3, Mục đích nghiên cứu Tìm ra những hạn chế của quyền nhân thân của cá nhân trong BLDS 2015, sau đó đưa ra một số định hướng giúp cải thiện về quy định của pháp luật về quyền nhânthân củ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật)
Họ và tên: LÊ KHẢ TƯỜNG
Ngày, tháng, năm sinh: 20/12/2003 MSSV: 21A510100220
Lớp: LKTA02
Ngành: Luật kinh tế
Hà Nội, 18/02/2022
Trang 2CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN
1.1 Khái niệm quyền nhân thân
1.2 Đặc điểm quyền nhân thân
1.3 Quy định về quyền nhân than của cá nhân trong pháp luật dân sự
1.4 Ý nghĩa của quyền nhân thân của cá nhân
CHƯƠNG 2: NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA QUYỀN NHÂNTHÂN CỦA CÁ NHÂN ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG BLDS 2015
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1, Lí do chọn đề tài
Con người luôn là trung tâm, là mục tiêu hướng đến đầu tiên của quá trình pháttriển, do đó, song song với việc phát triển về mọi mặt của xã hội thì vấn đề con ngườicũng ngày càng được tôn trọng và bảo vệ Quyền nhân thân là một nhóm quyền cơ bản
và quan trọng của công dân trong quan hệ dân sự Đặc biệt trong xã hội ngày nay, khi
mà cuộc sống đã no đủ, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì nhu cầu được bảo
vệ các quyền nhân thân của cá nhân ngày càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Các quyền nhân thân của cá nhân không phải là vấn đề mới mẻ trong pháp luậtcũng như trong lĩnh vực nghiên cứu Song cùng với sự phát triển của cuộc sống vàkhoa học kỹ thuật hiện đại ngày càng có nhiều quyền con người đòi hỏi phải có sự ghinhận và đảm baỏ thực hiện bằng pháp luật dân sự nhằm đảm bảo tốt nhất các quyềncon người Bộ luật dân sự 2015 ra đời đã ghi nhận trong đó rất nhiều những sửa đổi,
bổ sung quan trọng đặc biệt là phần quy định về các quyền nhân thân cá nhân.Vậy cácquy định các quyền nhân thân của cá nhân trong Bộ luật Dân sự 2015 được quy địnhnhư nào? Có những ưu điểm và hạn chế gì? Chúng ta cần phải định hướng hoàn thiệncác quy định pháp luật ra sao?
Để làm rõ vấn đề trên em chọn đề tài “Đánh giá các quy định trong Bộ luật dân
sự năm 2015 về quyền nhân thân của cá nhân”
2, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đánh giá về quyền nhân thân của cá nhân
Phạm vi nghiên cứu: quyền nhân thân của cá nhân trong BLDS 2015
3, Mục đích nghiên cứu
Tìm ra những hạn chế của quyền nhân thân của cá nhân trong BLDS 2015, sau
đó đưa ra một số định hướng giúp cải thiện về quy định của pháp luật về quyền nhânthân của cá nhân
4, Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết
Trang 4NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN
1.1 Quyền nhân thân là gì
Quyền nhân thân là là quyền của cá nhân đối với các giá trị nhân thân củamình được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.(1)
1.2 Đặc điểm của quyền nhân thân
- Thứ nhất, quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản(1)
Khác với quyền tài sản, đối tượng của quyền nhân thân là một giá trị tinhthần, do đó, quyền nhân thân không biểu hiện bằng vật chất, không quy đổiđược thành tiền và mang giá trị tinh thần Giá trị tinh thần và tiền tệ khôngphải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá Dovậy, quyền nhân thân không thể bị định đoạt hay mang ra chuyển nhượngcho người khác Một người không thể kê biên quyền nhân thân của con nợ.Pháp luật quy định cho mọi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân Mỗimột chủ thể có những giá trị nhân thân khác nhau nhưng được pháp luật bảo
vệ như nhau khi các giá trị đó bị xâm phạm
- Thứ hai, quyền nhân thân gắn liền với một chủ thể nhất định và khôngthể chuyển dịch(1)
Mỗi một chủ thể mang một giá trị nhân thân đặc trưng, do đó, quyền nhânthân luôn gắn liền với một chủ thể nhất định Mặc dù vậy, quyền nhân thânkhông bị phụ thuộc, chi phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào như độ tuổi,trình độ, giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội,…
Quyền nhân thân không thể chuyển dịch cho người khác, tức là, quyền nhânthân của mỗi cá nhân chỉ do chính cá nhân đó hoặc trong một số trường hợp
do chủ thể khác được pháp luật quy định thực hiện Quyền nhân thân khôngthể là đối tượng trong các giao dịch mua bán, trao đổi, tặng, cho,… Trênthực tế xuất hiện nhiều hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân, ví dụ: mộtngười mẫu ký hợp đồng với công ty quảng cáo về việc cho phép công ty đó
sử dụng bức ảnh của mình để quảng cáo Vậy, quyền nhân thân đối với hình
Trang 5ảnh của người mẫu trong trường hợp này có được xem là đối tượng chuyểndịch? Thực chất, đối tượng chuyển dịch trong trường hợp này chính lànhững bức ảnh của người mẫu đã được chụp mà không phải là quyền nhânthân đối với hình ảnh của người mẫu Bởi, như đã phân tích ở trên, quyềnnhân thân mang giá trị tinh thần, do đó, không thể định đoạt và chuyển giaocho người khác Trong nghiên cứu mới đây về quyền nhân thân, có quanđiểm phân loại quyền nhân thân thành quyền nhân thân cơ sở (hay còn gọi
là quyền nhân thân gốc) và quyền nhân thân phái sinh Quyền nhân thân cơ
sở là quyền nhân thân theo đúng bản chất của nó, không thể chuyểnnhượng Quyền nhân thân phái sinh là quyền khai thác danh tiếng của một
cá nhân với mục đích thương mại Liên quan đến hình ảnh của cá nhân,quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân cơ sở, còn quyền đốivới từng bức ảnh cụ thể của cá nhân trong trường hợp ký hợp đồng với công
ty quảng cáo nói trên là quyền nhân thân phái sinh
1.3 Quy định về quyền nhân thân cuả cá nhân trong pháp luật dân sự
– Quyền có họ, tên ( Điều 26 BLDS 2015): Cá nhân có quyền có họ, tên(bao gồm cả chữ đệm, nếu có) Họ, tên của một người được xác định theo
họ, tên khai sinh của người đó Họ của cá nhân được xác định là họ của cha
đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuậnthì họ của con được xác định theo tập quán Trường hợp chưa xác định đượccha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ Trường hợp trẻ em
bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì
họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theothỏa thuận của cha mẹ nuôi Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì
họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó Trường hợp trẻ em bị bỏrơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì
họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôidưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinhcho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng Cha đẻ,
mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên
Trang 6sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việcmang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.(2)
– Quyền thay đổi họ (Điều 27 BLDS 2015): Cá nhân có quyền yêu cầu cơquan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợpsau đây: Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặcngược lại; thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họcủa cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi; khingười con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầulấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ; thay đổi họ cho contheo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con;thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và giađình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồngngười nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi (đây là mộttrong những điểm mới được bổ sung nhằm giải quyết kịp thời những bấtcập phát sinh từ đời sống xã hội); thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổihọ; trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.(2)
– Quyền thay đổi tên (Điều 28 BLDS 2015): Cá nhân có quyền yêu cầu cơquan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợpsau đây: Theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầmlẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp phápcủa người đó; theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi tên chocon nuôi hoặc khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha
đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt; theo yêu cầu của cha
đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con; thay đổi tên củangười bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình; thay đổi tên của
vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phùhợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dânhoặc lấy lại tên trước khi thay đổi; thay đổi tên của người đã xác định lạigiới tính, người đã chuyển đổi giới tính; trường hợp khác do pháp luật về hộtịch quy định.(2)
Trang 7– Quyền xác định, xác định lại dân tộc (Điều 29 BLDS 2015): Cá nhân cóquyền xác định, xác định lại dân tộc của mình Cá nhân khi sinh ra được xácđịnh dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻthuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộccủa cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không
có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợptập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dântộc ít người hơn (đây là một trong những điểm mới quan trọng của BLDSnăm 2015 liên quan đến các quy định quyền nhân thân của cá nhân).Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và đượcnhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc
mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc
mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưađược nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của ngườiđứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạmthời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em.(2)– Quyền được khai sinh, khai tử (Điều 30 BLDS 2015): Cá nhân từ khi sinh
ra có quyền được khai sinh Cá nhân chết phải được khai tử Trẻ em sinh ra
mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh
và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khaisinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.(2)
– Quyền đối với quốc tịch (Điều 31 BLDS 2015): Cá nhân có quyền cóquốc tịch Việc xác định, thay đổi, nhập, thôi, trở lại quốc tịch Việt Nam doLuật quốc tịch Việt Nam quy định Quyền của người không quốc tịch cư trú,sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm theo luật.(2)
– Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32 BLDS 2015): Cá nhân cóquyền đối với hình ảnh của mình Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phảiđược người đó đồng ý So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã bổsung một quy định mới là: Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động côngcộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệthuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân
Trang 8phẩm, uy tín của người có hình ảnh Việc sử dụng hình ảnh của người khác
vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừtrường hợp các bên có thỏa thuận khác.(2)
– Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thânthể (Điều 33 BLDS 2015): Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâmphạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe.Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật Khi phát hiện người bị tai nạn,bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm hoặcyêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có điều kiện cần thiết đưa ngay đến
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cótrách nhiệm thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của phápluật về khám bệnh, chữa bệnh.(2)
– Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34 BLDS 2015):Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được phápluật bảo vệ Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnhhưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình Trường hợp khôngxác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uytín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thôngtin đó là không đúng Đây là một trong những điểm mới tiến bộ của BLDSnăm 2015 so với BLDS năm 2005 nhằm bảo đảm cho các cá nhân tự mìnhbảo vệ quyền của bản thân khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.(2)– Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (Điều 35BLDS 2015): Cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi cònsống hoặc hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết vì mụcđích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và cácnghiên cứu khoa học khác Cá nhân có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể củangười khác để chữa bệnh cho mình Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, phápnhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thểngười, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứukhoa học khác.(2)
– Quyền xác định lại giới tính (Điều 36 BLDS 2015): Cá nhân có quyền xácđịnh lại giới tính Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện
Trang 9trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưađịnh hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giớitính Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật.(2)
– Chuyển đổi giới tính (Điều 37 BLDS 2015): Một trong những điểm nổibật về quyền nhân thân của cá nhân trong BLDS năm 2015 chính là việcchuyển đổi giới tính Điều 37 BLDS năm 2015 quy định: “Việc chuyển đổigiới tính được thực hiện theo quy định của luật Cá nhân đã chuyển đổi giớitính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của phápluật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyểnđổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”.(2)
Quy định này nhằm tạo cơ chế pháp lý chống phân biệt đối xử đối vớingười chuyển đổi giới tính, qua đó, góp phần bảo đảm cho họ có địa vị pháp
lý bình đẳng như những cá nhân khác, đồng thời, bảo đảm sự minh bạchtrong việc thực hiện các quyền nhân thân, tài sản của chủ thể này trong cácquan hệ dân sự Đây là một trong những quy định tiến bộ, góp phần đưaViệt Nam trở thành một trong các quốc gia có quy định pháp lý cụ thể đểbảo vệ quyền của người chuyển đổi giới tính nói riêng và quyền của nhómngười đồng tính, song giới, chuyển giới nói chung, phù hợp với Nghị quyếtcủa Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc được thông qua vào tháng9/2014 về nhân quyền, xu hướng tình dục và giới tính
– Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 38BLDS 2015): Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khảxâm phạm và được pháp luật bảo vệ Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, côngkhai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải đượcngười đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liênquan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừtrường hợp luật có quy định khác.(2)
– Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình (Điều 39 BLDS 2015): Cánhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xácđịnh cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và
Trang 10các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con
và quan hệ giữa các thành viên gia đình Con sinh ra không phụ thuộc vàotình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối vớicha, mẹ của mình.(2)
1.4 Ý nghĩa của quyền nhân thân của cá nhân
- Là cơ sở pháp lí để cá nhân thực hiện các quyền nhân thân trong sự bảo
hộ cuả nhà nước và pháp luật
- Quyền nhân thân có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống tinh thần của mỗi
cá nhân Mối hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân đềuảnh hưởng sâu sắc tới đời sống tinh thần người bị xâm hại Việc bảo vệquyền nhân thân có tác dụng kịp thời ngăn chặn các hành vi trái phápluật xâm phạm đến quyền nhân thân, bảo đảm trật tự pháp lí xã hội vàgiáo dục ý thức pháp luật cho công dân