Tiếp nội dung phần 1, Giáo trình Quản lý và phát triển tổ chức hành chính nhà nước: Phần 2 cung cấp cho người học những kiến thức như: thiết kế tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước; hiệu quả tổ chức hành chính nhà nước; phát triển tổ chức hành chính nhà nước. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Chuong V THIET KE TO CHUC
CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
I KHÁI NIỆM, QUAN ĐIỂM THIẾT KẾ TỔ CHỨC
CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm về thiết kế tổ chức
Nhu đã nêu trong chương I, cơ cấu và xác định cơ cấu của
tổ chức là một trong những nội dung quan trọng nhằm bảo
đảm để tổ chức hoạt động có hiệu quả
Xác định cơ cấu tổ chức tốt nhất trong những điều kiện cụ thể đã được các nhà quản lý coi đó là một trong những nhiệm
vụ quan trọng của tổ chức Nhiều tổ chức cả trong khu vực tư
nhân và nhà nước đã coi việc thiết kế lại tổ chức là một trong những nỗ lực, cố gắng để tạo ra được một cơ cấu tổ chức thích ứng với điều kiện mới
Cơ cấu tổ chức là một trong những vấn đề ảnh hưởng đến
hoạt động của tổ chức, nhưng không có một cơ cấu tổ chức trong một cấu hình chung phù hợp với mọi tổ chức Mỗi một loại cơ cấu tổ chức như đã nêu trên đều có tính hai mặt: Ưu điểm và hạn chế Nhà thiết kế phải làm sao khai thác được
253
Trang 2tối đa những lợi thế mô hình để tạo cho tổ chức một "cấu hình riêng" Một tổ chức sẽ không đạt được kết quả hoạt động tối ưu nếu như họ luôn giữ một cơ cấu để có sẵn khi mời trường đó tổ chức tổn tại, vận động và phát triển đã, đang
thay đổi
Thiết kế tổ chức (bao gồm cả thiết kế mới và thiết kế điều chỉnh) là tạo ra được một cơ cấu tổ chức phù hợp với những gì thay đổi với tổ chức như: Môi trường bên ngoài, chiến lược phát triển tổ chức; quy mô tổ chức; công nghệ được sử dụng Thiết kế tổ chức là một quá trình xây dựng (mới) hoặc thay đổi cơ cấu tổ chức®),
Với cách định nghĩa thiết kế tổ chức đó, thiết kế tổ chức không phải chỉ tiến hành một lần, mà thường xác định ở một
số giai đoạn phát triển của tổ chức
Trong giai đoạn đầu của phát triển, tổ chức mới được hình thành, thiết kế tổ chức mới ở dạng sơ khai Cùng với sự
phát triển của tổ chức, thiết kế thay đổi, điều chỉnh để có
được cơ cấu tổ chức tối ưu là công việc quan trọng
Như đã nêu trong chương l, các tổ chức tồn tại dưới nhiều dạng cơ cấu Thiết kết tổ chức tạo ra tác phẩm cuối cùng là
các cơ cấu đó Tuy nhiên, điều quan tâm của thiết kế tổ chức không chỉ là tạo ra cơ cấu - tức phân chia các hoạt động và hình thành các bộ phận mà quan trọng hơn là xác định các
mối quan hệ, cơ chế phối hợp giữa các bộ phận đó với nhau
Sản phẩm của thiết kế tổ chức chính là một sơ đồ bố trí các
bộ phận và mối quan hệ giữa các bộ phận đó với nhau
+? Xem Management S Robbins, 1994, trang 251
254
Trang 3“Thông qua sơ đồ bố trí các bộ phận và mối quan hệ càng
có thể tìm kiếm được những yếu tố chưa hợp lý của cơ cấu tổ
chức để điều chỉnh
Trong chương I đã nghiên cứu nhiều cơ cấu tổ chức Nét
đặc trưng chung của việc thiết kế cơ cấu tổ chức đó đều xoay quanh 8 yếu tố quan trọng sau:
1 Phân công lao động Đó là quá trình hình thành các công đoạn khác nhau để thực thi một công việc, tạo ra một sản phẩm và các công đoạn đó được trao cho mỗi một người cụ thể với mức độ chuyên môn hóa cao
2 Thống nhất chỉ huy Đây là một trong những nguyên tắc
được quan tâm khi thiết kế Mỗi cấp dưới chỉ nghe mệnh lệnh trực tiếp của một cấp trên trực tiếp và chỉ có một
người trực tiếp phải báo cáo và chịu trách nhiệm trước
người đó
3 Quyền hạn và trách nhiệm Đó là quyền của những người
ở từng vị trí trong tổ chức được quyền làm (đưa ra các quy định) và những người khác phải tuân thủ Trong khi đó
trách nhiệm là những gì người nắm giữ vị trí đó phải làm
4 Không gian kiểm soát: Tức khả năng kiểm soát hoạt động của các đầu mối cấp dưới
ð Phân chia thành các bộ phận: Phân chia thành các bộ phận tuỳ thuộc vào mục đích, chức năng, sản phẩm, khách hàng
Ngoài 5 nội dung mang tính truyền thống phải quan tâm trong thiết kế tổ chức, cách thức tiếp cận mới trong thiết
kế tổ chức cần quan tâm đến một số yếu tố sau:
6 Môi trường trong đó tổ chức tổn tại Môi trường được chia thành hai nhóm yếu tố: Môi trường bên trong và môi
255
Trang 4trường bên ngoài Môi trường bên trong của một tổ chức
bao gồm những yếu tố như con người, công nghệ, nhiệm vụ
và chính bản thân cơ cấu tổ chức Môi trường bên trong này biểu hiện những điểm mạnh, yếu của tổ chức Đồng thời thể hiện mục tiêu, mục dích, giá trị của tổ chức Môi trường bên ngoài của tổ chức có thể là những yếu tố về
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Các yếu tố này tạo nên
cơ hội, thách thức đối với từng tổ chức Môi trường bên trong, bên ngoài của tổ chức luôn thay đổi và đó cũng chính là nguyên nhân đòi hỏi cơ cấu tổ chức phải có những
sự thay đổi
7 Quy mô của tổ chức quyết định việc lựa chọn cơ cấu tổ chức hợp lý Tổ chức càng lớn, mức độ chuyên môn hóa, sự phân biệt giữa các nhóm theo cơ cấu ngang, thẳng đứng sẽ khác
hóa cao, sản phẩm mang tính cơ khí hay thủ công
Thiết kế và các nhà thiết kế phải nghiên cứu 8 yếu tố trên, đặc biệt các nhóm yếu tố có mức độ biến đổi cao để có
được mô hình cơ cấu tổ chức hợp lý
Các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước chịu sự tác
động rất lớn của các yếu tố môi trường do tính quy mô của
các tổ chức hành chính Do đó, yếu tố môi trường luôn là
thách thức đối với các nhà thiết kế cơ cấu tổ chức các cơ quan
hành chính nhà nước
256
Trang 52 Quan điểm thiết kế tổ chức
Nghiên cứu các quan điểm thiết kế tổ chức các cơ quan
hành chính nhà nước xuất phát từ việc nghiên cứu các quan
điểm có tính chất chung cho mọi cơ quan và những quan
điểm riêng đối với các cơ quan hành chính nhà nước
2.1 Quan diém chung
2.11 Sự hình thành cơ cấu tổ chức được bắt đầu từ uiệc
phân tích mục tiêu phát triển tổ chức
Theo cách tiếp cận này, sự hình thành tổ chức xuất phát
từ việc xác định mục tiêu, phương hướng phát triển, trên cơ
sở đó tập hợp những hoạt động cụ thể, các yếu tố của cơ cấu
tổ chức, tiến hành xác lập mối quan hệ qua lại giữa hoạt
y Đây là cách tiếp cận đi từ tổng thể đến chỉ tiết Lối diễn giải này thường ứng dụng đối với những đối
tượng là các tổ chức đang hoạt động và việc thiết kế này xảy
động và các yếu tí
ra trong ba trường hợp sau:
- Thiết kế nhằm cải tiến, hoàn thiện, đổi mới tổ chức hiện có
- Thiết kế khi có nhu cầu sáp nhập, hợp nhất, nâng cấp,
hạ cấp các tổ chức hiện hành
- Thiết kế chia tách hoặc chuyển đổi tổ chức hiện hành
thành các tổ chức với chức năng, nhiệm vụ mới
9.1.2 Tổ chức được thiết hế trên cơ sở quy nhóm các hoạt
Trang 6là cách tiếp cận đi từ chỉ tiết đến tổng thể Theo cách tiếp cận
này, thiết kế tổ chức bao gồm các hoạt động mang tính chu trình sau;
- Xác định mục tiêu của tổ chức
- Xác định nhiệm vụ để thực hiện mục tiêu
- Phân nhóm các nhiệm vụ, khái quát, hình thành nên chức năng chính của tổ chức
- Xác định cơ cấu phối hợp các nhóm chức năng
- Xác định nhu cầu về các nguồn lực và các tiêu chuẩn
và quan điểm thứ hai Cách tiếp cận này bắt đầu từ việc định
hướng nhằm hình thành hoặc hoàn thiện tổ chức với một cơ cấu tổ chức tổng quát, sau đó mới tiến hành công việc nghiên cứu, phân tích chỉ tiết cho từng bộ phận trong cơ cấu Cách tiếp cận này giúp tránh khỏi sự thái quá khi thiết kế tổ chức:
Quá thiên về tổng thể mà bỏ qua việc xác định nội dung chỉ
tiết cho các bộ phận thực hiện chức năng cụ thể hoặc quá chỉ
tiết đối với các hoạt động nhưng lại không nhìn thấy tính
toàn diện của từng hệ thống
3.2 Các quan điểm riêng đối uới các cơ quan hành
chính nhà nước
Các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước có những nét đặc trưng phân biệt với các loại hình tổ chức khác nên quan điểm thiết kế tổ chức hành chính nhà nước cần chú ý là:
258
Trang 7
>e¢ quan hành chính nhà nước được thành lập trên cơ
sở pháp lý, do hệ thống văn bản pháp luật nhà nước quy định, Không có một cơ quan nào được thành lập mà không
có một cơ sở pháp lý quy định
Ø Phân công, phân cấp hoạt động quản lý hành chính nhà nước được pháp luật quy định, do đó chức năng, nhiệm vụ của từng loại cơ quan cũng được pháp luật quy định
Nhân sự của cơ quan hành chính nhà nước chịu tác động của nhiều yếu tố, đặc biệt các yếu tố mang tính chính trị
4 Mục tiêu của các tô chức hành chính nhà nước nói riêng và
các tổ chức nhà nước nói chung thường khó cụ thể: khó đo
1 Lý thuyết quản trị khoa học
Nền tảng khoa học thiết kế tổ chức là học thuyết về quan trị khoa học của F.W Taylor Theo ly thuyét nay, mục tiêu duy nhất của tổ chức là hiệu quả Để đạt được hiệu quả, việc phân tích, mô tả từng đầu công việc để bố trí
và phân công lao động cho hợp lý phải dựa trên những
nguyên tắc khoa học
Tổ chức được mô tả trong lý thuyết Taylor như là một hệ thống trong đó sự phối hợp giữa các bộ phận và con người với
trình độ văn hóa, phong tục, tập quán, kiến thức và kỹ năng
hoàn toàn khác nhau Song, một điều đáng tiếc là các tổ chức của Taylor hoạt động như những cỗ máy Yếu tố con người,
sự đa đạng trong lao động hoàn toàn bị lãng quên trong khi
259
Trang 8người ta chỉ chú trọng đến lập kế hoạch, công tác kế toán, phân công chuyên môn hóa lao động, kiểm tra và đánh giá kết quả thực thi
2 Lý thuyết các mối quan hệ con người
Sự không hoàn thiện của Taylor trong việc động viên, thúc đẩy mọi người trong tổ chức đã được phân tích và giải
đáp khá rõ ràng trong những giả thuyết về tổ chức từ góc độ các mối quan hệ con người
Ngay từ những năm 30, Chester Barnard - một nhà kinh doanh đã rút ra kinh nghiệm từ công việc kinh doanh của mình rằng tổ chức là một cộng đồng, trong đó, mọi người đều
có những mối liên hệ khăng khít và phối hợp với nhau chứ không phải như là một cỗ máy Con người trong tổ chức, vì
thế, cÂn phải được thuyết phục để cùng đạt được mục đích chung Quyền lực không phải nằm trong tay cấp trên mà
xuất phát từ các thành viên trong tổ chức Theo lý thuyết này, các nhóm không chính thức trong một tổ chức đóng vai
trò quan trọng Chúng ảnh hưởng không nhỏ đến bầu không
khí tâm lý, đến văn hoá và hiệu quả của tổ chức Trường phái này kêu gọi các nhà quản lý phải đặc biệt chú trọng đến trái tim và khối óc của mọi người trong tổ chức nếu muốn đạt
được hiệu quả quản lý cao
3 Lý thuyết tổ chức thư lại (quan liêu): Các nguyên tắc, trật tự và thủ tục
Max Weber viết về tổ chức thư lại ở Đức từ 1910, song cho tới những năm 40 cuốn sách của ông mới được dịch sang tiếng Anh và đã gây nên những cuộc tranh luận ở Mỹ và các nước nói tiếng Anh lúc bấy giờ
260
Trang 9Max Weber da m6 ta kha ty my vé hệ thống mô hình của một tổ chức thư lại Ông khẳng định sự cần thiết của nó trong bất kỳ một xã hội nào Theo ông, tất cả các tổ chức đều
phải cần đến những bộ phận quan liêu như vậy Trong tổ
chức quan liêu (thư lại) bao giờ cũng tồn tại: Một hệ thống
thứ bậc rõ ràng; sự phân công lao động có hệ thống và mọi
hoạt động trong tổ chức đều tuân theo các điều luật, qui tá qui định rõ ràng Đây là một lý thuyết hấp dẫn về tổ chức, một lý thuyết bảo vệ một mô hình tổ chức mà trong đó tất cả
các thành viên đều quan tâm đến vị
việc trong phạm vì trách nhiệm của mình và thụ động tuân theo các nguyên tắc, luật lệ
xí của mình, thích làm
4 Lý thuyết quyền lực và mâu thuần
Theo Philip Selznick”, các tổ chức đều không thuận lợi như chúng ta tưởng Trong mỗi tổ chức, theo ông, đều tổn tại những bộ phận với những mục tiêu và lợi ích khác nhau
và họ luôn luôn có xu hướng đấu tranh bảo vệ chúng Vì
vậy, khi nghiên cứu, phân tích một tổ chức người ta cần chú trọng tới quá trình ra các quyết định của tổ chức, bởi trong các quyết định của tổ chức bao giờ cũng thể hiện
những biện pháp giải quyết các mâu thuẫn và cân bằng quyển lực, quyền lợi giữa các bộ phận và các nhóom khác
nhau Mỗi một tổ chức đều có những tiếng nói riêng và
những đặc thù riêng thông qua các phương thức giải quyết
các mâu thuẫn và đưa ra các quyết định
“" Xem chỉ tiết tư tưởng vẻ quyền lực và mâu thuẫn trong "Leadership and
Administration”, Evanston III Row Peterson, 1957 của Philip Selznick
261
Trang 10ð Lý thuyết công nghệ
Sự áp dụng công nghệ trong công việc đã tạo ra sự khác nhau lớn giữa các tổ chức Các hoạt động mang tính chất thụ động, máy móc, dập khuôn và ít linh hoạt, thường phù hợp với những tổ chức quan liêu hơn là những hoạt động mang tính chất năng động và trong môi trường luôn thay
Cách tiếp cận này đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của môi trường tổ chức và kết luận rằng một môi trường ổn định cần một tổ chức quan liêu trong khi một môi trường luôn siến động lại cần một kiểu tổ chức linh hoạt để dễ dàng đối phó với những thay đổi
6 Lý thuyết hệ thống
Cách tiếp cận này xem các tổ chức như những hệ thống
mở Hệ thống này huy động tất cả các nguồn lực của tổ
chức, xử lý và thay đổi chúng nhằm phục vụ mục tiêu chung của tổ chức
Theo thuyết hệ thống, tất cả các sự vật đều liên quan
và gây ảnh hưởng lẫn nhau Mỗi một hệ thống đều 14m
trong một hệ thống lớn hơn và tất cả đều không thể tổn tại
một cách riêng biệt Cũng giống như cách tiếp cận trên,
cách tiếp cận này đặc biệt nhấn mạnh vai trò của môi
trường tổ chức cũng như vai trò, vị trí, tầm quan trọng của
từng yếu tố riêng biệt
7 Lý thuyết thể chế
Các nhà xã hội học và nhân chủng học đã khẳng tịnh rằng mỗi một tổ chức là một mô hình tế bào của lịch sử Miỗi một tổ chức đều tổn tại trong một môi trường có những đặc
trưng, mục đích và phong cách hoạt động riêng
262
Trang 11Theo lý thuyết này, các tổ chức về bản chất đều không
phong cách làm việc riêng, tất nhiên chúng đều không phải
là duy nhất và tối ưu nhất Điều quan trọng là chúng phù hợp với sự tổn tại và phát triển của tổ chức theo các tập quán, truyền thống tốt đẹp đã được tạo lập trong quá khứ
Các trường phái lý thuyết trên đều thể trở thành
những căn cứ quan trọng để thiết kế các tổ chức Mỗi một tổ
chức được thiết kế phải phù hợp với môi trường, loại hình
hoạt động, chức nàng và nhiệm vụ mà nó phải gánh vác, vì
ây đủ các yếu tố
vậy không phải tất cả các tổ chức đều mang
bản chất như đã nêu trong các trường phái lý thuyết trên Các tổ chức hành chính mang nhiều tính chất của mô hình
thư lại, thể chế trong khi các tổ chức doanh nghiệp lại thiên
về những tính chất quản lý khoa học Tuy nhiên, dù tổ chức
là hành chính hay kinh doanh, chính thức hay phi chính thức thì thuyết hệ thống, các mối quan hệ con người 0à công nghệ đều phải được xem là những căn cứ khoa học khi
thiết kế và hoàn thiện thiết kế tổ chức
II CÁC PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC THIẾT KẾ TỔ CHỨC
1 Các phương pháp thiết kế tổ chức
€ó nhiều phương pháp thiết kế tổ chức Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể có thể áp dụng một phương pháp nhất định
263
Trang 12
Hiện nay, thiết kế tổ chức thường áp dụng hai phương pháp thiết kế: Phương pháp tương tự và phương pháp phân tích 1.1 Phương pháp tương tự
Đây là phương pháp thiết kế tổ chức mới, dựa vào việc
thừa kế những kinh nghiệm thành công, gạt bỏ những yếu tố
bất hợp lý hoặc không tương thích của một tổ chức có sẵn
Việc lựa chọn một tổ chức tương tự cần tuân theo những tiêu
chuẩn nhất định Chẳng hạn, thiết kế thành lập một Bộ mới
- trước hết Bộ mới thành lập này là cơ quan quản lý nhà nước
của chính phủ trên một lĩnh vực mới Bộ đó, phải thực hiện
những nội dung quản lý nhà nước đích thực, đặc trưng với
những chức năng có tính luật định như:
- Xây dựng thể chế, quy hoạch, kế hoạch, chiến lược trình Chính phủ
- Xem xét, hướng dẫn, hỗ trợ dự án và sáng kiến của dân, của tổ chức và tổ chức xã hội phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội bằng một cơ chế hiệu quả
- Trực tiếp thực hiện một số nhiệm vụ bắt buộc, không thể ủy thác hoặc xã hội hóa
- Quần lý cơ quan sự nghiệp công, cung cấp dịch vụ cho
dân
- Thanh tra toàn bộ xã hội trên lĩnh vực mà Bộ quản lý Như vậy, trong cơ cấu tổ chức, sẽ có các vụ như: Vụ quy
hoạch, kế hoạch, Vụ xây dựng thể chế hoặc Vụ pháp chế, Vụ
thanh tra, Vụ tổ chức cán bộ Các cục quản lý chuyên ngành
mà Bộ có sẵn được chia ra quá nhỏ, chuyên ngành quá sâu,
không hướng theo lĩnh vực tổng hợp và rộng thì không thừa
kế, cần loại bỏ
264
Trang 13Ưu điểm nổi bật của phương pháp thiết kế tổ chức này là quá trình hình thành để án tô chức nhanh, chỉ phí thiết kế it, thừa kế có phân tích những kinh nghiệm quý báu của quá khứ Tuy nhiên, luôn luôn ngăn ngừa sự sao chép máy móc kinh nghiệm, mà môi trường hiện tại và dự báo tương lai không thể chấp nhận dược Phương pháp thiết kế tổ chức này
đã được áp dụng khá phổ biến ở nhiều nơi, nhiều nước trên
thế giới
1.3 Phương pháp phán tích
Đây là một phương pháp khoa học được ứng dụng rộng
rãi cho mọi cơ quan hành chính nhà nước Để thiết kế cơ
quan hành chính cấp Bộ hoàn chỉnh cần phải;
- Phân định rõ ràng thuật ngữ "nhiệm vụ" với thuật ngữ
"chức năng" Nhiệm vụ là việc cần phải đạt tới, còn chức
năng là những hành động cần phải làm để thực hiện tốt
nhiệm vụ
- Ngăn ngừa sự chồng chéo trùng lặp chức năng, Bộ có
quá nhiều việc, Bộ quá ít việc thì cần phải phân chia các Bộ
thành trục ngang; chia các cấp độ chức năng và quản lý rõ
ràng từ cao đến thấp (định chế hoạch định chính sách - tư
vấn và hỗ trợ, giám sát - sản xuất hàng hóa công cộng - phân
phối hàng hóa công cộng) Nếu hai tổ chức cùng sản xuất một
loại sản phẩm, cùng địa bàn thì hai tổ chức đó có nhiệm vụ
và chức năng giống hệt nhau và dẫn đến sự chồng chéo lên
nhau Ngoài ra, cũng cần mô tả chỉ tiết bản chất các chức năng; chức năng độc lập tương đối, chức năng tầm vĩ mô và
vi mô, chức năng tổng hợp
- Trên cơ sở đó lựa chọn tên của cấu trúc Bộ như Ban, Vụ, Cục, Văn phòng đại diện
265
Trang 14- Từ đó đưa ra những đặc điểm tên tổ chức về chức năng
chính, chủ yếu; cơ cấu lãnh đạo; cơ cấu quản lý và các mối
quan hệ tổ chức
Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, để bộ
máy hoạt động nhịp nhàng, cân đối, có hiệu quả là phải phân
tích bản chất và sắp xếp tốt các chức năng theo trình độ yêu
cầu chất lượng công việc Một số nội dung chức năng sau đây
cần phân tích:
- Tư vấn về chính sách;
- Hình thành đường lối, quan điểm, chính sách;
- Triển khai thực hiện chương trình, dự án, cụ thể hóa
chính sách;
- Điều phối chương trình, dự án;
- Giám sát chương trình, dự án;
- Đánh giá chương trình, dự án;
- Nghiên cứu phát triển chính sách;
- Phát triển và duy trì hệ thống thông tin;
- Thực hiện các dịch vụ công cộng;
- Xây dựng quy chế hướng dẫn chuyên môn - nghiệp vụ;
- Thúc đẩy và phát triển thị trường;
- Phân phối dịch vụ và sản xuất hàng hóa công
Các chức năng nói trên gắn liền với các phạm vi hoạt động:
1 Diện hoạt động theo ngành (toàn ngành, tiểu ngành, chuyên ngành)
9 Diện hoạt động theo địa lý (toàn quốc, khu vực, tiểu khu vực hoặc ngoài lãnh thổ quốc gia)
266
Trang 15Thực hiện chức nàng của cơ quan hành chính phải gan
Loại quyền tương tự như quyển lập pháp;
- Loại quyền tương tự như quyền tư pháp;
- Loại quyền chỉ đạo, điều hành:
- Loại quyền triển khai;
- Loại quyền giám sát:
- Loại quyền cố vấn;
- Loại quyền trợ giúp
2 Các hình thức thiết kế tổ chức
Như đã nêu trong phần khái niệm thiết kế tổ chức, thiết
kế tổ chức là nhằm tìm ra một cơ cấu tổ chức hợp lý nhất của
tổ chức để thực hiện được mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của
tổ chức đã vạch ra Do đó, thiết kế tổ chức có thể đi từ thiết
kế một tổ chức mới; thiết kế điều chỉnh cơ cấu tổ chức đến thiết kế lại tổ chức trên cơ sở sáp nhập hai hay nhiều tổ chức
để tạo nên một tổ chức mới và tách một tổ chức đang có thành hai hay nhiều tổ chức độc lập Mỗi một loại thiết kế tổ chức đều có những nét chung của lý thuyết xác định cơ cấu tổ
chức, đồng thời do đặc trưng của tổ chức nên có những dấu
hiệu riêng
3.1 Thiết kế tổ chức mới
Thiết kế tổ chức mới là loại thiết kế cơ bản, thường được
xây dựng thành quy trình nhiều bước:
Bước 1; Luan chứng sự cần thiết khách quan sự hình
thành tổ chức mới Đây là bước quan trọng, chứng minh được
267
Trang 16
sự hợp lý của việc hình thành tổ chức mới: Liệu xã hội có nhu cầu thực không? Tổ chức ra đời là để giải quyết vấn để bức xúc trong lĩnh vực hiện hành?
Ví dụ: Năm 1998 Bộ Tài chính khởi xướng việc thành lập
cơ quan kiểm toán nhà nước Việc hình thành một cơ quan nhà nước mới như cơ quan kiểm toán vào khởi điểm đó phải giải trình ba vấn đề:
- Kiểm toán là gì? Tại sao đã có cơ quan thanh tra tài
chính lại vẫn cần thành lập cơ quan kiểm toán?
- Phân biệt chức năng kiểm toán và chức năng thanh tra
tài chính như thế nào?
- Xác định phạm vi hoạt động của cơ quan kiểm toán?
Từ năm 1988 - 1991, đã tiến hành nghiên cứu, thu thập
và xử lý thông tin Để tăng tính thuyết phục chứng minh sự
cần thiết khách quan, sự hình thành tổ chức mới này, đã thí điểm thành lập tổ chức kiểm toán, mời một số hãng kiểm
toán quốc tế sang Việt Nam Tổ chức hội thảo, giới thiệu
hoạt động kiểm toán, quy trình kiểm toán, tiêu chuẩn kiểm toán viên
Trên thực tế, do nhiều yếu tố tác động mang tính chính trị, một số tổ chức nhà nước, hành chính ra đời nhưng chưa
đủ luận cứ khoa học cho sự cần thiết
Bước 2: Xác định tính hợp pháp của tổ chức: Liệu tổ chức
ra đời có hợp pháp không? Đây là bước xác định đường lối, quan điểm của Đảng cầm quyền, các văn bản pháp lý có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của tổ chức, đến chế độ, chính
sách, chế độ của nhà nước liên quan trực tiếp và gián tiếp
đến việc thành lập tổ chức mới
268
Trang 17Về nguyên tắc nội dung của bước hai đảm bảo việc thiết
kể tổ chức nằm trong khuôn khổ của thể tô chức, cho
phép khởi thảo về cơ quan lãnh đạo, cơ cấu giúp việc, cơ chế
hoạt động, đội ngũ công chức
Bước 3: Điều tra, khảo sát, xác định mục tiêu và thẩm quyền tổ chức mới Đây là bước quan trọng để lựa chọn cơ
cấu tổ chức,
Thiết kế tổ chức hành chính là công việc tốn rất nhiều
công sức, tiền của và thời gian Thiết kế cơ quan kiểm toán từ
năm 1988 đến năm 1994 Chính phủ mới ra Nghị định số 70 -
CP ngày 11/7/1994 về thành lập cơ quan kiểm toán nhà nước Việt Nam
Bước 4: Xác định cơ cấu tổ chức Trên cơ sở của những
phân tích trên, việc xác định một cơ cấu tổ chức phù hợp để đạt được mục tiêu của tổ chức là quan trọng
Bước 5: Dự thảo đề án tổ chức cơ cấu tổ chức
Việc thiết kế một đề án tổ chức nói chung và tổ chức cơ quan hành chính nhà nước nói riêng, cũng bao gồm các khoản mục sau:
1 Mục đích, ý nghĩa thành lập tổ chức
Điều kiện thành lập (khách quan, chủ quan)
Tên gọi, địa điểm cơ quan
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
Địa vị pháp lý
Cơ cấu tổ chức, chức danh, định biên
Cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị
Trang 1810 Dự báo thuận lợi, khó khan khi triển khai thực hiện
11 Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền
Trong các khoản mục trên thì cơ cấu tổ chức, chức danh
và định biên là phức tạp nhất, đòi hỏi cần phải được :ính toán một cách chỉ tiết
Bước 6: Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan có liên quar, tổ
chức hội thảo, tọa đàm khoa học, trưng cầu ý kiến chuyêr gia
để sửa chữa, nâng cao chất lượng đề án Đây cũng là bước quan trọng trong thiết kế tổ chức, nâng cao tính khoa học của dự án là một giai đoạn chuẩn bị quan trọng trong việc đưa tổ chức vào hoạt động Bất cứ tổ chức hành chính ao, cũng có những chức năng liên quan với chức năng của mét số
cơ quan khác Lấy ý kiến rộng rãi cũng là cách thức nhằm hạn chế (xoá bỏ) trùng lặp, chẳng chéo, tạo bầu không khí
thuận lợi cho sự hợp tác và phối hợp giữa các cơ quan lành chính nhà nước
Bước 7: Chỉnh lý, trình dự án, bảo vệ dự án và quyết định
thành lập tổ chứ cơ quan có thẩm quyền
Một kinh nghiệm quan trọng ở bước này là tờ trình thành lập tổ chức phải tóm lược quá trình xây dựng đề án, những
thuận lợi và một số khó khăn, kèm theo giải pháp Những vướng mắc thuộc vào phạm vi pháp lý đòi hỏi những vănbản
bổ sung và đôi khi phải chờ đợi, trình văn bản hàng năm mới
có nghị định thành lập (cơ quan thuộc Chính phủ)
Bước 8: Xây dựng điều lệ tổ chức và hoạt động để trìn cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
Tùy theo địa vị pháp lý của tổ chức, sau khi có rghị định thành lập, phải tiến hành xây dựng điều lệ tổ đức
và hoạt động để cơ quan có thẩm quyển cấp trên ra quyết định ban hành Khoảng cách thời gian giữa nghị ánh 270
Trang 19thanh lập và quyết định ban hành điều lệ tổ chức có khi kéo đài hàng năm
Bước 9: Triển khai quyết định thành lập và quyết định ban hành điều lệ tổ chức
Bước triển khai tổ chức gồm nhiều công việc cụ thể:
+ Quyết định nhân sự:
+ Đăng ký con đấu
+ Mỏ tài khoản:
+ Đăng ký chữ ký lãnh đạo;
+ Thông báo thành lập đến các cơ quan liên quan;
+ Xây dựng chương trình công tác;
+ Lập dự toán kinh phí;
+ Xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị;
+ Bố trí chức danh, tuyển chọn, đào tạo nhân sự;
+ Xây dựng quy chế, nội quy hoạt động cho từng lĩnh vực, từng bộ phận cơ quan;
+ Thiết lập mối quan hệ công tác
9.9 Thiết kế hoàn thiện tổ chức
Nội dung cơ bản thiết kế hoàn thiện tổ chức trong trường hợp này bao gồm các vấn để sau đây:
Một là: Tiến hành đánh giá một hoạt động tổ chức gắn
liền với đổi mới Muốn vậy, phải tiến hành phân tích tổ chức hiện hành:
- Phân tích tình hình thực hiện các chức năng đã quy định cho từng bộ phận, từng chức danh của đội ngũ cán bộ
sông chức, phân ra những chức năng, chức danh thực hiện
chức năng tốt, đạt và không đạt, nguyên nhân của từng tình huống
271
Trang 20- Phân tích khối lượng công vụ thực tế mà mỗi bộ phận,
mỗi cá nhân đảm trách, phân loại theo mức độ khối lượng và xác định nguyên nhân
- Phân tích chức năng cho từng bộ phận, từng cá nhân, mối quan hệ ngang, dọc trong tổ chức
- Phân tích việc phân chia quyển hạn và trách nhiệm, phân loại mức độ thực hiện quyền hạn trách nhiệm và xác định nguyên nhân
- Phân tích tình hình tăng giảm, giảm số lượng công chức, mức độ đảm nhiệm khối lượng công tác, phát hiện các nhân
tố tích cực và tiêu cực trong quản lý nhân sự
- Phân tích trình độ, kỹ năng, kỹ xảo công chức so với yêu cầu của công cuộc đổi mới
- Phân tích điều kiện và phương tiện làm việc, những nhân tố tổ chức, nằm ngoài sự điều chỉnh, kiểm soát của cơ quan
Hai la: Định hướng những mặt, những khía cạnh cần đổi
mới, hoàn thiện tổ chức Chẳng hạn, sau khi phân tích, rút
ra được những kết luận mang tính chất chỉ đạo cho đổi mới,
hoàn thiện tổ chức đó là:
- Xiết chặt chế độ thủ trưởng và trách nhiệm cá nhân
- Điều chỉnh để cân bằng những nhiệm vụ với quyền hạn
cần phân bổ và phân cấp lại chức năng
- Bổ sung một số chức năng đã bị bỏ sót và loại bỏ một số chức năng đã trùng lặp
- Cần rút gọn thang bậc quản lý, giảm bớt đầu mối
- Điều chỉnh cơ cấu tổ chức hiện có đối với một số bộ phận
không còn khả năng thích nghỉ với sự thay đổi của môi
trường trong nước và quốc tế
272
Trang 21Ea là: Chuẩn bị một văn bản quyết định đổi mới tổ chức,
kế hoạch triển khai
Trong văn bản này là những vấn để thuộc thẩm quyền
của :ở quan, quyết định rõ những nội dung đổi mới tổ chức,
dự tnh mặt có lợi và những hậu quả có thể có và các giải
“hiết kế sáp nhập hai hay nhiều tổ chức thành một tổ
chức cần quan tâm các bước sau:
1 Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của hai (nhiều) đơn vị đang tồn tại trước khi sáp nhập
£ Mục tiêu của việc sáp nhập
¡ Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mới
Hình 5.1: Hợp nhất hai đơn vị thành 1 đơn vị mới
4 Những loại chức năng, nhiệm vụ nào từ các đơn vị trướ: khi sáp nhập được chuyển vào tổ chức mới
£ Cơ cấu tổ chức đơn vị mới: Bao nhiêu phòng, ban, cục,
vụ (ên gọi tùy thuộc vào từng loại đơn vị tổ chức)
273
Trang 226 Các đầu mối từ các tổ chức trước sáp nhập được chuyển
sang
7 Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng đầu mối
8 Xác định kế hoạch sử dụng nguồn nhân lực của tổ chức (người nào tiếp tục, người nào phải thuyên chuyển, người nào
phải thực hiện); kế hoạch đào tạo, bổi dưỡng
9 Xác định địa điểm chính của tổ chức mới
10 Làm các thủ tục liên quan đến việc đăng ký tổ chức
mới (dấu, tài khoản, chữ ký )
Thiết kế hợp nhất hai hay nhiều cơ quan tổ chức thành một tổ chức mới là một công việc phức tạp Đó không phải là
phép "hợp" đơn thuần Chính vì vậy, một số chức năng,
nhiệm vụ trước đây của các tổ chức không được chuyển thành
chức năng, nhiệm vụ (mới) của tổ chức mới; đồng thời một số chức năng, nhiệm vụ được giao thêm
Do sáp nhập không phải là phép cộng đơn thuần nên một
trong những vấn đề phức tạp nhất khi thiết kế hợp nhất là tìm kiếm phương án tối ưu vấn đề sử dụng nguồn nhân lực, đặc biệt là những người có chức vụ lãnh đạo, quản lý trong
các tổ chức trước khi sáp nhập
Đối với những tổ chức thực hiện cơ chế làm việc theo
công việc, theo hợp đồng, việc giải quyết các vấn để liên
quan đến nhân sự theo quy định của hợp đồng Trong khi
đó, cơ chế làm việc theo mô hình chức nghiệp, bổ nhiệm, để
bạt mang tính thâm niên, vấn để sử dụng nguồn nhân lực
gặp khó khăn
Ví dụ: Sáp nhập hai bộ thành một Theo quy định
chung, mỗi bộ có các đơn vị văn phỏng, thanh tra, các cục,
vụ, viện Khi sáp nhập sẽ có: 2 chánh văn phòng > 1
274
Trang 23chánh văn phòng 4-6 Phó chánh Văn phong - 2-3 Phó
chánh văn phòng
Nếu như các Phó Chánh văn phòng mới đều là người mới, đôi hỏi phải giải quyết vấn để chính sách nhân sự cho 6-
8 chánh, phó văn phòng trước đây: hoặc phải giải quyết một
số trong số đó Ví dụ trên minh họa cho khó khăn phải giải
ự khi sáp nhập Khó khăn này làm cho cơ cấu
mới của tổ chức sau khi sáp nhập có một "độ trễ" để đi vào
am hiểu thiết kế mới
3.4 Thiết kế chia tách tổ chức thành hai hay nhiều tổ
Chia tách một tổ chức thành nhiều tổ chức là một quy
luật tất yếu của sự phát triển tổ chức Một tổ chức có quy mô
quá lớn cả về chức năng, nhiệm vụ cũng như nhân sự có thể không đem lại hiệu quả, đặc biệt, do năng lực quản lý của các
275
Trang 24nha quản lý khó có thể quản lý được một tổ chức có quy mô
quá lớn Tách tổ chức thành hai hay nhiều tổ chức có thể tạo
điều kiện để từng tổ chức hoạt động hiệu quả hơn
Tách tổ chức thành hai hay nhiều tổ chức, đòi hỏi phải
giải quyết các vấn đề:
1 Xác định việc chia tách chức năng, nhiệm vụ
w Xac định chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức mới
3 Xác định các cơ cấu tổ chức của đơn vị mới
4 Xác định chia tách nhân sự, tài sản
5 Xác định nhu cầu nhân sự
6 Xác định địa điểm đóng cơ quan
7 Xác định các thủ tục gắn liền với việc hoạt động của tổ chức (tài khoản, dấu, chữ ký)
Trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, tách một cơ quan hành chính nhà nước (Bộ, UBND tỉnh ) thành hai hay nhiều cơ quan mới (ngang cấp) thường chú ý:
1 Một trong hai (hay nhiều) tổ chức tách ra thường giữ nguyên địa điểm Ví dụ hai tỉnh tách ra, thủ phủ của tỉnh
trước khi tách trở thành một trong thủ phủ tỉnh mới
2 Xây dựng địa điểm làm việc mới cho đơn vị mới tách (văn phòng Bộ, thị xã mới UBND tỉnh đóng )
3 Giải quyết vấn để nhân sự
4 Giải quyết vấn đề cơ cấu tổ chức
5 Đối với các đơn vị hành chính lãnh thổ khi chia tách cần chú ý về mặt địa giới hành chính
6 Các thủ tục cần thiết để các đơn vị mới hoạt động (tài khoản dấu, chữ ký, trụ sở trang thiết bị )
276
Trang 25Chia tách tô chức là một hoạt động có tính quy luật của phát triển tổ chức, tuy nhiên là một quá trình tốn kém và có
thể xuất hiện nhiều vấn để đặc biệt là vấn để nhân sự Nếu
như sắp nhập sẽ là hiện tượng dư thừa "lãnh đạo" thì chia tách tổ chức lại là quá trình xuất hiện các vị trí mới để bổ
sung lãnh dạo Nhiều người hy vọng dược thăng tiến; đồng
thời cũng sẽ là cơ hội cho những người cơ hội, những người
muốn kéo bè cánh Các nhà thiết kế tổ chức cần xây dựng dược tiêu chí để phân chia nhân sự một cách hợp lý, để người
ở từng đơn vị phát triển tốt nhất năng lực của mình
Trong hệ thống các cơ quan nhà nước, có một số dạng chia
Định biên là xác định số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực
cần cho một tổ chức để tổ chức hoạt động đạt hiệu quả cao
nhất
Định biên phải trả lời được các câu hỏi sau:
- Tổ chức cần bao nhiêu người (số lượng)
- Loại người nào (chất lượng, chuyên môn, nghề nghiệ
3 ¬ ¬
Trang 26- Cơ cấu của nguồn nhân lực (bao nhiêu CV, CVC, CVCC;
cán sự, nhân viên )
Trong ngôn ngữ, định biên và số lượng biên chế của một
tổ chức thường được hiểu gần nhau Biên chế muốn nói đến
số lượng người được tuyển dụng vào làm việc trong tổ chức chính thức (biên chế chính thức) và biên chế tạm thời (hợp
đồng) Giao chỉ tiêu biên chế chính là giao định biên cho tổ chức đó
2 Vi tri của công tác định biên trong thiết kế tổ chức
Như đã nêu trên, thiết kế tổ chức (bao gồm cả thiết kế tổ
chức mới, thiết kế tách, nhập) bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó có thể quy thành ba nhóm:
- Nhóm định uiệc: Chức năng, nhiệm vụ cho từng công việc, nhóm công việc, cho từng tổ chức
- Nhóm định tổ chức: Xác định cơ cấu của tổ chức, các mối quan hệ có liên quan
- Nhóm định người ác định số lượng, cơ cấu nhân sự
Trang 27
- Định biên là cơ sở để xây dựng kế hoạch ngân sách tiền
lương, các chỉ phí xã hội khác có liên quan đến con người (chế
độ bảo hiểm, phúc lợi xã hội)
Mỗi một loại hình tổ chức đều có những nguyên tắc riêng
để xác định định biên của tổ chức mình trên cơ sở kết hợp
những nguyên tắc phổ biến khoa học chung cho các tổ chức
Trong các cơ quan quản lý nhà nước (Chính phủ, UBND các cấp) một số định biên (số lượng Phó Thủ tướng số lượng
Hộ trưởng Phó Chủ tịch, thành viên UBND) đã được luật
quy định Ví dụ, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, quy định số lượng Phó Thủ tướng là 3; Tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội Khoá XI, Nghị quyết quy định số lượng Bộ trưởng của chính phủ là 26
Định biên cho từng bộ phận (Bộ, các Sở, Ban, Ngành)
được quy định trong các văn bản pháp quy
Do điều kiện hoạt động của các tổ chức thay đổi nên công tác định biên xác định số lượng người cần thiết cho tổ chức
trong từng thời kỳ, là công việc quan trọng nhằm bổ sung thêm nhân sự cho chức năng nhiệm vụ mới; bổ sung những
người nghỉ hưu, bị sa thải
Định biên gắn liền với phân cấp quản lý nhân sự trong các cơ quan nhà nước Hàng năm, từng tổ chức nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng đều
phải xem xét, để nghị lại nguồn nhân lực của tổ chức mình
279
Trang 28để trên cơ sở đó xác định lại định biên cần thiết và tùy thuộc vào sự phân cấp quản lý để xây dựng kế hoạch bổ sung”)
8 Các yếu tố ảnh hưởng đến định biên
Như trên đã nêu, định biên là xác định số lượng và cơ cấu nhân lực cần cho một tổ chức để tổ chức đạt được mục tiêu đã vạch ra
Trong thiết kế tổ chức, mục tiêu là nền tảng rất cơ bản
cho việc thiết kế một cơ cấu chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và số lượng con người Xác định định biên phụ thuộc vào
các yếu tố sau:
a Quy mô hoạt động của tổ chức Quy mô được xác định
cả trên phương diện không gian lãnh thổ và quy mô các hoạt động
b Công uiệc cụ thể: Công việc phức tạp, có dung lượng nhiều hay ít sẽ quyết định số lượng, cơ cấu người
c Điêu kiện công nghệ ứng dụng: Công nghệ tiên tiến;
công nghệ lạc hậu, thủ công Sự thay đổi công nghệ đã tạo ra
sức đào thải người và đòi hỏi người có chất lượng cao hơn
d Múc độ chuyên môn hóa: Mức độ chuyên môn hóa càng
cao, đồi hỏi cơ cấu nhân sự càng chi tiết, khả năng thay thế
khó hơn
e Tính ổn định của tổ chức: Tổ chức càng ổn định càng có
ít cơ hội để xác định lại, bổ sung thêm biên chế
Trong môi trường hiện nay, do tác động của nhiều nhân
tố mang tính toàn cầu, khu vực; gây khủng hoảng kinh tế (Sự kiện 11/9; sự kiện ving vinh Pecxic; Sars ) lam cho
** Trong môn học "Nhân sự trong tổ chức hành chính nhà nước” nghiên cứu
phân cấp quản lý nguồn nhân lực
280
Trang 29nhiều tổ chức sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn
àm cho số lượng biên chế đã có Cát
trong việc duy trì v
giảm đã trở thành phổ biến
“Trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, cũng do
các yếu tố xã hội, quốc tế tác động nên không ít chính phủ rơi vào khủng hoảng trong việc thực thi các hoạt động quản lý nhà nước và nhiều vấn để như tách, nhập, giải tán, thành lập thêm bộ phận mới (Bộ An ninh Nội địa của nước Mỹ là ví dụ)
đòi hỏi vấn để nhân sự, định biên phải được quan tâm
4 Một số nguyên tắc cơ bản xác định định biên cho
các cơ quan quản lý hành chính nhà nước
Tổ chức nhà nước nói chung và tổ chức hành chính nhà nước nói riêng là những tổ chức có tính chất đặc biệt hơn so với các tổ chức khác Tính chất đặc biệt đó thể hiện cụ thể ở việc xác định định biên cho cả hệ thống nói chung và cho
từng cơ quan quản lý hành chính nhà nước nói riêng
Người lao động làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước là người của nhà nước, được nhà nước trao quyền lực (nhất định) để thực thi các công việc của nhà nước, được nhà nước trả công (lương, các chế độ khác); phải thực hiện
các công việc đó theo quy định của nhà nước (quy tắc, quy
chế ) Do đó, xác định định biên của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở phải tuân thủ những nguyên tắc cụ thể
Nguyên tắc pháp luật Định biên của cơ quan quản lý hành chính nhà nước do pháp luật quy định và chỉ được thực hiện theo đúng quy định đó Mợi sự vi phạm, bổ sung, thêm bớt đều vi phạm pháp luật và đó là định biên không hợp
pháp Nguyên tắc này áp dụng cho mọi tổ chức hành chính
nhà nước
281
Trang 30Vi du 1: Trong Hiến pháp, không quy định số lượng Phó Thủ tướng; số Bộ trưởng nhưng Nghị quyết của Quốc
hội chỉ đồng ý có 3 Phó Thủ tướng, 26 Bộ trưởng thì Chính
phủ phải tuân thủ trong việc xác định nhân sự cho cơ cấu
đó Nếu luật tổ chức Chính phủ quy định cụ thể số lượng
Bộ (Luật 1983) thì không thể có số Bộ trưởng lớn hơn số
lượng Bộ đã quy định trong luật Muốn thay đổi (tách, nhập) phải sửa đổi luật
Vi dụ 2: Nghị định 12/2001/NĐ - CP quy định số lượng đầu mối của Phòng (và gắn liền với số lượng đó là định biên
số Trưởng phòng) từ 8 - 10 đơn vị một huyện Tất cả các huyện, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mình để lựa chọn
8, 9 hay 10 phòng, nhưng không vượt quá 10 phòng (11) hay
định biên chức Trưởng phòng huyện không quá 10 người
Nguyên tắc pháp luật này bảo đảm tính thống nhất trong việc xác định cơ cấu tổ chức, định biên (các chức danh) cho từng cơ quan nhà nước; tránh tùy tiện thêm đầu mối Đó cũng là cơ sở để xây dựng các chính sách khác
Nguyên tắc có uiệc mới cần người: Nếu có công việc mới (xem phần mô tả công việc) xuất hiện mà không thể giao thêm cho một người nào đó trong tổ chức thì đòi hỏi phải có thêm "biên chế" để đảm nhận công việc này Nếu một công
việc trước đây chỉ do 1, 2 người đảm nhận, nhưng tính chất
công việc đó; quy mô công việc mở rộng, gia tăng, nếu không
bổ sung thêm người thì không thể hoàn thành nhiệm vụ
Nguyên tắc này nhằm ngăn chặn việc lợi dụng cơ quan nhà nước để đưa người vào một cách tùy tiện do thân, quen Nguyên tắc tương đồng thống nhất Nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm cho rằng, hệ thống các cơ quan quản
lý hành chính nhà nước được tổ chức theo thứ bậc bao gồm cả 282
Trang 31chiều dọc và chiều ngang Ở mỗi cấp hành chính (tỉnh) có
nhiều tổ chức (61 tỉnh và 61 UBND tỉnh) Về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của UBND tỉnh được quy định thống
ật tổ chức HĐND và UBND Do đó, định
biên (tương đối) của các tỉnh có tính tương đồng nhau Ví dụ
số lượng Sở (tương đương); số lượng Phó Chủ tịch tỉnh; số lượng biên chế
hất chung trong L
Nguyên tắc này bảo đảm cho các tổ chức địa phương (tỉnh) có thể thực thi các hoạt động quản lý hành chính nhà nước thống nhất trên các lĩnh vực chung nhất
Nguyên tắc có tính đến yếu tố đặc thủ Đây là nguyên tác thể hiện đặc trưng của hoạt động quản lý hành chính nhà
nước theo lãnh thổ Mỗi một vùng lãnh thổ có những nét đặc trưng riêng, đòi hỏi phải có người, có bộ phận đảm nhận nhiệm vụ quản lý đó Do đó, không thể máy móc, đập khuôn
tỉnh nào cũng phải có Sở Thủy sản Trong văn bản pháp luật,
nguyên tắc này thường để mở cho các địa phương để trình cấp có thẩm quyển xem xét, phê duyệt cơ cấu, tổ chức, chức
năng, nhiệm vụ và định biên
Nguyên tắc khoa học tổ chức nhà nước nói chung và
tổ chức hành chính nhà nước nói riêng có những nét đặc trưng riêng, nhưng khi xác định định biên (cũng như cả các giai đoạn thiết kế tổ chức) đều phải tuân thủ những nguyên
tác khoa học về tổ chức Xác định số lượng, cơ cấu nguồn
nhân lực của tổ chức hành chính nhà nước trong thiết kế tổ
chức phải tuân thủ những nội dung của kế hoạch hóa nguồn
nhân lực nói chung và nguồn nhân lực tổ chức hành chính nhà nước Đó là việc vận dụng các quy luật khách quan để xác định nhu cầu nguồn nhân lực; khả năng đáp ứng nguồn nlhan luc cha quốc gia, khu vực, quốc tế Nếu không quan tâm đến những nội dung đó, định biên chỉ là "bản vẽ"
283
Trang 325 Quy trình xác định định biên của tổ chức hành chính nhà nước
Xác định định biên của tổ chức hành chính nhà nước phụ thuộc vào việc thiết kế tổ chức đã nêu trên Đối với
việc thiết kế một tổ chức mới (bao gồm nhiều công đoạn)
thì xác định định biên phải đi từ những bước đầu tiên Trong khi đó, xác định định biên cho một tổ chức đã có, ở giai đoạn mở rộng, phát triển lại có những nét riêng Đối với hình thức tách, nhập, do chức năng nhiệm vụ có sự thay đổi (hoặc bổ sung) nên xác định định biên mang tính chất bổ sung (xác định lại)
Mặt khác, có nhiều loại tổ chức hành chính và được phân theo nhiều cấp khác nhau, để đảm bảo tính tương đồng, thống nhất và tính đặc thù, xác định định biên có thể tiến hành chung cho các loại tổ chức cùng cấp (Bộ) và xác định
định biên cho từng loại trong cùng một cấp (hệ số đặc thù)
Quy trình chung để xác định định biên của một tổ chức
chức hành chính nhà nước (nghị định hay quy định), nhưng
nhiều vấn để mới chỉ mang tính định hướng, chưa cụ thể Các nhà thiết kế tổ chức phải nghiên cứu, hiểu rõ chỉ tiết, nội
dung, chức năng, nhiệm vụ để xác định định biên
9 Trên cơ sở thiết kế cơ cấu tổ chức, phân tích, mô tả công việc của từng vị trí trong tổ chức theo cơ cấu tổ chức đã
có (nhóm công việc) Phân tích, mô tả công việc nhằm trả lời 284
Trang 33chc câu hỏi: công việc (nhóm công việc) đó cân bao nhiêu
người (số lượng): những loại người nào (cơ cấu)
3 Phân tích nguồn nhân lực hiện có của tổ chức theo
đưa ra các
từng nhóm công việc để tìm ra thừa, thiế
chính sách thuyên chuyển (đối với tổ chức mới không có giai đoạn này)
4 Xác định định biên chung cho tổ chức và định biên cho từrg nhóm công việc
5 Xác định các chính sách cần thiết để đáp ứng định biên chc tổ chức
bắc đảm có đủ số lượng và chủng loại nhân lực cần thiết
chc tổ chức nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu Đó cũng chíah là một trong những giai đoạn của kế hoạch hóa
Trén cơ sở các chính sách vĩ mô của nhà nước, cơ quan
quén lý nguồn nhân lực Trung ương phê chuẩn định biên
che ting co quan
Quy trình vĩ mô xây dựng định biên cho một cấp hành chíah bao gồm một số bước sau: (Ví dụ cho tổ chức hành chhíah nhà nước cấp tỉnh)
285
Trang 34a Xác định định biên chung cho một tổ chức hành chính nhà nước cấp tỉnh Việc xác định này dựa trên nhiều tiêu chí chung của cấp hành chính này
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức
- Số lượng các đầu mối và công việc
- Quy mô dân số bình quân của đơn vị hành chính (cấp
tỉnh); (cả nước có 80 triệu với 61 tỉnh bằng bình quân khoảng
1,3 triệu) Với quy mô dân số đó cần bao nhiêu biên chế
- Diện tích lãnh thổ bình quân: Bình quân mỗi tỉnh
khoảng 5,5 ngàn km? - số lượng biên chế bao nhiêu?
- Mức thu nhập bình quân đầu người 500 USD/người
- Mức tăng trưởng kinh tế bình quân chung cả nước:
7,8%/năm
- Mức độ đô thị hóa bình quân (cả nước): 21%
- Mức độ chung về nguồn lực (tỉ lệ bình quân các cấp học, ngành học )
- Mức độ phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội (tỉ lệ bình
quân trường học; bệnh viện; nước sạch; điện; nước )
Ví dụ: Luật tổ chức HĐND và UBND sửa đổi (1994) quy định định hướng cho việc tổ chức UBND; Nghị định
174 quy định cơ cấu tổ chức của UBND chung cho cả nước
bao gồm: Số lượng Phó Chủ tịch; Số lượng Uỷ viên UBND;
các Sở, ngành?),
b Xác định hệ số định biên cho từng đơn vị trong cùng một cấp
* Xem chỉ tiết Điều 1, Nghị định 174/Chính phủ ngày 29/9/1994 quy định cơ
cấu thành viên UBND và số Phó Chủ tịch UBND các cấp
286
Trang 35Đây là công việc tương đối phức tạp và đòi hỏi phải
ố điều chỉnh tối ưu
Nguyên tac cd ban để đưa ra hệ số điều chỉnh là tính chất
nghiên cứu cụ thể để đưa ra được hệ
- Mật độ dân cư của địa phương
- Mức độ phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với hoạt động
cung cấp dịch vụ của nhà nước
Hệ số điều chỉnh định biên cho các đơn vị hành chính trong cùng một cấp (cấp tỉnh), có thể dao động trong khoảng
1 <h<I1 (trong đó h gọi là hệ số điều chỉnh)
Trên thực tế của hoạt động quản lý nguồn nhân lực, hệ số
h thường lớn hơn hoặc bằng 1 (h > 1); không có trường hợp nào nhỏ hơn 1 Ví dụ, Nghị định 174 đã nêu trên, quy định
ngoại trừ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh đều có
(tối thiểu - chung) 1 Chủ tịch, 3 Phó Chủ tịch, 5 Uỷ viên Đối
với các tỉnh có số dân trên 1,õ triệu người, số lượng Uỷ viên
của Uỷ ban có thể lên đến 11 người (hệ số h = 1,2); gắn liền
với vấn để này sẽ gắn liền với cơ cấu tổ chức các ngành (Sở)
và biên chế (định biên) cho các Sở đó
287
Trang 36Chuong VI
HIỆU QUẢ TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Mục đích của việc nghiên cứu hiệu qua tô chức là để quản
lý và phát triển tô chức theo hướng mục tiêu đã được xác định Nghiên cứu hiệu qua tố chức nhằm chỉ ra:
- Những yếu tổ ảnh hưởng tới hoạt động của tổ chức trong mot tinh huong;
- Dự báo được những hậu quả có thểa
thay đổi của các yếu tố trên;
u nghĩa khác nhau Sự khác nhau cách hiệu có thê
1 Kết quả và hiệu quả
Kết quả là một sản phẩm (cuối cùng) được tạo ra của một,
tổ chức (sản xuất cung cấp địch vụ) Kết quả được lượng hóa
về số lượng chất lượng cũng như nhiều chỉ số đo khác
Bên cạnh thuật ngữ kết qua trong hoạt động quản lý
đụng thuật ngữ (effeeienD nhằm chỉ một hoạt động quản lý
289
Trang 37tạo ra một kết quả nhất định, nhưng được xem xét cả khía cạnh tác động của kết quả quản lý tạo ra Quyết định quản lý hành chính nhà nước có thể tạo ra một sản phẩm là tất cả người dân chấp hành, nhưng sự tác động của quyết định đó đến đời sống của người dân nói chung rất hạn chế, Trong trường hợp đó, hiệu lực của quyết định đạt ở mức độ thấp Trong khi đó, hiệu quả là một khái niệm mang tính chất
tương đối nhằm chỉ sự so sánh các hoạt động tạo ra những
sản phẩm với nhiều cách thức khác nhau và chi phi khác nhau Hiệu quả là một khái niệm nhằm xác định mức độ chỉ
phí đạt được hiệu lực đã nêu trên Nếu đạt được mức độ hiệu
lực như nhau, chi phí thấp hơn có nghĩa hoạt động có hiệu
quả hơn Nếu tiêu tốn một lượng lao động vật hóa và lao
động sống như nhau nhưng tạo ra nhiều sản phẩm (như nhau) thì hoạt động nào tạo ra nhiều sản phẩm hơn thì hoạt động đó có hiệu quả hơn
Trong hoạt động sản xuất, hiệu quả có thể được đo bằng:
- Giá thành của một đơn vị sản phẩm khi chất lượng của sản phẩm đó tương đương với các loại sản phẩm đo các đơn vị khác sản xuất ra;
- Năng suất lao động, tức số lượng sản phẩm được tạo ra trong một đơn vị thời gian tương ứng với chi phí như nhau về lao động sống và lao động vật hóa
Hiệu quả như đã nêu trên chỉ xem xét trên khía cạnh cụ thể của từng sản phẩm hoặc cho từng hoạt động cụ thể Một
sản phẩm tạo ra với chỉ phí thấp sẽ có hiệu quả cao
2 Hiệu quả tổ chức
Hiệu quả tổ chức hay tổ chức có hiệu quả được xem xét
mang tính tổng thể trên tất cả hoạt động của tổ chức
290
Trang 38Tổ chức với những tiêu chí cụ thể đặc trưng cho tổ chức
đã trình bày trong chướng 1, hiệu quả của tổ chức hay tổ
chức hiệu quả khi các tiêu chí đặc trưng cho tổ chức được thể
hiện một cách đầy đủ nhất
Trong quan điểm truyền thống, hiệu quả của một tổ chức thường được định nghĩa thông qua việc đạt được các mục tiêu
mà tổ chức đã để ra với chỉ phí tối thiểu, thấp nhất Cách
hiểu này đã được nhiều tổ chức cũng như các nhà lý luận
nghiên cứu và sử dụng để đánh giá một tổ chức hiệu quả Tuy nhiên, khái niệm chỉ phí thấp nhất, tối thiểu trong đánh giá hiệu quả của tổ chức đã có những sự thay đổi Trước đây
để đạt được mục tiêu tổ chức xem xét hay để xuất chỉ phí thường dựa vào chỉ phí thấp nhất Hiện nay, khái niệm chỉ
phí hợp lý đã được sử dụng thay thế cho chỉ phí thấp
Cách tiếp cận trên thường gắn liền với các hoạt động của
tổ chức Trong khi đó tổ chức đặt trong môi trường thường xuyên thay đổi cả các yếu tố bên trong và bên ngoài nên cách tiếp cận trên không phan anh hết hiệu quả hoạt động
của tổ chức
Hiệu quả của tổ chức trong cách tư duy mới được xem xét,
được định nghĩa không chỉ liên quan đến tổ chức mà còn gắn liển với sự vận động và phát triển cuả tổ chức trong môi
trường bên trong và bên ngoài tổ chức thay đối Tổ chức hiệu quả là tổ chức đạt được mục tiêu của tổ chức uà thích ứng
một cách tốt nhất uới sự thay đổi (môi trường)
Cách tiếp cận này của tổ chức hiệu quả không chỉ xem
xét tính hiện tại của tổ chức mà còn quan tâm cả đến tiểm năng phát triển của tổ chức, tức tính thích ứng của tổ chức đối với sự thay đổi
291
Trang 39II CÁC YẾU TỔ XÁC ĐỊNH MỘT TỔ CHỨC HIEU QUA
Trên nguyên tác chung, hiệu quả hoạt động của tổ chức
hay một tổ chức hiệu quả được xác định thông qua ba nhóm
yếu tố:
- Đạt được mục tiêu của tổ chức đã vạch ra;
- Duy trì được sự phát triển bền vững, ổn định của tổ chức
(bao gồm cả các vấn để về cơ cấu tổ chức; nhân sự tổ chức,
văn hóa tổ chức )
- Thích ứng với sự thay đổi của môi trường bên ngoài
thông qua việc điều chỉnh một cách hợp lý, khoa học các mục
tiêu của tổ chức
1 Đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra trong từng giai đoạn cụ thể (mục tiêu ngắn hạn, trước mắt, cụ thể; mục tiêu đài hạn, mục tiêu chiến lược) có thể lượng hóa thông qua một
số chỉ tiêu mang tính định tính uà định lượng như:
- Sản phẩm (số lượng ô tô được sản xuất, lắp ráp trong tháng, quý, năm );
: Số lượng lao động sống đã đầu tư cho một đơn vị sản phẩm:
- Năng suất lao độn
- Chi phí / giá thành trên một đơn vị sản phẩm
- Chất lượng của các loại sản phẩm được tạo ra (bao nhiêu
phần trăm được đánh giá chất lượng tốt; chưa tốt; phải làm
lại, không xuất xưởng )
292
Trang 40
chi phan ảnh sự bên vững của tô chức Thông thương nó được thê hiện băng những chỉ tiểu thê hiện các yêu tổ môi trường bên trong của tô chức, Một số tiệu chí sau cần quan tâm
- Bự vắng mat khong có ly do của công chức trong công sở
công Vụ:
- Số lượng người xin rời khỏi cơ quan, công vụ chuyển
sang ngành nghề khái
- Mức độ hài lòng của công chức đối với công vụ:
- Mối quan hệ giữa các thành viên trong tô chức với nhau
thông qua các biểu hiện xung đột mâu thuẫn:
Sự tham gia của đội ngũ cán bộ công chức trong các
quyết định của tô chức:
- Kỹ năng quản lý thay đổi;
- Ky nang quản lý con người:
- Ky nang quan ly va trao doi thong tin:
- Các giá trị nguồn nhân lực của tổ chức
3 Thích ứng tới sự thay đổi của môi trường bên ngoài thông qua uiệc điều chỉnh một cách hợp lý, khoa học các mục
tiêu của tổ chức Đây là một trong những nhóm tiêu chí quan
trọng nhằm đánh giá hiệu quả tổ chức trên quan điểm phát
triển u tổ chức có thể thích ứng được với sự thay đổi môi
trường bên ngoài tổ chức thể hiện tổ chức đó được đánh giá hiệu quả hơn những tổ chức khác Một số tiêu chí cu thể sau
đây thường được chú ý:
- Mức độ kiểm soát của tổ chức
- Linh hoạt, thích ứng
- Sự hợp tác với các tổ chức bên ngoài:
293