1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người: Phần 2 - TS. Phạm Ngọc Anh

101 6 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người: Phần 2 - TS. Phạm Ngọc Anh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết Học & Chính Trị
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 3,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp nội dung phần 1, Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người: Phần 2 cung cấp cho người học những kiến thức như: Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

CHƯƠNG III VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG CÔNG CUỘC

ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

I- QUYỀN CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA

1 Khái quát về việc bảo đảm quyền con người ở nước ta từ khi giành được độc lập đến trước đổi mới Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã mang lại cho toàn thể dân tộc Việt Nam một quyền con người đầu tiên, quan trọng nhất - mà hai mươi năm sau đó đã được hai Công ước quốc tế cơ bản về nhân quyển thừa nhận - đó là quyển

là công dân của một đất nước tự do và độc lập) Đồng thời với việc đó, cuộc cách mạng này đã mở ra một thời kỳ mới,

1 Xem Điều 1 của hai Công ước quốc tế về các quyền dân sự,

chính trị và về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá năm 1966 trong Các uăn hiện quốc tế uê quyên con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1998, tr.176, 204 Hai điều này đề cập đến quyền tự quyết của các dân tộc

170

Trang 2

tạo tiền để để bảo đấm và không ngừng bổ sung, phát _ triển các quyền và ty do khác của nhân dân Việt Nam

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới được thông qua ngay sau khi đất nước giành được độc lập (năm

1946), đã thể hiện sự quan tâm lớn lao và đặc biệt đến việc bảo đảm các quyền và tự do của công dân Trong lúc ở rất nhiều nơi trên thế giới, căn cứ vào cái gọi là "điều kiện

về tài sản", "tính ưu việt về chủng tộc", người ta vẫn tước

bỏ các quyển bầu cử, ứng cử của một phần lớn người dân; căn cứ vào cái gọi là "đặc thù giới tính", người ta vẫn loại trừ phụ nữ khỏi những cơ hội tiếp cận với các quyền công dân cơ bản thì ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngay

tại thời kỳ đó, Hiến pháp đã khẳng định mợi quyển lực nhà nước thuộc về tất cả nhân dân Mọi người, không phân biệt nời giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp và tôn

giáo đều bình đẳng về tư cách trước pháp luật, bình đẳng trước tòa án, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trên tất

cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa Bản Hiến pháp cũng quy định cụ thể các quyền và tự do cơ bản mà tất cả mợi người dân Việt Nam đều được hưởng, đó là các quyền bầu cử, ứng cử; quyền bãi miễn các đại biểu dân cử; quyền phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia; quyền tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài; quyền bất khả xâm phạm về thân thể và đời tư; quyển sở hữu tài sản Hiến pháp năm 1946 cũng đặc biệt để cập đến các quyển của

những nhóm xã hội dễ bị tổn thương như các dân tộc thiếu

số, phụ nữ, trẻ em, người già cả, tàn tật, người nghẻo,

171

Trang 3

người lao động Không chỉ vậy, vượt qua khuôn khổ của các quyền công dân, Hiến pháp năm 1946 còn để cập đến quyền được cư trú, tị nạn của các chiến sĩ ngoại quốc đấu tranh cho dân chủ và tự do'- một trong những quyền con người cơ bản được thừa nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế về nhân quyền sau này

Xét trên bình diện lịch sử, bản Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam mới là một tập hợp đầy đủ, toàn diện những quyền, tự do của con người có thể được hưởng, một chế định dân chủ ở trình độ cao và hoàn thiện lúc bấy gid

Nó đã phản ánh những nhận thức và tư tưởng tiên tiến của thời đại về quyền con người mà đến 20 năm sau (năm 1966), mới chính thức được thể hiện trong các điều ước quốc tế về nhân quyền của Liên hợp quốc

Trong hai bản Hiến pháp tiếp theo (1959,1980), chế định quyền và nghĩa vụ của công dân luôn được đặt ở vị trí trang trọng, chỉ sau chế định về chính thể Không chỉ

kế thừa những quy định trong Hiến pháp năm 1846, số lượng các điều trong chế định này cũng ngày càng phat triển, từ 18 điểu trong Hiến pháp năm 1946 đến 21 điều trong Hiến pháp năm 1959 và 29 điều trong Hiến pháp năm 1980 Đi liển với Hiến pháp là một loạt các văn bản pháp luật và pháp quy thể chế hóa những quyền và tự do

đã được Hiến pháp ghi nhận Điều này cho thấy một sự thật là trong tiến trình phát triển của nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam từ khi giành được độc lập đến trước

1 Sđở, Điều 16, tr.11

Trang 4

thời kỳ đổi mới, cho dù chưa có sự thúc đẩy của bất cứ điều ước quốc tế nào về nhân quyền, nhưng các quyền và

tự do của người đân Việt Nam vẫn luôn luôn được pháp điển hóa và mở rộng trong pháp luật

Không chỉ thể chế hóa các quyền của công dân trong pháp luật, từ khi giành được độc lập đến trước thời kỳ đổi mới,:Nhà nước Việt Nam còn luôn cố gắng bảo đảm hiện thực hóa các quyển đó trong thực tế Ngay từ khi đất nước mới giành được độc lập, thay mặt Chính phú, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã phát động một phong trào sâu rộng nhằm

chống lại hai thứ giặc là "giặc đói" và "giặc đốt" và coi hai

thứ giặc đó cũng nguy hiểm như giặc ngoại xâm Điều này thể hiện nhận thức và sự quan tâm sãu sắc tủa nhà nước đến đời sống và các quyền cơ bản của con người Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi/ bên cạnh việc tiếp tục chăm lo đến đời sống vật chất và tỉnh thần, nhà nước bắt đầu thiết lập các quy tắc pháp lý cụ thể nhằm bảo vệ các quyền dân sự, chính trị của nhân dân Chỉ trong ngày 20-5-1957, một loạt Sắc lệnh: quan trọng liên quan đến vấn để này đã được Hồ Chỗ tịch ký ban hanh, bao gồm các Sắc lệnh số 103-SL/L005, về quyền tự

do thân thể, quyền bất khả xâm phạm đổi với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân; Sắc lénh sé 101-SL/L003, vé quyển tự do hội họp; Sắc lệnh sé 102-SL/L004, quy định

về quyền lập hội; Sắc lệnh số 100-SI/L009, về chế độ báo chí Những văn bản pháp luật này sau đó tiếp tục được dụ thể hóa, bổ sung và phát triển và là nguồn để xây đựng các đạo luật quan trọng liên quan đến vấn để này mà hiện

đang có hiệu lực ở nước ta, bao gồm các Bộ luật Dân sự,

178

Trang 5

Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ luật Tố

tụng dân sự

Nhìn toàn cục, trong giai đoạn từ khi giành được ( độc lập đến trước thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ thời điểm kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, kế cả trong lĩnh vực xây dựng pháp luật lẫn tổ chức thực hiện các quyển con người, tiêu điểm quan tâm của Nhà nước Việt Nam là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa So với Hiến pháp năm

1946, hệ thống các quyền này đã có sự phát triển nhanh chóng trong Hiến phấp năm 1959 và đạt đỉnh cao trong Hiến pháp năm 1980 Bên cạnh đó, kể từ khi miền Bắc được giải phóng đến trước những năm 90 của thế kỷ XX, một hệ thống bảo trợ xã hội rộng khắp đã được nhà nước thiết lập, bảo đảm đời sống cho những người nghèo khổ, già cả không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi cũng như cung cấp dịch vụ học tập, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ văn hóa, xã hội khác cho toàn thể nhân dân Mặc đù những quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được ghi nhận trong pháp luật của Việt Nam thời kỳ này, đặc biệt là trong Hiến pháp năm 1980, cũng như các cơ chế thực hiện chúng, phần nào thể hiện cách nhìn duy ý chí, thiếu thực tế Tuy nhiên, hệ thống các quyển kinh tế, xã hội, văn hóa rất toàn điện và ở mức độ cao trong các bản Hiến pháp năm

1959, 1980 và cơ chế thực hiện các quyền đó, mà tiêu biểu

là hên quan đến các quyền được học tập và chăm sóc y tế miễn phí, đã chứng tổ nhận thức, ý chí quyết tâm và những nỗ lực hết sức to lớn của Nhà nước Việt Nam trong việc hiện thực hóa các quyển con người

So với kinh tế, xã hội, văn hóa, sự phát triển của các

Trang 6

quyền dân sự, chính trị trong giai đoạn từ khi giành được độc lập đến trước thời kỳ đổi mới phần nào hạn chế hơn, thậm chí do những yếu tố khách quan, có khía cạnh bị lu

mờ, đặc biệt là với các quyền đân sự Về cơ bản, các quyền ˆ dân sự trong Hiến pháp năm 1946 vẫn được kế thừa và có

sự phát triển nhất định trong các Hiến pháp năm 1959 và năm 1980,.mà tiêu biểu là các quyền khiếu nại, tố cáo và được bồi thường khi là nạn nhân của các boạt động trái pháp luật của các nhân viên nhà nước; quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác Tuy nhiên, từ Hiến pháp năm 1959, quyền sở hữu về tư liệu sản xuất bắt đầu bị hạn chế và bị triệt tiêu hoàn toàn trong Hiến pháp năm 1980 Điều này cũng đồng nghĩa với việc không thừa nhận quyển tự do kinh đoanh trong pháp luật Ngoài ra, một số quyền dân

sự, chính trị khác được đề cập trong Hiến pháp năm 1946

cũng không còn được quy định hoặc quy định với mức đệ

không đầy đủ bằng hai bản Hiến pháp năm 1959 và năm

1980, ví dụ như quyền được tự do xuất bản, quyền được bãi miễn các đại biểu dân cử, quyền được tự do đi lại (ra nước ngoài)

- Việc hướng vào các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa và phần nào coi nhẹ các quyền dân sự, chính trị không chỉ là đặc điểm riêng của Việt Nam trong giai đoạn đó, mà là đặc trưng chung của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ Nó xuất phát từ nhận thức nhân bản, nhưng có phần nóng vội và cực đoan về hình thức và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà theo đó, các cá nhân cần phải

triệt tiêu và hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích và sự phát

17ö

Trang 7

triển chung của cả cộng đồng Nhận thức này chi phối mạnh mẽ việc xây dựng pháp luật ở các nước xã hội chủ nghĩa mà trong đó: Các quyển, tự đo và nghĩa vụ được Hiến pháp các nước dân chủ nhân đân quy định mang tính xã hội chủ nghĩa rõ rệt Các quyển và tự đo chỉ có

được sử dụng vì mục đích củng cố và phát triển chế độ nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa `, Vào những năm

70, 80 của thế ky XX, tinh trang kể trên còn phan anh su đối phó thụ động của các nước xã hội chủ nghĩa với chiến dịch lợi dụng vấn để nhân quyền để chống phá của các

nước phương Tây, -

— Mặc dù có những hạn chế tất yếu, song tính vượt

trước, quá trình pháp điển hóa và cơ chế bảo đảm các

quyền con người ở Việt Nam từ khi giành được độc lập đến trước thời kỳ đổi mới đã chứng tô bản chất ưu việt về mặt nhân quyền của chế độ xã hội chủ nghĩa Thực tế không thể phủ nhận là trong thời kỳ này, cho dù hoàn cảnh kinh

tế, xã hội của đất nước gặp vô vàn khó khăn, song các quyển cơ bản của nhân đân Việt Nam đã được bảo đảm và đặc biệt, các quyển kinh tế, xã hội, văn hóa đã được hiện thực hóa ở phạm vi và mức độ cao hơn rất nhiều kể cả so

1 Xem L.Đ.Voevôdin; Đ.L.Dlatapôlaky: "Bản chất, hệ thống các quyên uà nghĩa uụ cơ bản của công dân các nước xã hột chủ nghĩa” Luật Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa, Nxb Đại học Mátxcdva, 1984, tr.154 Xem thêm Hoàng Thị Ngân trong Tuyên

ngôn thế giới uễ quyên con người va hai Công ước 1966 về quyền

con người, Trung tâm nghiên cứu quyển con người xuất bản

nam 2002, tr.192

176

Trang 8

với nhiều nước tư bản chủ nghĩa giàu có Một số học giá tư sản cũng phải thừa nhận sự thực này, dấu ấn của nhận thức và cơ chế ưu việt đó vẫn còn tôn tại, tác động tích cực đến việc bảo đảm nhân quyền ở ở Việt Nam trong giai đoạn:

hiện nay

2 Nhận thức và thực tế bảo đảm quyển con

người ở nước ta từ khi đổi mới đến nay

Mặc dù trong bối cảnh cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các quyển con người của nhân dân Việt Nam vẫn

được nhà nước nỗ lực bảo đảm; tuy nhiên, do những khó khăn trầm trọng của nền kinh tế, đặc biệt ở thời kỳ sau

giải phông miễn Nam, mức độ bảo đảm các quyền đỗ trên

thực te có xu hướng ngày càng giảm sút Mặt số ' quyền kinh tế, xã hội cơ bản thể hiện tính ưu việt của chế độ xã

hội chủ nghĩa, cụ thể như các quyền học tập và chăm sốc y

tế miễn phí đôi khi chỉ tồn tại một cách hình thức

Đứng trước những đòi hỏi bức xúc của cuộc sống, ngay

từ cuối thập ký 70 của thế ký XX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra sức tìm tòi những cải cách nhằm thao gd những khó khăn chồng chất về kinh tế, xã hội do sự ràng buộc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, đưa đất nước phát triển và cải thiện đời sống nhân dân Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đăng chính thức tuyên bố đường lối đổi mới, với nội dung

cơ bản là chuyển nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch

hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều

thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quan ly của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; dân chủ

17T

Trang 9

hóa đời sống xã hội trên cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; mở cửa tăng cường giao lưu hợp tác với bên ngoài trên tính thần Việt Nam sẵn sàng làm bạn với các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập

và phát triển

Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, cơi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chỉ phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bao đảm quyển con người

Ở nước ta trong thời gian qua

Về mặt nhận thức, cùng với việc coi trọng vị thế và vai trò của con người, vấn để quyền con người cũng được coi trọng và đánh giá tương ứng Hiến pháp mới năm 1999 (Điều ð0) lần đầu tiên để cập đến thuật ngữ quyền con người và khẳng định: "Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh

tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật"! Cùng với khái niệm quyển con người, các khái niệm có liên quan khác như quyền bình đẳng của phụ nữ, quyền trẻ em cũng được chính thức đề cập trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật, pháp quy của nhà nước Điều đó thể hiện rò ràng sự chuyển biến về mặt

quan điểm, từ sự đồng nhất một cách ấu trĩ khái niệm

1 Xem Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992),

va nghi quyét vé viée stta đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp

1992), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.139

178

Trang 10

quyền con người như là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân hoặc như là một thứ công cụ chính trị mà các thế lực tư bản chủ nghĩa ở phương Tây sử dụng để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa đến cách nhìn nhận khách quan hơn, coi nhân quyền là sản phẩm chung, là sự kết tinh của nền văn minh nhân loại; tuy mang tính phức tạp và nhạy cảm, nhưng vẫn là một yếu tế không thể bỏ qua trong đời sống chính trị hiện đại

Từ chuyển biến về mặt nhận thức, đã dẫn đến những

chuyển biến nhanh chóng và đáng kể trong việc bao dam

các quyển con người của nhân dân Xét riêng trên lĩnh vực lập pháp, chỉ tính từ năm 1996 đến năm 2002, nhà nước đã ban hành 13.000 văn bản pháp luật các loại, trong đó có hơn 40 bộ huật và Juat, trên 120 pháp lệnh, gần 850 văn bản pháp luật của chính phủ và trên 3000 văn bản pháp quy của các bộ, ngành', trong đó đã "nội luật hóa" một cách toàn diện những công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã phê chuẩn hoặc gia nhập từ đầu những năm

80 của thế kỷ XX và trong thời kỳ này Đây là điểu mà trong giai đoạn trước hầu như chúng ta chưa làm được Trên các lĩnh vực khác, việc bảo đảm các quyển con người cũng có những thành tựu vượt bậc, được cộng đồng quốc tế ghi nhận Để nghiên cứu cụ thể hơn về việc bảo đảm các quyền con người ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay, cần thiết đề cập đến hai phương diện chính, đó là:

1 Xem Báo cáo bổ sung cho báo cáo quốc gia lần hai của Việt Nam uê uiệc thực hiện Công ước quốc tế uÊ: ode quyện dan

179

Trang 11

việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị và việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa

a) Bao đảm các quyên dân sự, chính tri Ở nước ta từ khi đổi mới đến nay

Quyền dân sự, chính trị là một trong hai nhóm quyền

cơ bản của con người, là nội dung của một trơng hai điều ước quốc tế quan trọng nhất về nhân quyển do Đại hội

đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1966 (Công ước quốc

tế về các quyền dân sự, chính tr) Đây là một tập hợp các quyển nhằm bảo đảm cho các cả nhân được tồn trọng danh dự, nhân phẩm và tài sản; được tham gia một cách chủ động và bình đẳng vào các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội Tiêu biểu cho các quyển dân sự, chính trị là các quyền sở hữu; quyền bất khả xâm phạm

về tính mạng, danh dự, nhân phẩm; quyền bầu cử, ứng cử; quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự đo tín hgưởng, tôn giáo; quyển hội họp, lập hội ¬ Xét về mặt lịch sử, các quyển dân sự, chính trị được bàn luận và pháp điển hóa trước các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa", Hệ thống pháp luật quốc tế về nhân quyền đầu tiên chủ yếu để cập đến các quyền dân sự, chính trị”, sau đó mở rộng tới các quyển kinh tế, xã hội, văn hóa và các quyền của các nhóm xã hội dễ bị tốn

1 Trong lý luận về nhân quyền, hầu hết các học giả xếp nhóm quyền dân sự, chính trị vào thế bệ nhân quyên thứ nhất

2 Xem Tuyên ngôn thế giới uê quyển con người trong Các uăn kiện quốc tế UÊ quyên con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,!998

180

Trang 12

thương như phụ nữ, trẻ em, người thiểu số, người bản địa Tuy nhiên, diéu này không có nghĩa là phải đặt các quyền dân sự, chính trị ở vị trí cao hơn về mặt vai trò và tầm quan trọng so với các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa hay các quyền của nhóm Dơ tất cả các quyền con người đều bắt nguồn và nhằm bảo đảm nhân phẩm của con người nên tất

cả các quyền đều có vai trò và giá trị bình đẳng

Ở Việt Nam, so với các Hiến pháp năm 1959 và 1980, Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện một bước phát triển mới trong việc pháp điển hóa các quyển con người, với việc khẳng định khái niệm và sự tôn trọng các quyển con người (Điều 50) eũng như bổ:sung một loạt các quyển và tự do mới trên tất cá các lnh:vực Xét trên nh vực dân sự, chính trị, trong Hiến pháp năm 1992, có năm quyển quan trọng được ban hành mới hoặc bổ sung thêm, bao gồm: quyền sở hữu tài sản (bao gồm cả tư liệu sẵn xuất); quyển tự do kinh doanh; quyển ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo luật định; quyền được thông tin theo luật định; quyển bình

đẳng của các tôn giáo; quyển không bị coi là có tội và phải

chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, Hiến pháp năm 1992 còn dé cập đến việc Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài! và mở rộng việc bảo

vệ, giúp đỡ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương

Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền dân sự, chính trị

1 Xem Hiển pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992) +

181

Trang 13

của công dân, bên cạnh Hiến pháp năm 1992, chỉ tính trong giai đoạn 1996-2001, Quốc hội đã thông qua 40 đạo luật, Ủy ban Thường vụ Quốc Hội đã thông qua 40 pháp lệnh có liên quan đến vấn để này, tiêu biểu là Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Dân sự; Luật

Hôn nhân-Gia đình; Luật quấc tịch Việt Nam; Luật khiếu nại, tố cáo; Luật sửa đối, bổ sung một số điêu của Luật Báo chí; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Luật bầu cử đại biểu Quốc hội uà đại biểu Hội đồng nhân dân; Phúp lệnh xuất nhập cảnh, cư trú, di lại của người nước ngoài tại Việt Nam‘ Gan day nhất, ngày 27-5-2004, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự đầu tiên ở Việt Nam, bổ sung một công cụ pháp lý quan trọng để bảo đảm các quyền dân sự

Để thấy rõ hơn thực trạng bảo đảm các quyền dân sự, chính trị ở nước ta từ khi đổi mới đến nay, cần để cập cụ thể đến một số quyền cơ bản sau đây:

+Việc bảo đảm quyên bình đẳng trước pháp luật của công dân

Bình đẳng trước pháp luật không chỉ là một quyền con người mà còn là một nguyên tắc nền tảng của pháp luật nhân quyền quốc tế Theo tỉnh thần của Điều 2 Công ước quốc tế về các quyển dân sự”, mọi cá nhân đều

1 Xem Báo cáo bổ sung cho báo cáo quốc gia lần hai của Việt Nam 0 uiệc thực hiện Công ước quốc tế 0ê các quyên dân

sự, chính trị, tài liệu đã dẫn, Khuôn khổ pháp luật chung trong

đó quyên con người được bảo uệ

2 Xem Điều 2 Công ước quốc tế uê các quyên dân sự, chính trị trong Các uăn kiện quốc tế u quyền con người, Sđở,, tr 11

Trang 14

bình đẳng về năng lực chủ thể pháp luật và phải được

pháp luật bảo hộ một cách bình đẳng trong mọi lĩnh vực

của đời sống xã hội

Trên thực tế, quyển bình đẳng trước pháp luật của

mọi công dân đã được thừa nhận và bảo đảm trong pháp

luật Việt Nam ngạy từ khi nước nhà mới giành được độc

lập Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới, nó không những

được kế thừa mà còn được bổ sung thêm nhiều khía cạnh

nhất định, cụ thể là:

- Trong lĩnh uựe chính trị: Hiến pháp năm 1892 (Điều 53)

và Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 (Điều 4) khẳng

định quyển bính đẳng của mọi công dân trong việc tham

gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đóng góp ý kiến xây

dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của

Đảng, pháp luật của Nhà nước Cũng theo Hiến pháp năm

1992 (Điều 54) và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại

biểu Hội đồng nhân dân quy định, mọi công dân, không

phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng,

tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú,

nếu đủ 18 tuổi trở lên đều bình đẳng về quyển bầu cử, đủ

21 tuổi trở lên đều bình đẳng về quyền ứng cử Đặc biệt,

Luật bầu cử đại biểu Quốc hội mới (năm 1997) bổ sung

thêm quy định về quyền tự ứng cử, theo đó, người tự ứng cử

và người được giới thiệu ra ứng cử đều bình đẳng về các

quyền và nghĩa vụ có liên quan đến việc lập, nộp hồ sơ và

thủ tục hiệp thương Sự bổ sung này có thể coi là một cơ sở

pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm một cách đây đủ hơn

quyền được bầu cử và ứng củ của nhân dân

- Trong lĩnh uực dân sự: Ngoài sự bình đẳng giữa vợ

183

Trang 15

và chồng trong quan hệ hôn nhân gia đình, pháp luật nước ta trước thời kỳ đổi mới chưa đề cập cụ thể đến quyền bình đẳng trong nhiều dạng quan hệ dân sự khác,

đặc biệt là bình đẳng trong hoạt động kinh doanh

_ Bộ luật Dân sự năm 1996 (Điều 8) quy định bình đẳng

là một trong những nguyên tắc pháp lý cơ bản, theo đó, trong quan bệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được

lấy lý do khác biệt về dân: tộc, giét tinh, thành phần xã hội,

hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 tái khẳng định nguyên:tắc: bình: đẳng như là một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân gia đình ở Việt Nam (Điều 2) mà trước đó đã được ghi nhận trong Luật Hôn nhân gia đình các năm 1959,

1986 Nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các khía cạnh

cụ thể như bình đẳng giữa vợ và chẳng (Điều 2@)), bình đẳng trong hôn nhân (giữa các cá nhân thuộc các dân tộc, theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo, là người Việt Nam bay người nước ngoài) (Điều 22), bình đẳng giữa các

thành viên trong gia đình (Điều 2(8)) Luật quốc tịch Việt

Nam năm 1998 (Điều 1) khẳng định mọi thành viên của các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Hiến pháp nám 1992 và các Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp thì khẳng định quyền bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh và coi đó là một trong những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ thương mại

- Trong các lĩnh uực uăn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ: Hiến pháp năm 1992 (Điều 35) và Luật Giáo dục

năm 1998 (Điều 9) tái khẳng định nguyên tác bình đẳng

Trang 16

về quyền được học tập của công dân đã được ghi nhận trong pháp luật và thực hiện trong thực tế từ khi nước nhà giành độc lập Điểm mới là Luật Khoa học Công nghệ năm 2001 (Điều 17) quy định về quyền bình đẳng trong nghiên cứu, sáng tạo và chuyển giao, chuyển nhượng kết quả nghiện, cứu, sáng tạo khoa học công nghệ của mọi công dan, 4 điều mã trước thời kỳ đổi mới pháp luật nước ta

Những nguy cơ đe đọa tính mạng, thần thể, danh' ‘dur

và nhân phẩm của con người có thể xuất phát št nhiều

nguyễn nhân và nhiều dạng chủ thể; tuy nhiên pháp luật

nhân quyền quốc tế chủ yếu xem xét chúng dưới góc độ những hành vi xâm phạm xuất phát từ các thủ tục và hoạt động của các cơ quan và viên chức thực thi pháp luật bình sự Cụ thể, trong vấn đề này, pháp luật nhân quyền quốc tế để cập đến các khía cạnh chủ yếu sau: quyền sống; quyền tự do và bất khả xâm phạm về thân thể; nghiêm cấm tra tấn, nhục hình và đối xử vô nhân đạo; cấm chế độ

nộ lệ, lao động khổ sai hay lao động cưỡng bức; quyền của người bị giam giữ được đối xử nhân đạo; cấm bó: tù do không hoàn thành hợp déng’

1 Xem các Điều 6, 7, 8, 9,10 trong Công ước quốc tế nễ các

quyên dân sự, chính trị trong Các vdn kiện quốc tế 0 quyền con

185

Trang 17

Ngay từ Hiến phấp năm 1946, quyền bất khả xâm

phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam Dân chủ

Cộng hoà đã được ghi nhận như một nguyên tắc hiến định (Điều 27): 'Nguyên tắc này được tái khẳng định trong các

Hiến pháp hăm 1959, 1980, 1992

Hiển pháp năm 1892 (Điều 71), và Bộ luật Dân sự năm

1995 (Điều 32) tiếp tục ghi nhận nguyên tắc quan trọng này Để bảo đảm nguyên tắc này được thực thi có hiệu quả trên thực tế, Bộ luật Hình sự các năm Ì989, 1991, 1992 và

1999 đều có các chương riêng quy định cụ thể về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; các tội xâm phạm quyển tự do đân chủ của công dân; các tội xâm phạm quyền sở hữu và các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình Bên cạnh đó, từ khi đổi mới,

nhiều văn bản pháp luật, pháp quy khác cũng được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Hình sự,

Bộ luật Tố tụng hình sự; trong đó các văn bản quan trọng

có thể kế như Pháp lệnh về thi hành án phạt tù năm 1993;

Quy chế về chế độ tạm giữ, tạm giam (ban hành kèm theo Nghị định số 149/HĐBT năm 1992 và được sửa đổi bằng Nghị định 89/1998/NĐ-CP năm 1998); Quy chế trại giam (ban hành kèm theo Nghị định số 60/CP năm 1993), Quy chế thực hiện dân chủ trong tạm giữ, tạm giam và hoạt động điều tra của lực lượng Công an nhân dân Các văn bản này tập trung vào việc ngăn ngừa những hành vì xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người (trong đó kể cả những bị can, bị cáo và những

phạm nhân đang thi hành án phạt tù) mà bị nghiêm cấm

trong pháp luật nhân quyền quốc tế, cụ thể như những

Trang 18

hành vi bắt, giam giữ bất hợp pháp; tra tấn; đối xử tàn bạo, vô nhân đạo

Liên quan đến vấn để cấm bỏ tù do không hoàn

thành hợp đồng, từ trước tới nay, trong pháp luật bình

sự của Việt Nam không có quy định nào về việc truy cứu trách nhiệm hình sự với những người không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (về dân sự, kinh tế, lao động), ngoại trừ khi đó là các hành vi lạm dụng tín nhiệm, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người khác khi giao kết và thực hiện hợp đồng :

Về vấn để nô lộ, lao động kHổ:sái hay lao động cưỡng bức, Bộ luật Lao động năm 1994 và năm 2002 đều có quy định về quyển tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm của người lao động và việc cấm phân biệt đối xử hoặc cưỡng bức

người lao động dưới bất cứ hình thức nào Mặc dù Miến pháp năm 1992 (Điều 80) và Pháp lệnh uê nghĩa uụ lao động công ích năm 1999 quy định về nghĩa vụ lao động công ích của công dân, tuy nhiên, không đúng như các luận điệu xuyên tạc của một số thế lực ở phương Tây từng rêu

rao, quy định kể trên hoàn toàn không trái với các tiêu

chuẩn quốc tế về nhân quyền và thông lệ của các nước trên thế giới, bởi lẽ theo Pháp lệnh uê nghia vu lao động công

ích, việc thực hiện nghĩa vụ này là để " huy động một phần sức lao động của công dân tham gia xây dựng, tu bổ các công trình vì lợi ích chung của cộng đồng; kịp thời phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh", không phải nhằm mục đích xây dựng các công trình của nhà nước hay nhằm mục tiêu kinh doanh -

Từ những quy định hiện hành, có thể khẳng định rằng,

187

Trang 19

khung pháp luật về bảo vệ tính mạng, danh dự, nhân phẩm của con người ở Việt Nam hiện nay đã khá hoàn chỉnh và chặt chẽ; trong đó các nguyên tắc cơ bản được: kế thừa từ các nguyên tắc và quy định pháp luật được ban hành ở thời

kỳ trước nhưng có rất nhiều quy định cụ thể được bổ sung

và phát triển từ khi đổi mới Một số bổ sung và phát triển quan trọng có: thể kể như sau: -

- Lần đâu tiên, Hiến pháp năm 1992 quy định nguyên tắc suy đoán vô tội, theo đó: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật" (Điều 72) Đây là một nguyên

tắc tố tụng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực

nhân quyền, bởi nó giúp hạn chế tối đa những tác động tiêu cực từ các cơ quan, nhân viên tố tụng và từ xã hội đối với những bị can, bị cáo; bảo đảm quyền bất khả xâm

phạm về tính mạng, thân thể, danh dự và nhân phẩm của

họ trong các giai đoạn điểu tra, truy tố và xét xử của tố tụng hình sự: Việc quy định nguyên tắc này là một bước

phát triển quan trọng trong pháp luật tổ ố tụng hình sự nói chung và trong việc bảo đắm quyển con người trong hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta nói riêng :

- 8o với các pháp luật ở giai đoạn trước, từ khi đổi mới, hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh hành vi của

các viên chức thực thi pháp luật hình sự đã được bổ sung

và cụ thể hóa một cách đáng kể, có tác dụng làm rõ trách nhiệm hình sự đối với những hành vị này Đặc biệt, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có sự điều chỉnh quan trọng theo hướng tăng hình phạt đối với các tội xâm phạm hoạt

động tư pháp (chương X) Cụ thể, nếu trong Bộ luật Hình

Trang 20

sự năm 1985, tội "truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội" (Điều 281) chỉ quy định hai khung hình phạt với mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù, thì ở Bộ luật Hình sự năm 1999, tội danh này (Điều 293) được xây

dựng thành ba khung hình phạt, với mức hình phạt cao

nhất là 15 năm tù Nhiều tội danh khác trong chương này như tội.ra bản án trái pháp luật; tội ra quyết định trái

pháp luật; tội dùng nhục hình; tội bức cung; tội lợi dụng

chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật cũng được điều chỉnh theo hướng tăng hình phạt như vậy Đặc

biệt, tất cá các tội danh trong chương: này đều đã loại bỏ hình phạt cải tạo:không giam giữ: Những bổ sung; điều chỉnh kể trên dũng có ý nghĩa quan trọng đến việc ngăn chặn những hành vi xâm phạm tính mạng, thân thé, danh

dự và nhân phẩm của bị can bị cáo trong cắp giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử của tế tụng hình sự mà xuất phát từ những người tiến hành tế tụng

- Bất đầu từ thời kỳ đổi mới, quá trình cải cách tư pháp được khởi động với mục tiêu cơ bản là tăng cường, củng cố hệ thống các cơ quan tư pháp, thông qua đó bảo đảm các quyền con người trong hoạt động tố tụng tư.pháp - một mảng rất quan trọng của các quyền dân sự, chính trị Mặc dù hiện tại, quá trình cải cách tư pháp chưa kết thúc, tuy nhiên, trong thời gian qua, nó đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tính đến thời điểm hiện nay, hầu hết các thẩm phán và hội thẩm nhân đân của tòa án nhân dân các cấp đều đã có trình độ đại học hoặc trên đại ợb: Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ kiểm ‘ght viên Viện Kiểm sát nhân dân các cấp cũng không ngừng

489

Trang 21

được nâng cao Cũng trong thời kỳ này, một hệ thống khá đông bộ các cơ quan bổ trợ tư pháp bao gồm các đoàn luật

sư, các văn phòng luật sư, các phòng công chứng nhà nước, các cơ quan giám định tư phấp, các cơ quan thì hành án và trợ giúp pháp lý đã được thiết lập Đồng thời với việc đó, Nhà nước cũng quy định và liên tục sửa đổi các văn kiện pháp luật có liên quan để tạo lập một hành lang pháp lý ngày càng thông thoáng hơn cho cae cd quan này hoạt động, đặc biệt là tạo điều kiện cho việc tham gia

tố tụng và tranh tụng của luật sư tại các phiên tòa, nhữ vậy, quá trình tố tụng tu pháp ở nước ta hiện đã có những chuyển biến đáng kể so với thời kỳ trước, dần dần bắt kịp

các chuẩn mực quốc tế chung trong vấn đề này và tạo cơ

sở bảo vệ có hiệu quả hơn các quyền của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự

+ Việc bảo đảm một số quyền dân sự, chính trị cụ thể khác: Ngoài quyển bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, danh dự và nhân phẩm, còn một số quyền dân sự, chính trị quan trọng khác như quyền tự

do ngôn luận; quyền tự do hội họp, lập hội; quyền tự do

tín ngưỡng, tôn giáo

- Quyền tự do ngôn luận: Theo tỉnh thần của các quy định có liên quan trong pháp luật quốc tế về nhân quyền, nội hàm của quyển tự do ngôn luận là việc cá nhân có quyền có quan điểm, chính kiến riêng về các vấn để trong

xã hội và được bày tổ quan điểm, chính kiến riêng đó mà không bị trừng phạt hoặc trù dập, với điều kiện là những hành động này không được làm ảnh hưởng đến các quyền

và tự do của người khác, cũng như ảnh hưởng đến an

190

Trang 22

ninh, trật tự, đạo đức của cộng đồng

Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam có một loạt quy định hiên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận của công dân như: "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn để chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước " (Điều 53), "Công dân

có quyền tự do ngôn luận " (Điều 69), Công dân có quyền được tự do thông tin, "Các cơ quan Nhà nước, cán

bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân " (Điều 8), "Đại biểu Quốc hội phải,,.thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của, cử trì với Quốc bội v và các co ø quan Nhà nước hữu quan" (Điều 97) - ae

- Cụ thể hóa các quy định kể trên của Hiến pháp, Luật Bao chí (1992, được sửa đổi, bổ sung năm 1999) đã khẳng

định, cá nhân công dân có quyền đăng tải các phương tiện

thông tin đại chúng những ý kiến cá nhân của mình

không trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng

thời nêu rõ, báo chí - với ý nghĩa là công cụ quan trọng

nhất để thực hiện quyển tự do ngôn luận của công dân - không bị kiểm duyệt Luật xuất bản cũng quy định quyền của cá nhân được tự do công bố các tác phẩm của mình mà

không bị kiểm duyệt Nghị định số 133/HĐBT ngày 20-4-

1992, quy định báo chí có trách nhiệm tiếp nhận và đăng, phát kiến nghị, ý kiến phê bình của công dân Nếu không đăng, phát như vậy, thì phải trả lời và nêu rõ lý do

(Diéu 1)

Trong thực tế, từ khi đổi mới đến nay, quyền tự do

191

Trang 23

ngôn luận ở Việt Nam đã được thực hiện khá tốt, thể hiện qua số lượng và nội dung chuyển tai cha các cơ quan báo chí, truyền thanh, truyền hình Hiện tại, ở Việt Nam có hơn 400 tờ báo và tạp chí, hơn 60 đài phát thanh, truyền hình và hàng trăm nhà xuất bản Cùng với các cơ quan truyền thông này, hệ thống Internet (đã được thiết lập 4 Việt Nam từ đầu những năm 90 của thé ky XX) va dé 4n

về việc cho phép thành lập các nhà xuất bản tư nhân (dang được gấp rút hoàn chỉnh), tạo ra những công cụ mới

cho việc thực hiện quyển tự do ngôn luận Về mặt nội

dung, thông tin, ý kiến, quan điểm đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng nhiều, đa

dạng, phản ánh có hiệu quả tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Có thể khẳng định rằng, từ khi đổi mới, đã có

sự chuyển biến quan trọng về vị thế của các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam Hệ thống này ngày càng

có vai trò quan trợng hơn trong tất cả các vấn để của đất nước, từ chính trị, dân sự cho đến kinh tế, xã hội và văn hóa Điều này đồng nghĩa với việc quyển tự do ngôn luận của công dân ngày càng được tôn trọng và bảo đảm

- Quyền tự do hột họp, lập hội: Theo tình thân của các quy định có hên quan trong pháp luật quốc tế về nhân quyền, nội hàm của quyền tự do hội họp, lập hội là việc các cá nhân được thiết lập các mối quan hệ và giao lưu với những người khác một cách thường xuyên hay không thường xuyên, dưới hình thức có tổ chức hay không có tổ chức Quyền này cũng có giới hạn lä không được làm ảnh hưởng đến các quyền và tự do của người khác, cũng như ảnh hưởng đến an nình, trật tự, đạo đức của cộng đồng

192

Trang 24

Hiến pháp năm 1992 quy định rõ: "Công dân có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp

luật" (Điều 69) Quyển này được tái khẳng định trong Bộ luật Dân sự (1995), Bộ luật Hình sự (1999), Bộ luật Lao

động 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Ngoài các đạo luật này, năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nhiều văn bản :pháp quy để cụ thể hóa việc bảo đảm quyển tự đo hội họp, lập hội Gần đây, Chính phủ đã ban hành một loạt văn bản pháp quy liên quan đến vấn đề này

như Chỉ thị 14/2000/CT-TTg ngày 1-8-2000 cia Tha tướng Chính phủ về việc triển: khai các biện pháp nhằm

đẩy mạnh và nằng cho hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội 'khớa học và kỹ thuật Việt Nam; Chỉ thị số 08/2000/CT TTg ngày 9-4-2001 của Thủ tướng Chính phủ

về việc triển khai các hiện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Luật gia Việt Nam Hiện Chính phủ cũng đang xúc tiến việc soạn thảo Luật về Hội

để trình Quốc hội thông qua, thay thế cho Sắc lệnh ban

hành Luật Lập hội năm 1957

Bên cạnh những hiệp hội, tổ chức xã hội đã được thành lập từ lâu, từ khi đổi mới đến nay, đã có thêm nhiều tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội nghề nghiệp khác được thành lập Hiện tại, ở Việt Nam có khoảng 216 tổ

chức, hiệp hội quần chúng hoạt động với tư cách là các tổ chức, hiệp hội quốc gia, được Nhà nước cho phép thành lập Ngoài ra, còn có hơn 300 hiệp hội địa phương, hoạt động trong phạm vi các tỉnh, thành phố Bên cạnh đó, chính quyển các địa phương cũng cho phép và tạo điều

193

Trang 25

kiện cho hàng ngàn câu lạc bộ, tổ, nhóm và các thiết chế

quần chúng khác được hoạt động trên nhiều nh vực

- Quyên tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Theo tỉnh thần của các quy định có liên quan trong pháp luật quốc tế về nhân quyển, nội hàm của quyển tự do tín ngưỡng, tốn giáo là việc các cá nhân được tin, theo và thực hành các tín ngưỡng, tôn giáo mà mình thấy phù hợp, miễn là không được làm ảnh hưởng đến các quyền và tự do của người khác, cũng như ảnh hưởng đến an nình, trật tự, đạo đức

của cộng đồng

Theo Điều 70 Hiến pháp năm 1992: "Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”

Quy định kể trên được tái khẳng định trong Luật tổ chức Chính phủ (năm 1992, Điều 13), Bộ luật Dân sự (năm 1995, các Điều 8, 35, 45), Luật Giáo dục (năm 1998, Điều 9, 16), đồng thời được bảo vệ trong Bộ luật Hình sự

và Bộ luật Tố tụng hình sự Thêm vào đó, từ năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 69/HĐBT cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Nghị định này sau đó được thay thế bằng

Nghị định số 26/1999/NĐCP ngày 19-4-1999 của Chính

phủ, trong đó cụ thể hóa chính sách tôn giáo, tín ngưỡng của Nhà nước Việt Nam trong tình hình mới nhằm bảo đảm quyền tự do và các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

194

Trang 26

chính đáng của nhân đân cũng như để ngăn chặn những trường hợp lợi dụng quyển này vào các mục đích chính trị Hiện nay ở Việt:'Nam, nhà nước đã công nhận các tổ chức của sáu tôn giáo lớn, bao gồm: Phật giáo, Cổng giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao Đài và Hòa Hảo Tổng số tín đồ

của sáu tôn giáo kế trên lên tới hàng chục triệu người, thường xuyên thực hành tôn giáo ở 22.000-cơ sở thờ tự

trên cá nước Các tổ chức tân giáo có quyền tự do tổ chức các hoạt động tôn giáo, bao gồm cả việc mở các trường đào tạo, in ấn tài liệu:và thuết lập các quan hệ hợp tác quốc tế

Cụ thế, tính, đến năm 2001, có 34 trưởng đào tạo của Phật giáo (bao gồm ba Học viện Phật giáo) với số tăng n¿,phật

tử đã được đàn tạo lên tới 6.209 người .Hội thánh Tìm, dành

Việt Nam (miền Nam, mới được lập lại tháng 2-2001) đã

được phép mở Viện Thánh kinh thân học để đào tạo Mục

sư, Truyền đạo Trong đạo Cao Đài, từng hệ phái đều có

Hạnh đường (óớp dạy giáo lý) để đào tao béi đưỡng chức sắc Phật giáo Hòa Hảo cũng liên tục mở các khóa đào tạo giáo lý viên Công giáo có sáu đại chủng viện đào tạo linh mục với khoảng 1.591 người theo học, 654 người đã tốt nghiệp ra trường và được thụ phong linh mục Bên cạnh

đó, Nhà nước Việt Nam cũng cho phép Toà thánh Vaticang phong Giám mục cho các linh mục Việt Nam Trong vòng 2ð năm (1975-2000) đã có 42 người Việt Nam

được phong Giám mục Ì, trong đó riêng trong năm 1999 có

1, Trong thời kỳ Pháp thuộc (1862-1948), chỉ có 4 người Việt

Nam được phong Giám mục Thời kỳ 1945-1975, tính trên cả hai

miễn, tổng cộng cũng chỉ có 33 người Việt Nam được phong

Giám mục

195

Trang 27

5 người, năm 2000 có 2 người, năm 2001 có 3 người

Chỉ tính từ năm 1993 đến tháng 11-2001, đã có 2.062

lượt chức sắc, nhà tu hành và tín đề của Công giáo, Tin

lành, Phật giáo và Hỏi giáo được đi nước ngoài học tập, tham gia các hội nghị, hội thảo hoặc du lịch đến các thánh đường tôn giáo ở nước ngoài Chỉ riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay có khoảng 1ð0 tăng ni sinh du học cấp bằng tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ngoài Về kinh sách, trong hai

năm 2000-2001, đã có gần 400 đầu sách tôn giáo được

xuất bản, trong đó bao gồm các kinh sách quan trọng như

Đại Tạng kinh, Kinh Thánh (Công giáo, Tìn lành), Kinh

Koran (Hồi giáo)

Có thể thấy rằng, các quyền dân sự, chính trị cơ bản

đã được bảo đảm ở Việt Nam cả trong pháp luật và thực

tế, theo một cách thức phù hợp với các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế

b) Bảo đảm các quyên bình tế, xã hội, uăn hóa ở nước

ta từ khi đổi mới đến nay |

Cùng với các quyền dân sự, chính trị, quyền kinh tế,

xã hội, văn hóa là một trong hai nhóm quyền cơ bản của con người, là nội dung của một trong hai điều ước quốc tế quan trọng nhất về nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1966 (Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa) Từ góc độ tính chất, đây là một tập hợp các quyển nhằm bảo đảm cho các cá nhân được hưởng thụ những điều kiện sống về vật chất và tỉnh thần

thích đáng và bình đẳng, trên cơ sở mức độ phát triển về kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia

Trong pháp luật quốc tế về nhân quyền, có sự khác 186

Trang 28

biệt nhất định về yêu cầu thực hiện các quyển đân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa Nếu như việc thực biện các quyển dân sự, chính trị được cơi là những biện pháp cần phải làm ngay, với những tiêu chuẩn áp dựng: mà về cơ bản là không có sự chênh lệch giữa các nước trên toàn thế giới thì với các quyền kinh tế, xã›hội, văn hóa, các quốc gia có thể thực biện từng bước

một, với mức độ bảo đảm tương ứng với trình độ ' phát triển kinh tế, xã hội của nước mình

Xét về mặt lịch sử, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được bàn Iwan và pháp điển hóa sau các quyển dân

su, chinh tri’ “Fay nhién, 'đưới góc độ bas trợ xã hội, quyền kinh Èế; xã hội, vari hớa cũng được đề cập từ rất sớm trong pháp Tuất của một số quốc § gia va té chức quốc tế Cụ thể, những quỹ bảo trợ công nhân đã được thiết lap ở nước Đức

từ năm 1850 và vào năm 1898, ở nước này đã diễn ra Hội nghị quốc tế bàn về điều kiện làm việc của công nhân Năm 1990, tại Thụy Sĩ, một tổ chức có tên là Hiệp hội quốc tế về bảo vệ pháp lý cho người lao động đã được thành lập Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organization-iLO) được

thành lập đã tạo ra bước ngoặt trên lĩnh vực này, với việc

liên tiếp ban hành những điều ước quốc tế điều chỉnh các vấn để về điều kiện lao động, việc làm, trả lương và các

1 Trong lý luận về nhân quyển, hầu hết các học giả xếp nhóm quyền dân sự, chính trị vào thế hệ nhân quyên thứ hai

197

Trang 29

6 Việt Nam, ngay từ năm 1946, bên cạnh các quyền

dân sự, chính trị, Hiến pháp đã để cập đến những quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cơ bản, cụ thể như quy định bảo đảm 'quyền lợi (về kinh tế, xã hội, văn hóa nói chung) của người lao động (Điều 13); việc bảo đảm quyền được bảo trợ

xã hội cho người già, người tàn: tật, trẻ em (Điều 14); quyền được học tập (Điều 17) Các Hiến pháp tiếp theo

trong các năm 1959, 1980 và 1992 tiếp tục kế thừa và

phát triển những quyền này

Mặc dù trong suốt thời kỳ bao cấp, ì Nhà nước đã thiết lập được một cơ chế hoàn chỉnh và có những cố gắng to lớn trong việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân nhưng do những hạn chế về mặt quản lý và _ những khó khăn về kinh tế, xã hội nên việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa có lúc, có nơi chỉ mang tính

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng không

chỉ tạo ra một bước ngoặt với việc bảo đảm các quyền dân

sự, chính trị, mà còn bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa Chính sách đổi mới, với nội dung là chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần sở hữu theo định hướng xã

ˆ hội chủ nghĩa đã phát huy mạnh mẽ tính tự chủ, sáng tạo trong sân xuất của nhân dân, từ đó đưa đất nước thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài, phát triển nhanh chóng

về kinh tế, xã hội Đây chính là cơ sở để bảo đảm có hiệu quả các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân Đồng thời với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh

tế, đổi mới đã thay đổi quan niệm về cách thức bảo đảm

198

Trang 30

các quyền kinh tế, xã hội, theo đó, không chỉ có Nhà nước

là chủ thể có trách nhiệm duy nhất trong vấn đề này Việc chăm ]o chợ con người nói chung, việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa nói riêng là trách nhiệm chung của toàn xã hội;là sự:nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và của toàn dân Quan điểm này không những không xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là nâng cao không ngừng mức sống vật, chất, văn hóa của nhân dân lao động, xây dựng một xã hội mà trong đó mọi người đều có cuộc sống dội dào về vật chất.và tĩnh thần mà chính là nhằm bao

đảm những mục-tiêu đó được hiện thực hóa một cách hiệu

quả tyên thực tiễn, Thêng vào đó, trong thời kỳ đổi mới,

Nhà;nước.ta đã có.những định bướng rõ ràng để bảo đảng

quá, trình này: phải đem lại lợi ích về kinh tế, xã hội và văn hóa cho nhân dan, theo đó, tặng trưởng kinh tế phải

gắn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, phải là cơ sở

cho việc bảo đảm các quyền con người nói chung (trong đó

có các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa) của nhân dân - Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân trong giai đoạn mới, từ năm 1986 đến nay, bên cạnh Hiến pháp năm 1992, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, trong đó có thể,

kế như Bộ luột Dân sự (1995), Bộ luật Lao động (1994),

Luật Giáo dục (1998), Luật Bảo uệ, Chăm sóc uà Giáo dục trẻ em (1991), Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991), Pháp

lệnh uề người tàn tật (1998)

Để thấy rõ thực trạng bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa ở nước ta từ khi đổi mới đến nay, cần đề cập đến việc thực hiện một số quyền tiêu biểu, bao gồm quyền

199

Trang 31

làm việc; quyền được tiếp cận với giáo dục; quyền được chăm sóc y tế; quyền được bảo đảm xã hội

+Bdo dam quyền: làm oiệc: ở nước ta, quyền làm việc lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959

(Điều 30), sau đó được tái khẳng định trong Hiến pháp

năm 1980 (Điều 58) Hiến pháp năm 1992 quy định: "Lao động là quyền và nghĩa vụ của công đân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động" (Điều 55)

Như vậy, Hiến pháp năm 1992 đã kế thừa quy định trong các Hiến pháp trước đó về vấn để này Tuy nhiên, điểm mới quan trọng là đồng thời với việc quy định quyền làm việc, Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên quy định:

*Công dân có quyền được tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" (Điều 57)

Về bản chất, quyển được tự đo kinh doanh là một quyền dân sự; tuy nhiên, nó có mối quan hệ mật thiết, không tách rời với quyền làm việc, bởi lẽ chỉ khi đựa trên

cơ sở quyền tự do kinh doanh thì quyển làm việc mới có thể được bảo đảm ở mức độ đầy đủ và hiệu quả

Cụ thể hóa quy định về quyền làm việc trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định: Cá nhân có quyền lao động Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm, không bị phân biệt đối xử về giới tính, đân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo,

và mọi người có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi bọc nghề phù hợp với nhu cầu làm việc của mình Ngoài ra, nhiều văn bản pháp luật khác như Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật khuyến khích đầu tư trong 200

Trang 32

nước cũng có những quy dnb cụ thể hóa quyển } làm việc a trong Hiến pháp |

Bên cạnh việc thiết lập một hành lang pháp Wy từ khi đổi mới đến nay, Nhà nước đã xây dựng và thực hiện hàng loạt chính sách, chương trình kinh tế-xã hội nhằm thúc: đẩy việc bảo đảm quyền làm việc, tập trung vào việc mở mang, phát.triển các ngành nghề tại các địa phương, hỗ trợ các doanh nghiệp, mở rộng hợp tác quốc tế về đào tạo nghề và xuất khẩu lao động Nổi bật nhất trong các chương trình kinh tế-xã hội kể trên là Chương trình quốc gia về việc làm (được' phê đuyệt theo Quyết định số

126/1998/QĐ-TTg ñgày:11-7:1996 của Thủ tướng Chính

phủ), trong đó bao gốm một loạt nội đưng như thành lập quỹ quốc gia về tạo việc làm, thành lập cơ sở đào tạo nghề, các ngân hàng dành cho người nghèo, điều chỉnh và ban hành mới các chính sách về sử dụng đất đai, thực hiện các chương trình trồng rừng, giao rừng, các chương trình đánh bất xa bờ, chương trình xóa đối giảm nghèo Nhà nước đã đầu tư 1,6 nghìn tỷ đồng cho chương trình quan trợng này; nhờ vậy, số người có việc làm ở nước ta đã tăng

từ 34,6 triệu năm 1996 lên 40,7 triệu năm 2000 Tính trung bình, trong thời kỷ này, mỗi năm có 1,2 triệu người được giải quyết việc làm Cũng trong thời kỳ này, Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm đã cho 1,8 triệu lượt người vay, với số tiền lên tới 3.000 tỷ đồng Hệ thống các cơ sở dạy

nghề đã đào tạo được 2 triệu lượt lao động có tay nghề, bổ

túc nghề cho 0,7 triệu người, giới thiệu và cung ứng cho

các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh cho ogần

201 —

Trang 33

+ Bao đảm quyên được Hiếp cận uới giáo dục: Ngay từ khi mới giành được độc lập, Nhà nước ta đã hết sức quan tâm đến quyền được tiếp cận với giáo dục của nhân đân Xét về mặt kinh tế, xã hội, văn hớa, một trong những chủ trương, chính sách lớn đầu tiên của:Nhà nước ta là "diệt giặc đốt" Với những phong trào rầm rộ và rộng khắp nhự

"Bình dân học vụ", "Bổ túc văn-hóa" do Nhà nước phát

động trong những năm 1945-1946, đã giúp 90% dân số mù

chữ ở nước ta trong thời kỳ ấy được hướng quyền tiếp cận

với giáo dục

: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời Ð quá độ lên - chủ nghĩa xã hội do Đẳng để ra năm 1991 xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu Quan điểm này được thể chế hóa trong Điều 3ã Hiến pháp năm 1992 "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu" Đây là cơ sở tư tưởng cho việc hiện thực hóa quyền được tiếp cận với giáo dục của nhân dân trong thời kỳ mới

Bên cạnh quy định kể trên, Hiến pháp năm: 1992

cũng nêu rõ, học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân

(Điều 59), đồng thời xác định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền này (Điều 36) Trên cơ sở đó, một loạt các văn bản pháp luật khác được ban hành nhằm cụ thể hóa việc bảo đảm quyển được tiếp cận với giáo dục, trong đó quan trọng nhất là Luật Giáo dục (năm 1998) Điều 9 Luật này quy định: Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội hoặc hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập Nhà nước thực hiện công 202

Trang 34

bằng xã hội trong giáo dục, tạo điểu kiện để ai cũng được học hành Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, bảo đảm điều kiện để những người học giỏi phát triển tài năng Nhà nước ưu tiên, tạo điều

kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em các gia đình ở vàng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng hưởng:chính sách ưu đãi, người tàn tật và đối tượng hưởng chính sách xã hội khác được thực hiện

quyền và nghĩa vụ học tập của mình

Tương tự như trong việc bảo đảm quyền về việc làm,

đổi mới đã làm thay đổi cách tiếp cận về cách thức bảo đảm quyền được tiếp cận với giáo dục trước đó Thay cho việc Nhà nước bao cấp và là chủ thể duy nhất bảo đảm quyển này, Luật Giáo đục nêu rõ đây là trách, nhiệm chung của Nhà nước, các đoàn thể xã hội, mọi { tổ chức, gia đình và cá nhân Để cụ thể hóa cách tiếp cận này, Chính phủ đã thông qua các Nghị quyết 90/CP ngày 31-8-1997

và Nghị quyết 73/1999/NĐ-CP ngày 19-8-1999, trong đó quy định rõ về chủ trương xã hội hóa giáo dục theo

phương cham Nhà nước và nhân dân cùng làm

Sự chuyển hướng tiếp cận trong việc bảo đảm quyển giáo dục đã mở ra những cơ hội học tập đa dạng và phong phú cho nhân dân ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lứa tuổi, dẫn tới

sự chuyển biến lớn trong việc bảo đảm quyển này, thể hiện qua sự phát triển nhanh chóng về số lượng cơ sở đào tạo và học sinh ở các cấp học, cụ thể như sau!:

1, Tổng cục Thống kê và UNDP: Äfức sông trong: thời kỳ

bùng nổ kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2001, tr 91 ”

203°

Trang 35

- Trong giáo dục đại học, nếu như năm 1986 cả nước chỉ có 98 trường đại học, cao đẳng thì đến năm 2000, con

số này đã tăng lên gần gấp đôi (190 trường) Vào năm

2000, ở nước ta trung bình cứ một vạn dân thì có 117 sinh viên

~ Trong giáo dục trung học phổ thông: Năm học 1998-

1999, cả nước có 1,65 triệu học sinh, tang 217,3% so với

năm học 1990-1991 -

- Trong giáo dục trung học cơ sở: Năm học 1998-1999,

cả nước có 5,5 triệu học sinh, tăng 114,3% so với năm học

cận với giáo dục từ sau đổi mới đến nay còn bắt nguồn từ

việc mở rộng các hình thức đào tạo và các loại hình cơ sd giáo dục Nếu như trước đây, chỉ có các hình thức đào tạo chính quy, tại chức và chuyên tu thì hiện nay còn có thêm nhiều hình thức đào tạo khác như đào tạo từ xa, đào tạo văn bằng 2 Nếu như trước đây, chỉ có một loại hình cơ SỞ giáo dục duy nhất là công lập, thì hiện nay còn có thêm các loại hình cơ sở đào tạo dân lập, bán công Đây chính

là một trong những yếu tố quan trọng mở rộng cơ hội tiếp cận với giáo dục của nhân dân

Sự chuyển hướng tiếp cận trong việc bảo đảm quyền

204

Trang 36

được giáo dục và việc mở rộng các loại hình đào tạo và

cơ sở giáo dục đã trực tiếp dẫn tới những kết quả vượt bậc trên lĩnh vực này trong thời gian qua Cụ thể, sau

_10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia

chống mù chữ, tính đến tháng 6-2000, đã có 100% số tỉnh, thành phố trong cả nước đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ (trong đó có một số địa phương đã bắt đầu thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở) Tính đến nay, tỷ lệ dân số biết chữ ở nước ta đạt 94%, tỷ lệ sinh viên đạt 171/10 000 dân, số năm di học trung bình của người ‹ dân là 7,3 năm Chỉ

trung: bọc chuyên nghiệp tổng 150%, số ‘cong nhân kỹ thuật được đão tạo tăng 200%, số sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng tăng gần 300%" Ngan sách chi cho giáo dục hằng năm của Nhà nước là rất lồn, vào năm

2000 chiếm 15% tổng chi tiêu quốc gia Gần đây, nhà nước còn có chính sách quốc gia về đưa cần bộ khoa học trẻ đi đào tạo ở nước ngoài bằng nguồn vốn ngân sách ' Nhà nước, theo đó, mỗi năm sẽ dành 100 tỷ đồng để cho

850 sinh viên có cơ hội bọc các ngành khoa học mũi nhọn ở các nước phát triển

Những điều trên là những minh chứng điển hình cho việc thực hiện quyền được tiếp cận với giáo dục ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay Nó góp phần củng cố

vị trí của nước ta là một trong những quốc gia có tỷ lệ

1 Nguồn: Béo cáo phát triển con người năm 2001 của UNDP

205

Trang 37

dân số biết chữ cao bậc nhất trên thế giới (đạt 94%), mặc đù là một trong những nước nghèo nhất thế giới,

đồng thời khẳng định tính chất ưu việt của chế độ xã

+ Bảo đảm quyên được chăm sóc y tế,

Sức khỏe của nhân đẩn cũng là mối quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước ngày từ khi nước nhà giành được độc lập Cho dù quyền được chăm ỐC SỨC "khỏe miễn phí chưa được đề cập trong Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm

1959, nhưng bản Hiến pháp này cũng có một quy định gián tiếp (Điều 14 Hiến pháp năm 1946, Điều 39 Hiến phấp năm 1959), trong đó quy định những người già, tàn tật và trẻ em được Nhà nước giúp đổ (được hiểu là bao gồm cả sự giúp đỡ về y tế) Quyền được chăm sốc sức khỏe miễn phí sau đó được ghi nhận trọng Hiến pháp năm

1980, xét trên phương diện pháp điển hóa, đây là đỉnh cao

về việc bảo đảm quyền này ở nước ta :

Thực tế là trong suốt thời kỳ từ năm 1954 đến trước đổi mới, Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã đạt được rất nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền được chăm sóc y tẾ của nhân dân, thể hiện cụ thể ở việc thiết lập được một hệ thống các cơ sở y tế đồng bộ từ trung tương xuống địa phương và đào tạo được một đội ngũ cán bộ y tế đông đảo,

đủ đáp ứng những nhụ cầu chăm sốc y tế tối thiểu của nhân dân trên cả nước Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế,

xã hội còn thấp nên cũng giống như nhiều quyền kinh tế,

xã héi, van héa khác, trong thời kỳ bao cấp, có lúc, có nơi việc bảo đảm quyền chăm sóc y tế ở nước ta chỉ mang tính

hình thức

Trang 38

- Từ khi đổi mới đến nay, cũng giống như các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác, có sự chuyển đổi về hướng tiếp cận việc bảo đảm quyền được chăm sóc y tế từ chế độ bao cấp hoàn toàn của Nhà nước sang hình thức Nhà nước và

nhân dân cùng làm, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ y

tế Sự chuyển đổi này không có nghĩa là Nhà nước giảm

-bét sự quan tâm đến việc bảo đảm quyền được chăm sóc y

tế của nhân dân, mà ngược lại, Nhà nước vẫn thừa nhận

và nỗ lực bảo đảm quyền này, nhưng theo một cách thức phù hợp và hiệu quả hơn

Về mặt pháp lý, Hiến pháp năm 1992 quy định: "Công dan quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe" (Điều 61) .Gần đây, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng

đã khẳng định, Đẳng va Nhà nước sẽ: "Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và

phát triển giống nòi Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y

tế, đặc biệt là ở cơ sở Xây dựng một số trung tâm y tế chuyên sâu Đẩy mạnh sản xuất dược phẩm, bảo đảm các loại thuốc thiết yếu đến mọi địa bàn dân cư Thực hiện công bằng xã hội trong chăm góc sức khỏe; đổi mới cơ chế

và chính sách viện phí, có chính sách trợ cấp và bảo hiểm

y tế cho người nghèo, tiến tới bảo hiểm y tế toàn, dân"!,

Trước đó, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung udng Dang khéa VII da ban hanh Nghi quyét vé céng tac chim sốc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Luật bảo vệ sức khỏe

“nh

1 Dang Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại Bide toàn

quốc lần thứ [X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 107

207

Trang 39

nhân dân cũng được thông qua từ năm 1989, tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm cho tất cả mọi công dân đều có thể được tiếp cận các dịch vụ y tế và được bảo vệ sức khỏe

Về mặt thực tiễn, nhằm tăng cường sự công bằng và hiệu quả của việc bảo đảm quyền được chăm sóc y tế của

nhân dân, từ khi đổi mới đến nay, Nhà nước đã có những

nỗ lực rất lớn trong việc đa dạng hóa các loại hình dịch vụ

y tế, các nguồn cung cấp dịch vụ y tế (thông qua các chế

độ bảo hiểm và triển khai chính sách hành nghề y dược tư nhân), củng cố tuyến y tế cơ sở và đặc biệt chú ý đến việc loại trừ những bệnh nguy biểm cũng như việc bảo vệ sức khỏe của bà mẹ, trẻ em Nhờ vậy, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong

vấn dé này, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, thể hiện qua nhiều khía cạnh, tiêu biểu như:

- Tính đến năm 2000, cả nước có 835 bệnh viện, 936 phòng khám đa khoa khu vực, tăng 13,1% và 57,84 %

sọ với năm 1986 Tổng chỉ ngân sách cho ngành y tế năm 2001 là 6.190 tỷ đồng, gần gấp đôi so với năm

- Tính đến năm 2000, cả nước có 39.205 bac si, 5.972

dược sĩ đại học, 50.760 y sĩ, tăng 97,4%, 4,86% và 15,78% 208

Trang 40

so với năm 1986 Ty lệ bác sĩ tăng từ 3,23/10000 dân năm

1986 lên 5,04/10000 dân năm 2001 Nếu như năm 1995, chỉ có 10% số trạm y tế xã, phường có bác sĩ công tác thì đến năm 2001, con số này là 40% Năm 2001, 78% số trạm

y tế xã, phường có y sĩ hoặc nữ hộ sinh

- Nhiều chương trình y tế cộng đồng đã được triển khai trên cả nước và đạt kết quả rất tốt, cụ thể như các chương trình phòng chống sáu bệnh (lao, sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt) Tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em qua các năm ngày càng cao (năm 1985, 1986, chỉ có 27% trẻ

em được tiêm chủng, đến năm 1994, con số này đã là 94,6%), Đến, năm 2000, Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt và bệnh uốn ván: sơ sinh Tính đến năm

1999, chương trình phòng chống bệnh sốt rét đã giúp làm giảm 70% số người mắc và 9ã% số bệnh nhận chết vì bệnh này

- Tuổi thọ của người dân Việt Nam, do nhiều yếu tố, trong đó có vấn đề chăm sóc y tế, đã tăng lên rõ rệt trong

thời kỳ đổi mới, cụ thể như sau:

209

Ngày đăng: 09/12/2022, 10:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w