khu đất trống, xen
kẽ là ruộng lúa vườn rau, ao hé kiểu “bán nông, bán thị”, còn
dân cư tập trung chủ yếu tại trung tâm Sài Gòn (Quận I ngày
nay) và tại trung tâm Chợ Lớn (một phần Quận 5), mật độ dân số
tương đối cao và sống chen chúc Vì lý do chiến tranh, người lục tỉnh đổ về thành phố đông, sinh sống chen chúc Dân chúng phá
vỡ quy hoạch chung, lấn chiếm cả sông rạch làm nơi cư trú Trong thời gian này thành phố xuống cấp trầm trọng Dân số gia tăng
đột ngột, nhà cửa tạm bợ, lễu trại mọc lên khắp nơi, nhất là dọc
theo các kênh rạch làm phá vỡ cảnh quan Vào thời kỳ này các công trình kiến trúc lớn hầu như không được xây dựng, tuy nhiên còn một loại công trình khác khá đổ sộ và ít thay đổi theo thời
gian là những kiến trúc liên quan đến tôn giáo của các cộng
đồng đang có mặt ở Sài Gòn vào thời kỳ đó Người Pháp có nhà thờ Đức Bà, nhà thờ Tin Lành (đường Lê Duẩn), hội trường Tam Điểm (tòa Báo Công An, đường Nguyễn Du) Ấn kiểu Hồi giáo
có thánh đường Hồi (đường Đông Du), Ấn kiểu Bà La Môn có
chùa Bà Đen (Trương Định) Người Hoa có Chùa Tàu gần chợ
Cầu Ông Lãnh Còn các công trình đân dụng của người Việt vẫn
mang kiểu truyền thống từ xưa, nhà nhỏ thì một gian hai chái,
nhà to thì ba gian hai chái với cột kèo, tường vách chạm trổ ít nhiều mỹ thuật Một số nhà khá giả thì xây tường, lợp ngói, lát nên bằng gach song vẫn giữ cách trang trí trong nhà theo lối người Việt, có bàn thờ tổ tiên đặt nơi trang trọng, nơi tiếp khách đàng hoàng và buồng kín đáo dành cho phụ nữ Người Hoa vẫn
giữ được nét kiến trúc riêng của mình dù là ở hãng buôn, nhà ở
hay đến miếu Nhìn vào trang trí ngoại thất, nội thất, những người
am hiểu vẫn có thể biết được các cộng đồng người Quảng Đông,
188 © VUNG DO THI CHAU A & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 23Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Hẹ
Trước 1945, các khu phố chuyên doanh ở khu vực Sài Gòn
không có nhiều: khu phố giày da ở Lê Thánh Tôn, khu phố dệt vải ở Lý Tự Trọng, khu phố làm bàn ghế giường tủ ở Nguyễn Thị
Minh Khai Những khu phố này có nhiều đồng nghiệp và họ
thường cũng là đồng hương Như nghề mộc hầu hết là người làng
Vụ Bản -Nam Định, làng dệt Bảy Hiển là của người Quảng Ngãi Còn các phố chuyên doanh ở Chợ Lớn phát triển cũng rất mạnh
như phố thuốc bắc (Hải Thượng Lãn Ông, tên cũ là Khổng Tử), phố Trang Tử bán đổ hàng mã, phố Trần Chánh Chiếu bán gạo
Về dân số, năm 1948: 1.179.000 người (chưa tìm được lý do
giải thích cho sự tăng nhanh chóng này); năm 1949: 1.400.000 người; 1950: 1.500.000 người; 1951: 1.601.690 người; 1952:
1.600.970 người; 1953:1.614.200 người; 1954:1.723.360 người
Như vậy, từ 1945 đến 1954, dân số Sài Gòn- Chợ Lớn tăng
lên hơn 3 lần, cụ thể thống kê cơ cấu thành phần dân cư thành phố năm 1954 là:
TỘC NGƯỜI SỐ LƯỢNG / người
Cơ cấu dân cư thành phố năm 1954!
Sài Gòn được coi là nơi tiếp nhận kiểu đô thị hoá trên cơ sở của công nghiệp từ phương Tây sớm nhất Cho đến năm 1906 có
Nguyễn Đình Đầu, From Saigon to HoChiMinh City, 300 year history Sci- ence and Technics Publishing House 1998, trang 136-138
VUNG BO THI CHAU A & THANH PHO HO CHi MINH e 189
Trang 24Khoang ZUU nha mây, công ty cúa người Pháp được xây dựng ở Việt Nam, nhưng với qui mô rất nhỏ bé, kỹ thuật lạc hậu Đội
ngũ công nhân Việt Nam không đáng kể, chỉ mới có khoảng 55.000
công nhân công nghiệp, trong đó công nhân xi măng là 1.500,
công nhân đệt là 1.800, công nhân rượu là 1.900, công nhân mỏ 15.000, đến 1914 tăng lên chừng 100.000 người Riêng ở miễn Nam, vào năm 1914 ở Sài Gòn- Chợ Lớn có khoảng 10.000 công nhân (chiếm 4% dân số /228.471 người), đến năm 1929 số lượng công nhân tăng lên khoảng 20.000 người (bằng 7% trong tổng số 317.000 dân) Những ngành công nghiệp xuất hiện sớm nhất ở Sài
Gòn là xay xát lúa gạo (1870), rượu bia, thuốc lá, đệt may, đường
1.4 Giai đoạn từ 1955 đến 1975
1.4.1 Về phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Theo Hiệp định Genève 1954, Việt Nam tạm thời bị chia ra
làm hai miền Được sự giúp sức của Mỹ, Ngô Đình Diệm lập ra nước “Việt Nam Cộng Hoà” lấy Sài Gòn làm thủ đô với tên gọi
là Đô Thành Sài Gòn
Trong thời gian từ 1955-1963, chính quyển Ngô Đình Diệm
tiến hành qui hoạch và chỉnh trang thành phố Nhà ổ chuột, nhà
sàn và lễu xá mọc ngổn ngang khắp kinh rạch được giải toả một
phần (khúc rạch Tàu Hủ trước mặt Thị trường Chứng khoán ngày nay) Khu công nghiệp Biên Hòa hình thành năm 1963 với diện tích S11 ha đã tập trung được 94 nhà máy, công xưởng gây ô nhiễm
từ nội thành chuyển ra Để khu công nghiệp Biên Hoà phát triển,
xa lộ đầu tiên nối Sài Gòn với Biên Hoà được xây dựng (khởi công
1957 đến năm 1962 thì hoàn thành) Khu vực phía Đông Bắc Sài Gòn được chú ý phát triển Thủ Đức trở thành khu vực đô thị mới,
các ý đổ qui hoạch được hiện thực hóa từng bước như làng đại học
(nhiều trường đại học hoặc phân khoa đại học được xây dựng Ở
đây), làng báo chí Trong nội thành, các khu nhà lá được thay thế bằng cư xá bình dân tường gạch mái fibro-ciment
Từ năm 1963 đến 1975, nhằm thực hiện mưu đồ “Việt Nam hoá chiến tranh”, Hoa Kỳ đã đổ khá nhiều tiển của vào Miễn
190 © VUNG DO THI CHAU A & THANH PHO HO CHi MINH
Trang 25Nam Việt Nam Tổng viện trợ quân sự trực tiếp và viện trợ kinh
tế cho chính quyển Miễn Nam là 23,6 tỷ đô la, trong đó 16 tỷ đô
Ja là viện trợ quân sự trực tiếp và 7,6 tỷ đô la viện trợ kinh tế
Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cũng dành ra một
khoản ngân sách lớn cho việc nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thành phố Sài Gòn như đường sá, cầu cống,
các khách sạn, công sở “Một số nhà nghiên cứu của Ngân hàng
Phát triển châu Á đã tính toán rằng Mỹ đã đâu tư khoảng 36 tỷ
đồng Miễn Nam vào việc xây dựng hệ thống giao thông, liên lạc, điện năng ở Miễn Nam"' Số tiền viện trợ của Mỹ cho chính
quyền Việt Nam Cộng Hòa rất lớn, nhưng chủ yếu tập trung cho
mục đích quân sự (mua sắm vũ khí, quân trang quân dụng, xây dựng sân bay, bến cảng, căn cứ quân sự), phân dành cho phát triển thành phố ít hơn “Sài Gòn lan rộng và lên cao rất nhanh Nhà cửa đa phần mang tính thực dụng nhằm đáp ứng yêu cầu cấp
thời của căn cứ hậu cần lớn cho cuộc chiến tranh can thiệp của
Mỹ” Tuy nhiên cũng cần có một cái nhìn khách quan về sự
phát triển này: “Bên cạnh các mặt tiêu cực, hỗn loạn đó, bù lại
sài Gòn đã được trang bị các cơ sở của đô thị hiện đại; xa lộ, câu đường, sân bay, bến cẳng đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhà cao tẳng,
tiện nghỉ nội thất, hệ thống điện nước, cống rãnh mới”, “Để phục vụ cho chiến lược toàn cầu, đế quốc Mỹ đã đổ vào Miễn Nam một khối lượng của cải vật chất, tiền bạc khổng lô Chỉ
trong một thời gian ngắn đã hình thành nên một mạng lưới đô thị hiện đại nhất Đông Nam Á Đông thời các đô thị Miễn Nam trong thời kỳ này chịu một sự quá tải vê dân số từ nông thôn đổ về lánh nạn chiến tranh, điển hình như Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang,
'* Võ Văn Sen Sự phát triển của chủ nghĩa tư ban ở miền nam Việt Nam NXB TP Hồ Chí Minh 1996 Trang 53-54
'® Hội đồng khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh Địa chí văn hóa thành phố Hồ
Chí Minh Tập III: Nghệ Thuật NXB TP, Hồ Chí Minh 1998, Trang 471; 481
!'Hội đồng khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh Địa chí văn hóa thành phố Hồ
Chí Minh Tập HI: Nghệ Thuật NXB TP Hồ Chí Minh 1998, Trang 481
VÙNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH e 191
Trang 26Cần Thơ”!3 Hoặc “Sài Gòn nhờ tiền bạc, kỹ thuật Mỹ mà nhanh
chóng trở nên hiện đại, được sắp vào hàng các thành phố phát triển nhanh và trang bị hiện đại ở châu Á, thời trước 1975”!
Một số cơ sở hạ tầng kỹ thuật nỗi bật trong giai đoại này như:
Cảng Sài Gòn, hiện đại hóa sân bay Tân Sơn Nhất (1962), Cầu Sài
Gon (1956-1961), nha máy nước Thủ Đức, v.v Trong thời gian này, nhiễu kiến trúc sư Việt Nam đã góp phần cải tạo và xây dựng mới một số công thự và nhà ở tư nhân theo phong cách kiến trúc dân tộc cách tân cho hợp với vật liệu xây dựng đương thời và quy
hoạch đô thị hiện đại Tiêu biểu hơn cả là đỉnh Thống Nhất, Thư
viện Khoa học tổng hợp, bệnh viện Vì Dân, Đại học Y Được, Cư
xá Thanh Đa, làng Đại học Thủ Đức
1.4.2 Về kỹ thuật-công nghệ
Liên quan đến tiến trình phát triển đô thị, một khía cạnh
khác cần được để cập đến trong nghiên cứu là trình độ công
nghiệp hóa được tiến hành ở thành phố này Trước năm 1975
thành phố Sài Gòn có khoảng 38.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, trong số đó có 706 công ty, 8.548 cơ sở công nghiệp
tư nhân, bao gồm nhiều ngành công nghiệp nhẹ như dệt, cơ khí
tiêu dùng, lương thực, thực phẩm, hóa chất, nhựa, thủy tỉnh, gỗ, giấy Khu công nghiệp Sài gòn-Biên Hòa tập trung hơn 80% năng lực sản xuất công nghiệp của toàn Miền Nam Có cả một khu may mặc chế xuất ở Tân Thuận, các xí nghiệp lắp ráp điện tử Sanyo, National, Sony với dây chuyển lắp ráp vào loại hiện đại
ở Đông Nam Á Nhà máy xi măng Hà Tiên thuộc loại lớn nhất Miễn Nam lúc đó Các nhà máy chế tạo sắt thép như Vicasa, lắp
ráp máy móc nông nghiệp như Vinapro, Vikimco Kết cấu hạ
tầng cơ sở kỹ thuật, năng lượng, hệ thống giao thông đường bộ, hàng không cũng như trình độ khoa học công nghệ tuy còn kém
'®Nguyễn Minh Hòa Xã hội học-những vấn đề cơ bản NXB Giáo Dục, 1997
Trang 107
19 Dia chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Hữu Thái, Tập Ill: Nghệ
Thuật NXB TP H3 Chí Minh 1998, Trang 516
192 e VÙNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 27Han-Quéc, Đài Loan nhưng cũng thuộc loại khá hiện đại và có
phần nhỉnh hơn một số thành phố trong khu vực như Bangkok, Rangun, Kuala Lumpur ? Khu vực thương mại, dịch vụ ở Sài
Gòn đã chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu kinh tế: năm 1966 chiếm
25,4% lực lượng lao động; năm 1969 là 28%; năm 1971 là 29%
va nim 1973-1974 la 27%
1.4.3 Vé qui hoach
Nhìn một cách tổng thể thì thành phố Sài Gòn trước 1975 là
một đô thị lớn với đặc tính là đơn cực, tập trung hóa cao Với
diện tích khoảng 200 km? tập trung hơn 3,5 triệu đân, các hoạt
động quyền lực chủ yếu như chính trị, hành chính, ngoại giao; các hoạt động kinh tế như ngân hàng, các công ty kinh doanh, trung tâm thương mại; các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế như trường đại học, bệnh viện, rạp hát, đều tập trung cao ở quận Í,
3 và một phần quận 5 Đây chính là điển hình của kiểu phát triển
đô thị “to đầu”, trong khi Sài Gòn là một thành phố lớn thì các thành phố xung quanh rất nhỏ bé trước năm 1975 như TP Cần Thơ (khoảng 150.000 dân), TP Biên Hoà (hơn 150.000 dân), Đà Lạt (hơn 100.000), Vũng Tàu (dưới 100.000)
Trước năm 1975, có khá nhiều các nhà qui hoạch, các kiến
trúc sư đã phát hiện ra điều bất hợp lý này và để xướng ra mô hình
phát triển “đa cực, phi tập trung hóa”, trong đó có một số ý tưởng rất tốt và hiện đại như mở rộng thành phố Sài Gòn về hướng Bắc, Đông Bắc để từ đó hình thành nên các đô thị vệ tỉnh, đô thị đối
trọng hoặc các chùm đô thị, thậm chí cả việc hình thành nên một Sài Gòn mới ở Nhơn Trạch và mở rộng trung tâm sang Thủ Thiêm, nhưng dường như tất cả đều nằm trên giấy Còn Sài Gòn rốt cục
chỉ là một thành phố lớn đơn cực (Megacity) Kiểu phát triển không
gian đơn cực này có thể do những lý do sau đây:
e Không thể bành trướng không gian ra được vì chiến
?9 Thành phố Hồ Chí Minh hai mươi năm NXB Thành phố Hồ Chí Minh
1997, trang 26
VUNG DO THI CHAU A & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH e 193
Trang 28tranh Các vùng ven thành phố là nơi thường diễn ra các trận
chiến đấu ác liệt Các địa bàn Củ Chi, Thủ Đức, Cần Giờ,
Hóc Môn, Long An tổn tại tình trạng da báo giữa lực lượng
của hai phía
e Do thất bại liên tiếp trên chiến trường, từ sau 1970, quân
đội Mỹ, đẳng minh và Việt Nam Cộng Hòa chuyển từ chính sách
“tìm và điệt” quân Giải phóng sang “cố thủ” ở các thành phố, thị
xã, đặc biệt là các thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng Họ
không chủ trương mở rộng các đô thị mà chủ yếu là đầu tư các các công trình trọng điểm phục vụ bộ máy chiến tranh khổng lỗ,
vào thời cao điểm nhất ở miễn Nam có hơn 1,2 triệu lính Sài Gòn
NĂM ĐỊA DANH DIEN TICH (km?)
vào thời điểm thì dường như sự lựa chọn đó phù hợp với bối cảnh
chính trị-kinh tế-xã hội lúc đó, nhưng rất tiếc là nó được duy trì quá lâu, có lẽ đến hơn 40 năm, do vậy mà ảnh hưởng tiêu cực
194e VÙNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỎ CHÍ MINH
Trang 29của nó còn đến tận ngày nay
1.4.4 Về nhà ở
Hiện thời chúng tôi chưa có được nhiều các số liệu về nhà ở
trong giai đoạn những năm trước 1975, bởi vì sau khi thống nhất đất nước, hầu hết tài liệu ở các công sở bị thất tán Chúng tôi chỉ
có được bản thống kê nhà ở của thành phố Sài Gòn vào năm
1969 nên có thể thấy được đôi nét về nhà ở lúc đó ?!:
vào Nam năm 1955 - 1956, phần lớn trong số đó định cư tại thank
phế Sài Gòn làm dân số thành phố tăng cao, đồng thời làm thay đổi cơ cấu cư dân thành phố, lúc này người Bắc đông hơn các
nhóm dân cư khác Đại thể về địa điểm cư trú người Bắc tư sản hay công nhân viên chức thì cư ngụ rải rác trong các khu vực đô thị hóa cao Người Bắc Phật giáo hay bình dân thì cư ngụ trong các khu vực có chùa chiển hay các xóm lao động Người Bắc Công giáo thi hội nhập vào các xóm đạo Chợ Quán, Xóm Chiếu, Chợ Đũi, Cầu
?!Trung tâm nghiên cứu phát triển đô thị và cộng đồng Kỷ yếu hội thảo Quí hoạch không gian TP Hồ Chí Minh:Thực trạng và định hướng 10-2003
VUNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH e 195
Trang 30Kho, Xóm Chùa Tân Định và các họ đạo lân cận như Phú Nhuận,
Bà Chiểu, Gò Vấp, Xóm Mới, Phú Thọ, Tân Bình v.v
Từ năm 1958 đến 1966, chiến tranh chưa xảy ra dữ dội ở nông thôn Miền Nam, cuộc sống tạm bình ổn cho nên người dân Sài Gòn di chuyển về quê sinh sống, nên dân số biến động theo
chiều giảm dần từ 1.900.000 người vào năm 1955 giảm liên tục đến năm 1969 thì bắt đầu tăng trở lại, có những lúc giảm xuống
còn 1.219.500 người (năm 1958)
Thống kê dân số thành phố qua một số mốc thời gian
NAM | SO DAN NAM |SO DAN NAM | SO DAN
1955 | 1.900.800 ngudi 1962 |1.431.000 ngudi| 1969 | 1.706.869 ngudi
1956 | 1.794.356 người |1964 |1.370.558 người | 1970 | 1.761.000 người
1957 | 1.774.356 người |1965 |1.485.295 người | 1971 | 1.804.880 người
1958 | 1.219.500 người |1966 |1.518.051 người | 1972 | 1.845.000 người
1959 | 1.383.200 người |1967 |1.639.781 người | 1973 | 2.090.000 người
1960 | 1.400.000 người |1968 |1.681.893 người
giải phóng tấn công quân đội Mỹ, chư hầu (Hàn Quốc, Úc, Thái
Lan) và quân đội Việt Nam Cộng Hòa theo những điểm nhất
định, có tính toán kỹ càng để không gây thiệt hại cho nhân dân
Chính vì lý do này mà dân chúng các tỉnh đổ về thành phố ngày một đông khiến cho thành phố rơi vào tình trạng quá tải Có lúc dân số của Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định lên đến hơn 3.000.000 người PGS.TS Trịnh Duy Luân còn chỉ ra một nguyên nhân nữa
là:”do hoạt động chiến tranh, chính sách khủng bố và đàn áp, và đặc biệt là chiến tranh bình định nông thôn, “tát nước bắt cá”
của Mỹ và chính quyên Sài Gòn, khiến hàng triệu nông dân Miễn
196 e VÙNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỖ CHÍ MINH
Trang 31Nam buộc phải rời bỏ làng quê, trở thành người tị nạn và kéo vào
các thành phố Do kết quả của quá trình đô thị hóa cưỡng bức
này mà dân số đô thị Miễn Nam Việt Nam từ 15% năm 1960 đã
tăng lên tới 60% vào đầu những năm 70 Dân số Sài Gòn từ 300
ngàn đã tăng lên tới 3 triệu (gấp 10 lần)”?,
(Ghi chú: Thống kê này chỉ gồm có Sài Gòn và Chợ Lớn mà không có Gia
Định)
Vào năm 1959, Bộ nội vụ của chính quyển Việt Nam Cộng Hòa đã ấn định số quận và số phường của thành phố Sài Gòn theo nghị định số 504-BNV/HC/NĐ như sau: thành phố Sài Gòn gồm có 8 quận là: Quận 1 (4 phường: Bến Nghé; Hoà Bình; Tự Đức; Trần Quang Khải); Quận 2 (4 phường: Câu Ông Lãnh; Chợ
Bến Thành; Cầu Kho; Nhà thờ Huyện S?); Quận 3 (5 phường:
Đài Chiến sĩ, Bàn Cờ, Chí Hoà, Trương Minh Giảng, Yên Đổ); Quận 4 (4 phường: Xóm Chiếu, Lý Nhơn, Vĩnh Hội, Bến Xà Lan); Quận 5 (6 phường: Trung Ương, Chợ Quán, An Đông, Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương, Phú Thọ); Quận 6 (7 phường: Bình
Tây, Chợ, Bình Tiên, Phú Lâm, Cầu Tre, Bình Thới, Phú Thọ
Hòa); Quận 7 (6 phường: Cây Sung, Bình Đông, Rạch Cát, Phú — Định, Bến Đá, Hàng Thái); Quận 8 (5 phường: Xóm Củi, Hưng
Phú, Bình An, Chánh Hưng, Rạch Ông)
Cho đến năm 1955 thành phố Sài Gòn chia làm 7 quận, 1959 dân số (không tính Gia Định) là 1.215.000 người cư trú trên một
điện tích là 51 km?, được phân chia làm 8 quận như sau:
Quận nhất: 25.000 người; Quận nhì: 150.000 người; Quận
ba: 240.000 người; Quận tư: 120.000 người; Quận năm: 363.000
người; Quận sáu: 150.000 người; Quận bảy: 26.000 người; Quận tám: 81.000 người
Đến năm 1967 thành lập thêm quận 9 (Thủ Thiêm), đến năm
?2Trịnh Duy Luân Tìm hiểu môn Xã hội học đô thị NXB Khoa Học Xã Hội,
Trang 321969 thành lập thêm hai quận mới là 10, 11 đưa số đơn vị hành chính của Sài Gòn lên 11 và giữ nguyên đến năm 1975 Như vậy
từ 1945 đến 1954, dân số Sài Gòn- Chợ Lớn tăng lên hơn 3 lần
Bang thống kê dưới đây cho thấy dân số thành phố trải qua các thời kỳ cho đến năm 19/5 là:
Tiến trình tăng trưởng qui mô dân số của TP.Sài gòn từ
4931 | Sài Gòn (từ đây gọi chung là Sài Gòn |
sau khi Chợ Lớn chính thức được sát nhập) | 256.000
Trang 33
(Tổng hạp từ thống kê của ông Nguyễn Đình Đầu,Cục thống kề
và Viện qui hoạch xây dựng TP.HCM)
Tiến trình tăng trưởng dân số của TP.Sài Gòn (ứnh cả
Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định từ 1964 đến năm 1975)
Trang 34
BAN DO SAI SON TRUGC NAM 1975
2.1 Tiến trình mở rộng không gian đô thị
Ngày 2-7- 1976, Quốc hội khóa 6 nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam đã chính thức thông qua việc đổi tên thành phố Sài Gòn thành “Thành phố Hồ Chí Minh” Từ 1975 đến nay, VIỆC
mở rộng không gian của Thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua
200a VUNG DO THI CHAU A & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 35những giai đoạn phát triển khác nhau Chúng ta tạm chia ra làm
ba giai đoạn:
Giai đoạn 1975- 1986
Năm 1976, Sài Gòn được mở rộng ranh giới hành chính bằng cách sáp nhập với toàn bộ tỉnh Gia Định, một phần tỉnh Hậu Nghĩa (quận Củ Chi), một phần tỉnh Bình Dương (quận Phú Hoà) _ để trở thành Thành phố Hê Chí Minh rộng khoảng 2.029 km?, về sau diện tích tăng lên thành 2.095 km? khi nhập thêm xã Hiệp Phước thuộc huyện Cần Giuộc tỉnh Long An vào huyện Nhà Bè,
và huyện Duyên Hải thuộc tỉnh Đồng Nai vào TP.HCM (tháng 12-1978) Hệ thống hành chính lúc này bao gồm 12 quận:
1,3,4,5,6,8,10,11, Phú Nhuận, Gò Vấp, Tân Bình, Bình Thạnh và
một số huyện như Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè với dân số
khoảng 3.700.000 dân (có tài liệu cho là 3.900.000 dan)
Đây là giai đoạn khó khăn nhất của thành phố Thành phố phải chịu một loạt các nhân tố bất lợi tác động như hậu quả nặng
nể của cuộc chiến tranh chống Mỹ hơn 30 năm để lại, chiến
tranh biên giới Tây Nam (1978), bị bao vây cấm vận, lực lượng
thù địch bên trong và bên ngoài điên cuỗng chống phá, thiên tai liên miên, cơ chế kinh tế bao cấp không còn phù hợp nhưng được duy trì quá lâu, thêm vào nữa là những sai lầm do chính chúng ta gây ra, do chỗ chúng ta chưa có kinh nghiệm trong việc phát triển và quản lý một thành phố lớn Là vùng lúa gạo, thế
mà mỗi năm thành phố thiếu 800.000 tấn gạo phải đi xin viện trợ lương thực từ Liên Xô Chính vì những khó khăn này mà trong khoảng 10 năm thành phố dường như không phát triển, không những không xây dựng được mới các cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà chúng còn bị xuống cấp trâm trọng Các đường sá, cầu cống, nhà
ở, hè phố, công trình công cộng bị hư hại không được bảo dưỡng,
cơ sở hạ (tầng xã hội như trường học, bệnh viện cũng trong tình
trạng tương tự Điện năng, chất đốt, xi măng, nuớc sạch, xăng
dầu đều thiếu thốn Cả nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế-
xã hội ngày càng nghiêm trọng Về việc phát triển đô thị trong
VUNG DO THI CHAU A & THANH PHO HO CHI MINH e 201
Trang 36giai đoạn này có nhà nghiên cứu đã mô tả: “diện mạo thành phố
từ kiến trúc đến qui hoạch tự phát về hướng xấu rất trầm trọng Các lề đường bị cày lên để trông khoai lang, nhiều vilu thành chuông heo, nhiều đường ngang ngõ tắt bị xây dựng kín mút, nhiễu
trường học bị đục tường khoét vách để làm mau dich, cdc nha
mặt đường cơi nới thêm ra ngoài cột điện và rặng cây xanh cổ
thụ của thành phố, các vườn công viên bị hàng quán lấn chiếm
teo lại như miếng da lừa, nhiều khu ổ chuột mọc lên với qui mô
lớn" * Tuy nhiên cũng phải ghi nhận trong giai đoạn này chính quyền cũng đã cố gắng xây dựng một vài công trình mới như nhà hát Hoà Bình (quận 10), nhà thi đấu thể thao Phan Đình Phùng
(Quận 3), một vài khu vui chơi giải trí như Đầm Sen, Kỳ Hòa
Có thể nói giai đoạn 1975-1986 là thời kỳ mà các nhà nghiên
cứu gọi lš “phát triển kinh tế đô thị âm”, biểu hiện của nó là sự
sút g:ầm dân số và cơ sở ha tang kỹ thuật bị hư hỏng, chất lượng sống thấp Đô thị hóa trong giai đoạn này chủ yếu là mở rộng không gian hành chính bằng cách sát nhập các quận, huyện lân cận vào làm cho thành phố lớn hơn, nhưng không có sự thay đổi
đáng kể nào về chất lượng
Giai đoạn 19686- 1997
Bắt đầu từ năm 1986, Việt Nam chuyển sang một giai đoạn
mới Đó là thời kỳ “đổi mới” với một loạt các biểu hiện như:
e Chuyển từ nên kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường tự do Điểm quan trọng nhất trong chính sách này là sự thừa nhận các thành phần kinh tế khác nhau cùng phát triển và
cạnh tranh bình đẳng, trong đó có thành phần kinh tế tư nhân
e Thực hiện chính sách “mở cửa” hội nhập với thế giới bên
ngoài trên tính thân “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các
nước” kể cả những nước có thể chế chính trị khác nhau
e Thực hiện việc giao đất và khoán sản phẩm trong nông
2 Trung tâm nghiên cứu phát triển đô thị và cộng đồng Qui hoạch không
gian TP Hồ Chí minh:Thực trạng và định hướng 10-2003, trang 13
202 e VÙNG BÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỖ CHÍ MINH
Trang 37nghiệp cho người nông dân
e Tiến hành cải cách hệ thống hành chính và từng bước đổi
mới hệ thống chính trị
Ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh,
đô thị hóa được tiến hành với nhịp độ tăng dẫn, và qui mô được
mở ra lớn hơn Từ sau năm 1990, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện tiến trình đô thị hóa theo kiểu công nghiệp với tốc độ cao chưa từng thấy trong lịch sử phát triển của chính thành phố này với mục tiêu “trở thành thành phố công nghiệp vào năm 2020” với các tiêu chí: văn minh-hiện đại-đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Chính công nghiệp hóa đã làm cho thành phố này trở thành trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước và là đầu tâu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Từ năm 1986 đến nay, thành phố đã có được những thành tựu trên các lĩnh vực: chính trị-kinh tế-văn hóa và xã hội
Trong phần này chúng tôi chỉ làm rõ hơn những bước chuyển quan trọng của thành phố về phát triển không gian Những biến
chuyển này được thể hiện:
Đối với khu vực trung tâm (Sài Gòn cũ):
Thành phố tiến hành nâng cấp, chỉnh trang lại khu vực trung tâm Xóa bỏ hoàn toàn các khu nhà ổ chuột nằm rải rác ở khu
vực hạt nhân trung tâm, đặc biệt là tập trung xóa bỏ các khu ổ chuột có qui mô lớn như khu vực kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè
Nâng cấp đường sá, chỉnh trang lại mặt tiền khu vực hạt nhân
(Đồng Khởi, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Hàm Nghĩ), dãn bớt dân SỐ ra
các vùng ven, trồng thêm cây xanh, đèn đường, tiến hành trang
trí tại các điểm nhấn Bước đầu sử dụng các thiết bị kỹ thuật hiện đại cố gắng làm thay đổi diện mạo phố phường như sử dụng hệ thống chiếu sáng nghệ thuật, các bảng quảng cáo điện tử Trong thời gian 10 năm này một loạt các công trình hiện đại mọc lên
làm thay đổi điện mạo của thành phố Khu vực trung tam quan 1
đã xuất hiện 23 cao ốc hiện đại mang phong cách kiến trúc mới:
VUNG DO THI CHAU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH e 203
Trang 38Sai Gon Plaza,
Sai Gon Tower
Diamond Plaza
The Metropolitan
Caravelle Hotel
Sheraton Hotel
SunWah Tower Hotel
Harbour View Tower
Sai Gon Centre
10.Sai Gon Sky Garden
11.Norfolk Mansion
12.Melinh Poin Tower
13.Renaissance River Side Hotel
14.Legend Hotel Saigon
15.Saigon Trade Center
16.New World Hotel
Theo kế hoạch đã phê chuẩn thì từ nay đến 2010 sẽ có hơn
25 công trình cao tầng mới nữa sẽ mọc lên tại khu vực trung tâm Điều này sẽ tạo ra một diện mạo mới cho khu trung tâm Cho
đến nay, tuy còn có nhiều điều phần nàn như ngập nước, tệ nạn
xã hội, cảnh quan bị xáo trộn, đường sá nhỏ hẹp, nhưng rõ rằng
các nhà qui hoạch, kiến trúc và người dân đã tạo ra khu vực hạt nhân thành phố một bộ mặt khang trang, đẹp đẽ hơn
204e VÙNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 39Ở khu vực vành đai bên ngoài:
Ngày 6-1-1997 Thủ tướng chính phủ đã ký nghị định số 03/
CP về việc thành lập thêm 5 quận mới là: Quận 2, 7, 9, 12, Thủ Đức nâng tổng số quận nội thành lên thành 17 và 5 huyện và như
thế đến thời điểm này thành phố có 24 đơn vị hành chính cấp
quận, huyện với tổng số 279 phường, xã, thị trấn Tuy nhiên quyết định này không làm gia tăng diện tích thành phố mà chủ yếu là sip xếp lại để cho cân đối hơn về qui mô không gian, dân số giữa các quận, huyện phục vụ cho công tác quản lý tốt hơn
Sau khi thành phố mở rộng bán kính lần thứ nhất sau đổi mới
ˆ (1986) từ 20 km lên đến 50 km tính từ trung tâm thành phố đến điểm mút của hai huyện Củ Chỉ (xã Phú Mỹ Hưng) và Cần Giờ
(xã Long Hoà), những địa bàn không thuộc quản lý hành chính của Thành phố Hồ Chí Minh nhưng nằm trong bán kính này đều thuộc khu vực ảnh hưởng của Thành phố Hồ Chí Minh như Long
An, Bình Dương, và Đồng Nai
Ngày 5-11- 2003 chính phủ ban hành nghị định số 130/2003/
ND-CP quyết định lập thêm hai quận mới là Bình Tân và Tân Phú trên cơ sở điều chỉnh ranh giới và dân số của hai đơn vị là Huyện Bình Chánh và quận Tân Bình nâng số đơn vị hành chính lên 24 quận huyện (trong đó 13 quận nội thành cũ, 6 quận mới và
5 huyện), nhưng chỉ là điều chỉnh ranh giới cho hợp lý cho nên
tổng diện tích mặt bằng không tăng thêm nữa Tiến trình nầy
làm cho các quận nội thành mở rộng dẫn ra sát với các tỉnh phía
ngoài rìa, còn vùng ráp ranh bị thu hẹp lại
Thành phố Hồ Chí Minh đẩy mạnh công nghiệp hóa, nhằm biến thành phố trở thành trung tâm công nghiệp lớn nhất của cả
nước Cũng theo một lộ trình đã điễn ra ở Hàn Quốc, Đài Loan,
Thái Lan, Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu tiến trình công nghiệp hóa từ các khu chế xuất và khu công nghiệp tập trung Khu chế xuất Tân Thuận ra đời đầu tiên ở quận 7 vào ngày 24-9-1991 với
điện tích 300 ha Chẳng bao lâu sau, diện tích mặt bằng của khu
chế xuất này đã được các nhà đầu tư nước ngoài phủ kín Từ
VÙNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH e 205
Trang 40thành công của khu chế xuất Tân Thuận, thành phố tiếp tục cho
ra đời các khu chế xuất và các khu công nghiệp tập trung khác,
nở rộ nhất là vào hai năm 1996, 1997 Cho đến nay toàn thành
phố có 18 khu chế xuất và khu công nghiệp tập trung với 2.068
ha (tính cho đến tháng 8-2004), và diện tích này sẽ được mở rộng
ra đến 6.955 ha vào năm 2020
Mặc dù có những điều chưa hoàn thiện trong chiến lược mở
rộng đô thị, nhưng cũng cần ghi nhận là thành phố đã có những
cố gắng phát triển theo hướng Đông Bắc, gắn với Thuận An, Dĩ
An (Bình Dương), Biên Hòa (Đồng Nai) bằng một loạt các công
trình như mở rộng xa lộ Hà Nội, xây dựng đường vành đai thứ hai
sau xa lộ Đại Hàn, và một chuỗi các nhà máy, công sở, công
trình dịch vụ kéo từ cầu Sài Gòn đến Thuận An Thành phố cũng phát triển về phía Nam, Đông Nam tiến ra biển, gắn với khu vực
Nhà Bè, Bình Chánh, Hiệp Phước, Cần Giờ, đô thị mới Nhơn
Trạch-Long Thành Một hướng khác nữa về phía Bắc, Tây Bắc gắn với Củ Chỉ, Hóc Môn, dọc quốc lộ 22 và trục Xuyên Á nối với Tây Ninh, Campuchia Một khu đô thị- công nghiệp mới đang xuất hiện ở Tây Bắc thành phố, các khu đô thị Nam Sài Gòn, khu công nghiệp phần mềm Quang Trung cũng là những cố gắng
đáng ghi nhận của thành phố trong việc tiếp cận với công nghệ tiên tiến của thế giới
rút vốn, hoặc hủy bỏ các hợp đông đã ký kết hoặc đang thực hiện
dé dang, trong số đó có không ít các dự án lớn liên quan đến phát triển như tổ hợp dịch vụ-thương mại ở trung tâm thành phố (địa điểm công viên 23-9 hiện nay), trung tâm thể thao Thanh Đa, và
206 e VÙNG ĐÔ THỊ CHÂU Á & THÀNH PHỐ HỖ CHÍ MINH