Tiếp nội dung phần 1, Giáo trình Quản lý nhà nước về nông nghiệp và nông thôn: Phần 2 cung cấp cho người học những kiến thức như: quản lý nhà nước về quy hoạch các điểm dân cư nông thôn; quản lý nhà nước về xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Chương 4 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH
CÁC ĐIỂM DÂN CƯ NÔNG THÔN
I ĐIỂM DÂN CƯ NÔNG THÔN NƯỚC TA
1 Quá trình hình thành và phát triển điểm dân cư
vùng núi) mà ở đó quan hệ giữa những người dân trong
cộng đồng, ngoài quan hệ họ hàng, huyết thống ra, còn có
quan hệ xóm giềng rất gắn bó Quan hệ này được hình thành và phát triển trên cơ sở truyển thống văn hóa đạo
đức tốt đẹp của dân tộc ta là tương thân tương ái, hỗ trợ lẫn nhau với tỉnh thần “lá lành đùm lá rách” trong sản xuất và
trong đời sống Vì vậy, quan hệ làng xóm đã trở thành một
truyền thống tốt đẹp, có bể dày lịch sử lâu dài trong suốt
quá trình phát triển của các điểm dân cư nông thôn nước
ta Truyền thống xóm làng cũng được phát huy sức mạnh
của nó trong cả hai cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập và
tự do của đất nước trong giai đoạn vừa qua
Trang 2Với phương thức sản xuất cá thể, theo từng hộ gia đình,
nền nông nghiệp nước ta trong cả quá trình phát triển lâu
dai chủ yếu vẫn là sản xuất mang tính tự cung tự cấp Vì vậy, các loại ngành nghề trong nông thôn không nhiều,
chủng loại cây trồng cũng chưa phong phú Truyền thống xóm làng vẫn được duy trì và nó mặc nhiên được coi như là đơn vị xã hội cơ sở của cộng đồng
Từ sau Cách mạng tháng Tám (194B) thành công, Nhà
nước đã xác định xã là cấp chính quyền cơ sở Xã bao gồm một số làng (hoặc thôn) Nhưng mỗi làng (thôn) đó vẫn tôn
tại độc lập, là một cộng đồng dân cư cùng nhau tham gia
xây dựng phát triển nông thôn
Hệ thống dân cư nông thôn có các loại sau:
-_ Các điểm dân cư thuộc các xóm ấp;
-_ Điểm dân cư trung tâm xã;
-_ Điểm dân cư trung tâm cụm xã
Theo nghiên cứu của Ủy ban Dân tộc và Miền núi, hiện tại ở vùng núi có 848 cụm xã, trong đó riêng vùng núi cao
có 505 cụm, vùng núi thấp là 343 cụm Trung tâm cụm xã miền núi là nơi giao lưu văn hóa đồng thời còn là trung tâm
giáo dục và y tế
Với chủ trương từng bước tập thể hóa nông nghiệp, lúc
đầu là các tổ đổi công rồi sau đó là phong trào vận động
thành lập HTX nông nghiệp vào đầu những năm 60, các
làng, xóm tổn tại như những cơ sở xã hội cho các phong
trào vận động tập thể hóa nói trên Các HTX thường theo
quy mô của một làng, hoặc một xóm (trong trường hợp các
làng lớn) Do đó, quan hệ gắn bó truyền thống của làng xóm Việt Nam được hình thành từ xa xưa vẫn tôn tại và
Trang 3phát huy tác dụng tích cực của nó trong suốt quá trình đối
thay của toàn xã hội, từ chế độ Phong kiến nửa thuộc địa
sang chế độ Dân chủ cộng hòa Không những thế, nó còn
có tác dụng tích cực trong việc khắc phục những khó khăn
trong quá trình sản xuất nông nghiệp, nhất là những khi gặp thiên tai, địch họa
Sau ngày thống nhất đất nước, do những hạn chế về
tâm hiểu biết trong lĩnh vực kinh tế - xã hội nên đã có một
thời Đăng và Nhà nước có chủ trương mở rộng HTX lên quy
mô toàn xã mà không xét đến những hạn chế về kỹ thuật, sức sản xuất, trình độ quản lý Do đó, các hoạt động tập thể hóa với quy mô toàn xã đã không đạt được kết quả Mặt khác, cơ chế bao cấp trong quản lý HTX cũng không còn
đáp ứng được yêu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội, dẫn tới tình trạng “dong công,phóng điểm” trong điều hành sản xuất, làm cho HTX không còn phát huy được tác dụng Cũng trong giai đoạn này, ta có chủ trương xây dựng
nông thôn theo 3 cấp là xã, tiểu vùng (cụm kinh tế kỹ
thuật) và huyện Cũng do những hạn chế trong hiểu biết về
cơ giới hóa nông nghiệp, điện khí hóa và hóa học hóa cũng
như về mô hình của một nông thôn sản xuất lớn XHCN nên
đã có xu hướng muốn xóa bỏ những điểm dân cư nhỏ để tập
trung nhanh chóng hình thành những điểm dân cư lớn với
quy mô toàn xã, các huyện đều có 3 cấp cố định, ở cấp tiểu vùng đều có quy mô và các công trình đồng loạt như nhau
Do không phù hợp với quy luật phát triển trong thực tế nên các ý đồ này đã không được thực hiện
Trong giai đoạn có chủ trương xây dựng HTX nông
nghiệp đã duy trì phương thức làm ăn tập thể trong mọi
hoạt động sản xuất (thường là theo quy mô của từng xóm
67
Trang 4trong làng) Khi các hoạt động tập thể này không còn duy
trì nữa, thì sân phơi, nhà kho không còn giá trị sử dụng mà
là chuyển đổi chức năng sử dụng hoặc bị đỡ bỏ Nhung quan hệ xóm giềng theo truyền thống thì vẫn được duy trì
Mặc dù còn có những hạn chế, nhưng quá trình xây dựng và phát triển nông thôn nước ta trong vòng 3 thập kỷ
kể từ đầu những năm 60, đã làm thay đổi về cơ bản những
phong tục tập quán lạc hậu, đưa ánh sáng văn hóa về nông
thôn Về mặt sản xuất, đồng ruộng bước đầu được cải tạo,
hệ thống thủy lợi được hình thành và từng bước được nâng cao Nhiều giống mới về cây trồng, vật nuôi và một số kỹ thuật mới từng bước được đưa vào thực hiện Mô hình kinh
tế V.A.C (Vườn - Ao — Chuồng) cũng từng bước được áp
dụng Về mặt đời sống, các công trình phúc lợi về giáo dục,
y tế được tăng cường (như việc xây dựng trường học, trạm y
tế, giếng nước, nhà tắm, hố xí hai ngăn ) hệ thống giao
thông được cải thiện đã góp phần nâng cao cuộc sống vật chất và tỉnh thần của người dân ở nông thôn nước ta
2 Hiện trạng và xu thế phát triển các điểm đân cư
nông thôn
a Hiện trạng các điểm dân cư nông thôn
Số lượng các làng, xóm ở nước ta rất lớn, phân tán và phân bố bất hợp lý giữa các vùng lãnh thổ Theo số liệu thống kê hiện nay trên toàn quốc có 426 huyện, 8731 xã và
có khoảng trên 10 vạn điểm dân cư
Phân bố dân cư và làng xóm rất khác nhau giữa các
vùng như đồng bằng Bắc bộ là 804 người/km?, đồng bằng
Trang 5sông Cửu Long là 365 người km", Tây Bắc 49 người/kmỶ, Tây Nguyên 43 ngườikm”
Hiện nay xã là một đơn vị hành chính có diện tích đất
đai, dân số và mật độ cư trú thay đổi tùy thuộc vị trí địa lý, địa hình từng vùng Mật độ các điểm dân cư có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng Vùng núi Tây Bắc và ven Trường Sơn
bình quân chỉ có 1- 2 điểm dân cư/10 km? Vùng đồng bằng Bắc Bộ, xung quanh thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh
ở đồng bằng sông Cửu Long như Mỹ Tho, Tiển Giang, Bến
Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng có trên 10 điểm dân cư/km?
Quy mô làng xóm phần lớn là nhỏ bé, có tời 60% làng xóm có số dân dưới 150 người / điểm (tỉnh Thái Bình có tới
80-90%), bình quân cả nước là 350 người/điểm
Trình độ xây dựng nhà ở, công trình, kết cấu hạ tầng
cũng rất khác nhau giữa các vùng nông thôn Vùng đồng
bằng Bắc Bộ do hệ thống đê điểu ổn định từ lâu đời nên
làng xóm đã có hàng ngàn năm ổn định và phát triển, nhà cửa và cơ sở hạ tầng tương đối phát triển, phần lớn đã kiên
cố hóa, ngói hóa, bộ mặt nông thôn đã có nhiều thay đổi
Trong khi đó vùng đồng bằng sông Cửu long, vùng miền núi
trung du nhà ở đơn sơ xây dựng bằng tràm, đước Chỉ có
khoảng 30% là nhà ở cố định, khang trang và phân bố chủ yếu là ở các vùng không bị ngập lụt
b Xu thế phát triển của các điểm dân cư nông thôn
Do yêu cầu tổ chức và phát triển sản xuất, tổ chức đời sống theo hướng công nghiệp hóa, hiẹn đại hóa nên trên địa
bàn nông thôn sẽ diễn ra quá trình tích tụ các làng, xóm, ấp lớn theo các xu hướng chính sau:
69
Trang 6- Quy tụ và phát triển các điểm làng ấp lớn, xóa bỏ
dần các điểm xóm, trị quá nhỏ
- Hình thành và phát triển các thị tứ, thị trấn và các điểm dân cư kiểu đô thị khác (làng đô thị hóa)
- Hình thành và phát triển các trang trại, các nông lâm trường
II QUẢN LÝ CÁC ĐIỂM DÂN CƯ NÔNG THÔN
1 Vai trò của quản lý nhà nước đối với quy hoạch
xây dựng điểm dân cư nông thôn
Cho tới nay, nước ta là một nước nông nghiệp với trên 75% dân số sống ở nông thôn Sản xuất nông nghiệp
và kinh tế nông thôn còn hoạt động và tổn tại ở quy mô
nhỏ, đòi hỏi phải có những tác động mạnh mẽ hơn để
thúc đẩy nền nông nghiệp tiến lên sản xuất hàng hóa
lớn
Sau khi có chính sách đổi mới, sự phát triển năng
động của nền kinh tế nước ta trong gia đoạn chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN không chỉ dẫn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, sự bùng
nổ về đô thị hóa mà còn thay đổi bộ mặt nông thôn, làng,
xã, đời sống xã hội của nhân dân nông thôn từng bước
được cải thiện, sinh hoạt vật chất và tính thần được nâng cao Do đó, mỗi gia đình nông thôn đểu có nhu cầu nâng
cấp nới ăn, chốn ở, mỗi thôn xóm, làng xã đều có nhu cầu
nâng cấp đường giao thông, tu bổ sửa chữa các công trình
Trang 7công cộng phúc lợi như nhà trẻ, trường học, trạm xá Đó
là nhu cầu chính đáng, đúng đắn và đang bức xúc trên
địa bàn Xong cho tới nay, nhu cầu này chủ yếu được thực hiện bằng nguồn vốn của dân và của tập thể từng địa
phương nên thường tự phát, gây nên tình trạng không hợp lý trong sử dụng, lãng phí đất đai, vật liệu xây dựng,
kinh phí đầu tư, đóng góp của nhân dân Mặt khác, cũng gây nên tình trạng lộn xộn về quy hoạch, kiến trúc, về cảnh quan, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân nông thôn
Vì thế, không những phải nghiên cứu quy hoạch xây
dựng mà còn phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước để
tiến trình xây dựng và phát triên nông thôn nói chung và các khu dân cư nói riêng mới theo đúng mục tiêu, kế hoạch đặt ra
Khu dân cư nông thôn (cũng thường gọi là điểm dân cư
nông thôn và sử dụng từ này cho những nội dung tiếp theo)
theo luật Đất đai năm 1993 là khu đất được xác định chủ yếu để xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ cho sinh
hoạt ở nông thôn Đất ở của mỗi hộ gia đình nông thôn bao
gồm đất để làm nhà ở và các công trình phục vụ cho đời sống của gia đình
Điều 53 của luật Đất đai cũng quy định: “Việc sử dụng
đất khu dân cư nông thôn phải theo quy hoạch, thuận tiện
cho việc sản xuất, đời sống của nhân dân và quản lý xã hội
Nhà nước có chính sách tạo điểu kiện cho những người sống
ở nông thôn có chỗ ở trên cơ sở tận dụng đất ở những khu sẵn có, hạn chế việc mở rộng khu dân cư trên đất nông nghiệp”
71
Trang 82 Quan ly quy hoạch các điểm dân cư nông thôn
a Bạn hành các quy định uề quy hoạch xây dựng 0à quản
lý quy hoạch xây dựng các diểm dân cư nông thôn
Nhằm đáp ứng các yêu cầu chuyển đổi cơ cấu và phát
triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn
mới trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng
thời phục vụ các nhu cầu thiết yếu của dân cư nông thôn, Nhà nước cần nghiên cứu, soạn thảo, ban hành và thể chế hóa các chính sách, quy định, quy chế, điều lệ, về quy hoạch xây dựng các điểm dâncư nông thôn Đây là một
lĩnh vực còn bất cập và bức xúc hiện nay do một thời gian
dài chúng ta chỉ tập trung vào nghiên cứu quy hoạch xây
dựng và quản lý quy hoạch xây dựng đô thị Công tác này
cụ thể là:
- Rà soát, nghiên cứu, bố sung, ban hành những văn bản pháp luật, quy định, quy chế về quản lý quy hoạch xây dựng, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn,
hoàn chỉnh những quy phạm, tiêu chuẩn thiết kế, kỹ
thuật về xây dựng, phát triển khu dân cư, kết cấu hạ tâng
nông thôn
- Nghiên cứu các chiến lược và chương trình phát triển
hạ tầng như chiến lược cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương, tổ chức lập, xét duyệt quy hoạch các khu dân cư, kết cấu hạ
tầng nông thôn, phân cấp quản lý và xét duyệt, phê duyệt
- Nghiên cứu cung cấp, phổ biến các mẫu nhà ở nông thôn cho các địa phương
Trang 9- Tổng kết, phổ biến những mô hình và tập huấn cho
các địa phương về quan lý quy hoạch xây dựng, đào tạo cán bộ
b Lập quy hoạch xảy dựng điểm dân cư nông thôn
Quy hoạch xây dựng các điểm dân cư nông thôn gồm làng mới, cải tạo phát triển làng cũ, quy hoạch các thị tứ
Cơ sở lập quy hoạch xây dựng làng xóm là kế hoạch xây
dựng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng như
quy hoạch cải tạo hệ thống dân cư trong vùng, nhất là địa
Nội dung chủ yếu của quy hoạch xây dựng làng xóm là
dự báo quy mô tăng dân số từng giai đoạn, tố chức không gian điểm dân cư, đầu tư phát triển mở rộng theo định hướng đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, nâng cao đời sống của nhân dân
nông thôn
Do số lượng làng xóm rất lớn, nên chính quyển địa
phương cần triển khai lập quy hoạch xây dựng thí điểm
điển hình một số làng xã cho từng khu vực có điều kiện địa
lý, kinh tế khác nhau Sau đó tổ chức các lớp tập huấn rút
kinh nghiệm chuyển giao công nghệ và bồi dưỡng đào tạo cán bộ dựng cơ bản chuyên ngành cho các địa phương
a dé tổ chức triển khai trên địa bàn xã, điểm dân
huyện,
73
Trang 10cư Trong quá trình triển khai lập quy hoạch xây dựng cần
có ý kiến tư vấn của các cơ quan chuyên môn
Khi tiến hành lập quy hoạch xây dựng cần:
Xác lập chủ trương, kế hoạch xây dựng, cải tạo phát
triển các điểm dân cư làng, xã do các cơ quan tư vấn xây
dựng trên cơ sở định hướng và kế hoạch phát triển kinh tế
~ xã hội của địa phương, hoặc xã lập nhưng có sự hỗ trợ của các cơ quan tư vấn và chính quyền cấp trên duyệt
Xác định nhiệm uụ, thiết kế quy hoạch xây dựng:
Đề ra định hướng duy hoạch xây dựng hay cải tạo phát
triển điểm dân cư nông thôn Trong đó cần tập trung vào:
Quy hoạch không gian xây dựng;
Quy hoạch sử dụng đất;
Quy hoạch cơ sở hạ tầng;
Các giải pháp quy hoạch, kiến trúc cụ thể, chỉ tiết
Hồ sơ quy hoạch điểm dân cư nông thôn do Uỷ ban
nhân dân (UBND) xã lập, Hội đồng nhân dân cùng cấp
thông qua và phải được UBND huyện xét duyệt có sự tư
vấn thỏa thuận của các cơ quan chuyên ngành huyện
Sau khi đồ án quy hoạch được duyệt, sẽ là căn cứ để:
~ Triển khai công tác xây dựng cải tạo;
— Gó cơ sở pháp lý quản lý xây dựng cải tạo;
- Kiểm soát sự tăng trưởng, thay đổi và điểu chỉnh theo
mục tiêu
— Điều chỉnh quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn
đo DBND huyện phê duyệt
Trang 118 Quan ly đất đai, xây dựng và môi trường trong
»ác điềm dân cư nông thôn
a Về đất đai
Co sé quan ly dat là Luật Đất đai 2003 và các van
bản pháp quy khác của Trung ương và địa phương
- Đất sản xuất nông nghiệp do UBND cấp huyện giao,
cho thuê tùy theo quỹ đất của địa phương, giao không quá 3ha/hộ (cây hàng năm) và 30 ha/hộ (cây lâu năm) Ngoài ra
để lại 5% quỹ đất nông nghiệp để phục vụ cho nhu cầu công ích của địa phương và do UBND cấp xã giao, cho thuê theo pháp luật
- Đất ở: đất ở mới cho một hộ vùng đồng bằng không
quá 300m2 và vùng núi, trung du không quá 400m2 Như vậy, nơi có quỹ đất lớn, có phong tục chung nhiều thế hệ,
thì hạn mức trên không quá 2 lần Nếu đất ở quá hạn mức trên, lại sử dụng làm kinh tế V.A.C thì phải tính vào đất sản xuất nông nghiệp Đất ở do UBND cấp huyện giao, cho thuê theo quy định của pháp luật
- Mặt nước ao hề: giao hoặc cho thuê để nuôi trồng thủy sản; hoặc giao cho hộ gia đình tính vào đất sản xuất nông
nghiệp
- Đất cho các cơ sở sản xuất phi nông nghiệp: gồm đất cơ
sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, kho tàng, nhà xưởng Chính quyền cấp huyện cho thuê hoặc giao cho hộ
gia đình sử dụng có dịnh hạn tương ứng đất nông nghiệp
- Đất để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung
như các công trình phúc lợi, cơ sở hạ tầng, thủy lợi, thủy
nông, nghĩa trang, đình chùa, di tích Chính quyền xã quản
15
Trang 12lý hoặc giao cho trưởng thôn quản lý theo đúng mục đích và
quy hoạch đã được duyệt
Tổ chức giao đất và cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận
sử dụng đất nông nghiệp, đất ở theo quy định của Luật Đất đai và các văn bản pháp quy khác
b Về xây dụng
Các công trình kiến trúc, hạ tầng cơ sở phần lớn đều do
dân và địa phương xây dựng, cải tạo, duy tu và bảo dưỡng
- Việc xây dựng mới, cải tạo các công trình kiến trúc nhà ở: cần phải có ý kiến tư vấn của chính quyển địa
phương, cộng đồng dân cư và các chuyên môn, cơ quan quản
lý có thẩm quyền cấp huyện, xã cấp phép xây dựng, cải tạo theo quy định của UBND huyện, xã (trừ công trình được
miễn) UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng tại các trung tâm cụm xã UBND cấp xã cấp giấy phép xây dựng công trình riêng lẻ ở điểm dân cư đã có quy hoạch được phê duyệt, hay theo quy định của huyện Cần có thiết kế xây
dựng đối với các công trình sản xuất dịch vụ hay ứng dụng các thiết kế mẫu, hướng dẫn dân tự xây dựng nhà ở theo
quy hoạch và thiết kế mẫu
- Quản lý xây dựng hạ tầng kỹ thuật (đường, điện), phát triển hệ thống cấp nước sạch, kết hợp Nhà nước và nhân
dân cùng làm, hoặc có thể giao cho doanh nghiệp, công ty tư
nhân đảm nhận, có sự quản lý của chính quyền địa phương
e Về bảo uệ môi trường, uệ sinh công cộng
Chính quyền địa phưởng có trách nhiệm bảo vệ vệ sinh
môi trường và trật tự an toàn xã hội ở làng xóm, có trách
nhiệm tổ chức quản lý từ khâu bàn bạc, ban hành quy chế,
Trang 13nội quy, hương ước, ký hợp đồng thực hiện với các tổ chức
xã hội và cá nhân theo chế độ thầu khoán và duy trì phong trào toàn dân đóng góp, tham gia đến các chế tài xử phạt Biện pháp:
- Tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và
trình độ hiểu biết về bảo vệ môi trường
- Tuyên truyền giáo dục cộng đồng hiểu biết về môi
trường, vận động dân từ bỏ những tập quán lạc hậu trái với
những quy định về vệ sinh môi trường
- Từng địa phương tự bàn bạc, thảo luận để xây dựng
chương trình hành động bảo vệ môi trường của địa phương
mình
- Tổ chức thi đua cam kết thực hiện chương trình bảo vệ
môi trường
Quản lý (thu gom và xửa lý) tốt các loại chất thải (sinh
hoạt, sản xuất), trong đó đặc biệt chú ý đến nguồn nước thải độc hại:
Nước thải:
- Thu gom, xử lý nước thải sản xuất trước khi xả ra ao
hồ, sông ngòi, kênh mương
- Xây dựng hệ thống cống rãnh thoát nước từ nhà ra đường và đến nơi xã
- Trong điều kiện nông thôn, trong khuôn viên gia đình nên áp dụng những phương pháp hồ sinh học
Rac thai:
- Thu gom, phân loại để sử dụng và xử lý rac thai trong từng gia đình (cần áp dụng bể Biogas)
TT
Trang 14- Đối với rác công cộng (đường, sân bãi nơi công cộng) cần tổ chức thu gom để xử lý tập trung theo phương pháp
truyền thống (chôn lấp, ủ phân hoặc đốt) theo hình thức
cho tư nhân, các đoàn thể nhận khoán
Vì lợi ích lâu dài cần vận động, khuyến khích sử dụng
bếp lò đun cải tiến, bể Biogas để tiết kiệm năng lượng (đang rất khan hiếm ở nông thôn) đồng thời giải quyết triệt để phân rác trong sản xuất chăn nuôi Những giải pháp này có hiệu quả bảo vệ môi trường rất cao
Trong nhiều vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ nên tiến
tới thực hiện cấp nước theo mô hình tập trung (nhất là các thị trấn, thị tứ và những nơi trữ lượng, chất lượng nước
ngắm ít hoặc đã bị ô nhiễm) cần sử dụng nguồn nước sông
hồ qua xử lý lọc, khử trùng, khử sắt và tạp chất khác để cấp nước
Cố gắng giữ gìn, duy trì và phát triển diện tích trồng cây xanh (cây bóng mát, cây cảnh, cây ăn quả, hoa) và diện
tích mặt nước để cải thiện điểu kiện khí hậu, bảo đảm sự
cân bằng sinh thái trong từng đơn vị ỏ
Huy động sự tham gia của cộng dồng trong việc bảo vệ môi trường nông thôn (nhất là Hội Phụ nữ, Hội Phụ lão, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh )
4 Các vấn đề về xã hội, an ninh và trật tự nông thôn
Thực hiện chính sách xã hội, giữ gìn duy trì an ninh
trật tự và nếp sống mới cũng là một trong những nội dung quản lý nhà nước ở nông thôn Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế — xã hội do động viên, khuyến khích mọi tiểm năng,
Trang 15
tiềm lực của các th phần kinh tế còn có những biểu hiện
tiêu cực mang tính xã hội như phan tang xã hội và phân hóa giàu nghèo (giữa các tầng lớp dân cư, giữa đo thị và
nông thôn, giữa các vùng lãnh thổ), xu hướng gia tăng các
tệ nạn xã hội, suy thoái về đạo đức lối sống của một bộ
phan dân cư, phức tập hóa về an ninh trật tự mà Nhà nước
và chính quyền các cấp ở nông thôn cần phải có biện pháp
cụ thể:
- Thực hiện tốt các chương trình xóa đói giảm nghèo ở
nông thôn, trước hết cần tập trung xóa đói giảm nghèo cho trên 1.700 xã đặc biệt khó khăn ở vùng sâu, vùng xa
- Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, quần chúng
vào xóa đói giảm nghèo
- Đồng thời cần phải thực hiện các chính sách xã hội khác như chính sách đối với các gia đình có công với cách mạng,
những người thuộc diện ưu đãi, tàn tật, người già cô đơn
- Thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình,
giảm tỷ lệ sinh đẻ ở địa bàn nông thôn, nhất là ở khu vực
miển núi, trung du, nơi hiện nay thuộc diện có nhiều làng
xã nghèo đói
- Thực hiện các chính sách về phát triển giáo dục, đào
tạo, y tế, văn hóa, nâng cao dân trí và trình độ khoa học kỹ thuật, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tình đoàn kết tương thân
79
Trang 16tương ái giúp đỡ lẫn nhau, phát triển nguồn nhân lực, đào
tạo nhân tài, đẩy mạnh công cuộc đổi mới và phát triển
kinh tế — xã hội ở nông thôn
- Có các biện pháp hạn chế các tệ nạn xã hội, duy trì trật tự an ninh, an toàn làng, xã, xây dựng nếp sống mới,
gia đình văn hóa mới ở nông thôn
- Thực hiện quy chế dân chủ thực sự ở nông thôn Người
nông dân làm chủ ruộng đồng, làm chủ về kinh tế, xä hội ở
nông thôn, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
- Xây dựng các phong trào quần chúng rộng rãi, cùng chính quyển và các cơ quan chức năng địa phương tham gia
giải quyết các vấn đề xã hội, an ninh trật tự, xây dựng nếp
sống mới ở nông thôn, thông qua các hương ước, quy ước
cộng đồng, cam kết trách nhiệm xã hội của mỗi thành viên,
gia đình
Quan ly Nhà nước về quy hoạch xây dựng nông thôn
nói chung và kết cấu hạ tầng nông thôn nói riêng là nhiệm
vụ và cần phải có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp ở Trung ương và địa phương, trước hết là của Bộ Xây dựng,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UB Dân tộc, Bộ Lao động và Thương binh xã hội, Bộ Tài chính, Các Bộ, Ngành này cần cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước, có biện pháp huy động các cơ quan chức năng, Viện nghiên cứu, Sở chuyên môn các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương tập trung triển khai nghiên cứu,
hướng dẫn hỗ trợ các tỉnh, huyện, các xã đặc biệt khó khăn,
cụ thể:
- Rà soát, nghiên cứu, bổ xung, ban hành những văn
bản pháp luật về quản lý quy hoạch, xây dựng, đầu tư xây
Trang 17dựng, hoàn chỉnh những quy phạm, tiêu chuẩn thiết kế, kỹ thuật phù hợp với từng địa phương
- Chỉ đạo hướng dẫn các địa phương tổ chức lập, xét duyệt các đồ án quy hoạch khu dân cư nông thôn và kết cấu
hạ tầng nông thôn, nhất là cho các xã, thị tứ, trung tâm cụm xã Tổ chức lập thí điểm và nhân rộng ra các địa
phương trong cả nước
- Nghiên cứu, cung cấp và phổ biến các mẫu nhà ở, công
trình phù hợp với đặc thù địa phương
- Lập quy hoạch và đẩy mạnh sản xuất vật liệu xây
dựng sử dụng các nguyên vật liệu sẵn có của địa phương
- Tổ chức đào tạo, bổi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ
cho cán bộ địa phương, đặc biệt là huyện và xã
- Thường xuyên tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, tập huấn cho các địa phương về chuyên môn và quản lý
QUNN VE NN& NT TH 81
Trang 18Câu hồi ôn tập chương 4
Sự cần thiết phải quy hoạch xây dựng các điểm dân cư
nông thôn ?
Nội dung điều chỉnh của quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng các điểm dân cư nông thôn ?
Phương hướng quản lý nhà nước về thực hiện các vấn
đề xã hội, an ninh và trật tự nông thôn ?
Trang 19Chương ð
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG Ở NÔNG THÔN
I MỤC TIÊU VÀ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ
TẦNG Ở NÔNG THÔN
Kết cấu hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với phát
triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân ở nông thôn, góp phần thu hẹp chênh lệch về điều kiện sống
và lao động giữa đô thị và nông thôn, tạo dựng bộ mặt nông
thôn mới văn minh, hiện đại
Trước hết đẩy mạnh phát triển thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp Hệ
thống tưới tiêu phải hoàn chỉnh, đồng bộ, đảm bảo chống úng, chống hạn, bảo vệ môi trường, hạn chế ô nhiễm do úng
ngập gây ra, giữ gìn và phát triển: môi trường sinh thái
Từng bước nâng cao mức độ vững chắc của đê biển, đê sông Hồng và các sông lớn vùng Bắc Trung bộ, bảo vệ an toàn trước thiên tai, lụt bão
Ưu tiên xây dựng kết cấu ha tầng kinh tế, xã hội, kỹ
thuật phục vụ cho sản xuất, nhưng không coi nhẹ kết cấu
hạ tầng phục vụ cho đời sống nhân dân như nhà trẻ, trường
83
Trang 20học, trạm y tế, các công trình văn hóa, thể thao, dịch vụ,
chợ, kể cả nhà ở Các công trình này do tác động của kinh tế
thị trường nên có sự chuyển biến đáng kể, song tự phát, lấn
chiếm đất đai (nhất là đất nông nghiệp) gây lãng phí, tốn kém, chất lượng thấp, mất trật tự an ninh, nhất là trật tự
giao thông
- Về giao thông nông thôn: bảo đảm liên hệ thuận lợi,
nhất là các đường liên xã, liên thôn, cần phải được quy hoạch và xây dựng kiên cố hóa (trải nhựa, bê tông, lát gạch đá) đảm bảo đi lại, vận chuyển hàng hóa thuận tiện, không lầy lội vào mùa mưa
- Về cấp điện và thông tin: tiến tới 100% số xã được cấp
điện Các xã đều có hệ thống thông tin liên lạc nối liền với
trong và ngoài nước
- Về trường học: tiến tới đủ lớp học cho học sinh, xóa bỏ học ba ca Các trường học cần xây dựng kiên cố nhiều tầng
hoe ban kiên cố, có môi trường cảnh quan sạch đẹp và an
toàn, vệ sinh, đầy đủ trang thiết bị, đổ dùng giảng dạy và
học tập
- Về trạm xá, nhà hộ sinh: cần xây dựng khang trang,
sạch sẽ, phục vụ khám, chữa bệnh ở cơ sở và thực hiện công
tác dân số kế hoạch hóa gia đình
- Về cấp nước sạch: tiến tới 100% dân nông thôn được sử
dụng nước sạch hợp vệ sinh (giếng khoan, nước máy, nước
mưa)
- Các công trình khác như: trạm truyển thanh, bưu
điện, thư viện, câu lạc bộ, nhà văn hóa, thể thao, chợ và các
công trình dịch vụ khác cần phải được quy hoạch, xây dựng
tập trung trong các khu trung tâm xã, đáp ứng nhu cầu của
cư dân nông thôn
Trang 21- Công tác quy hoạch và xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn: cần thục đồng bộ, kết hợp giữa TW và địa
phương, Nhà nước và phân dân cùng làm Nhà nước tạo
điều kiện ban đầu như cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, cấp kinh phí một phần đầu tư xây dựng, giảm nhẹ thuế nông
nghiệp, cho ưu tiên tiếp nhận các dự án tài trợ từ nước
ngoài về phát triển nông nghiệp, nông thôn
sản, du lịch, ) phục vụ cho phát triển cây công nghiệp, cây
ăn quả, hoa màu, nước cho công nghiệp, du lịch ở nông thôn
Tập trung tu bổ, nâng cấp, tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình hiện có Phát triển xây
dựng hồ, đập chứa nước để nâng cao khả năng dự trữ nước
mặt Phát triển thủy lợi thâm canh lúa và thâm canh các
loại cây trồng có giá trị cao Củng cố hệ thống đê sông, đê
biển để nâng cao độ an toàn phòng tránh lụt bão, bảo vệ
người và tài sản
Đầu tư gia cố, xử lý bảo vệ bờ sông, bảo vệ các vùng dân
cư tập trung và các cơ sở sản xuất Có biện pháp hữu hiệu
cải thiện môi trường sống ở các vùng ngập lụt thuộc vùng
đồng bằng sông Cửu Long, mién Trung
Xây dựng quỹ dự phòng chống lụt bão, thiên tai từ Trung ương tới địa phương.
Trang 22Điều chỉnh giá thủy lợi phí để các xí nghiệp thủy nông
có thể tự trang trải mọi chỉ phí cung cấp nước và sửa chữa
kênh mương
Thực hiện chương trình kiên cố hóa kênh mương gắn
với giao thông nông thôn để tiết kiệm đất, nước, nắng
lượng, sức lao động
Hoàn thiện cơ chế tài chính trong hoạt động đầu tư, xây
dựng, quản lý, vận hành các công trình cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
9 Phát triển giao thông nông thôn
Giao thông ở nông thôn là công trình cơ bản nhất, chủ
yếu nhất của cơ sở hạ tầng kỹ thuật Giao thông không
những có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến phát
triển kinh tế - xã hội, đến đời sống sinh hoạt, đi lại của
người dân nói chung mà hệ thống đường giao thông còn là các cơ sở, là bộ khung để tạo lập các công trình hạ tầng kỹ thuật khác ở nông thôn như cấp điện, thông tin liên lạc, cấp
thoát nước,
Trên địa bàn nông thôn có các loại đường cấp xã (đường
liên thôn, làng, ấp,) Ngoài ra còn có thể có quốc lộ, tỉnh lộ
và huyện lộ Trách nhiệm của các cấp chính quyển địa
phương trong xây dựng, phát triển hệ thống giao thông bao gồm các công việc: lập kế hoạch xây dựng, huy động vốn đầu tư, tổ chức và chỉ đạo thi công, quản lý sử dụng và khai thác các công trình giao thông
Mạng lưới giao thông nông thôn cần phải được phát triển theo hướng hình thành mạng lưới giao thông nông thôn nối liển với mạng lưới giao thông quốc gia, đảm bảo
Trang 23thông suốt trong mọi thời tiết, cung cấp các dịch vụ vận tải
thuận lợi, phù hợp với mức sống của cư dân nông thôn Ưu
tiên phát triển giao thông nông thôn ở các vùng đông dân
cư, sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn
Phát triển giao thông nông thôn có thể được tiến hành dưới các hình thức: chia sẻ tài chính và cho vay không lãi hoặc với lãi suất ưu đãi; phát hành công trái để lấy tiền xây
dựng; kết hợp với tư nhân bằng cách kêu gọi họ bỏ vốn xây dựng đồng thời nhượng quyền thu lệ phí trong một thời gian nhất định (lệ phí do Nhà nước quy định)
3 Hệ thống điện nông thôn
Đầu tư phát triển hệ thống điện theo hướng Nhà nước hỗ
trợ một phần hoặc toàn bộ vốn, kỹ thuật cùng sức dân phát
triển hệ thống cung cấp điện nông thôn; khuyến khích các
nhà đầu tư trong và ngoài nước, các hộ dân đầu tư xây dựng
các công trình điện tại nông thôn theo hình thức BOT, BTO
Ngành điện phân cấp quản lý và hoàn vốn các công
trình do nhân dân xây dựng; coi trọng giáo dục an toàn
điện, tiết kiệm điện
4 Cấp nước sạch sinh hoạt
Nước sạch là nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống
của người dân ở nông thôn Yêu cầu của việc cấp nước là
nước được cấp phải sạch và đáp ứng nhu cầu sử dụng (độ
trong, khử ô nhiễm độc hại lý, hóa }
Nước sạch ở nông thôn bao gồm nước mưa, nước ngầm (giếng khơi, giếng khoan UNICEF) và nước mặt lấy từ
87
Trang 24sông, hồ, kênh rạch qua lắng đọng, đánh phèn Hiện nay,
lượng nước cấp qua xử lý ở nông thôn nước ta vẫn còn rất ít nên chủ yếu vẫn do dân tự khai thác sử dụng Nguồn nước
này thường là nước mặt hoặc nước giếng nên thường không
đảm bảo vệ sinh Việc cấp nước sạch cho các vùng nông
thôn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là các vùng núi, vùng
sâu, vùng xa hay vùng đồng bằng tập trung đông dân cư Vì
vậy, chính quyển các cấp ở nông thôn cần quan tâm đến việc xây dựng các hệ thống cấp nước, các giải pháp tạo nguồn nước sạch và quản lý việc khai thác, sử dụng hệ thống công trình cấp nước cho người dân
5 Thoát nước
Các làng xã nông thôn nước ta từ lâu nay vẫn thường tự
giải quyết vấn để nước thải trong phạm vi khuôn viên công
trình hay từng gia đình và hầu như để nước thoát tràn trên
mặt đất, đường đi, lối xóm Nước sinh hoạt, phân rác từ các nhà vệ sinh không hợp quy cách, từ các chuồng trại chăn nuôi cùng với nước thải trong quá trình sản xuất các ngành nghề không qua xử lý (chế biến lương thực, thực phẩm, giết
mổ gia súc) đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức
khỏe, đi lại và vệ sinh trong đường ngõ, nhất là khi mưa
bão ngập úng
Trong những năm gần đây, do Nhà nước có các chính
sách khuyến khích, nhiều loại hình sản xuất tiểu thủ công
nghiệp, dịch vụ, nhiều ngành nghề truyền thống được khôi
phục, mở rộng và phát triển, thêm vào đó là việc sử dụng phổ biến các loại phân bón, thuốc trừ sâu, đã làm tăng lượng nước thải và mức độ độc hại của nước thải ở nông