Lý luận và thực tiễn về phong thủy Trung Quốc thời cổ đại sẽ cung cấp những kiến thức về việc chọn địa điểm, cách thiết kế quy hoạch nhà ở, làng mạc, thành phố theo nguyên tắc phong thủy nhằm giúp con người xây dựng một nơi cư trú lý tưởng. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 2 cuốn sách.
Trang 1Chương ÏÏ Nên tảng lý luận của văn hóa
kiến trúc Phong Thủy
địa lý Phong
Trung Quốc cổ đại có những lý luận và thành tựu về địa lý học
đặc sắc mà các nhà khoa học phương Tây gọi là “sinh thái văn hóa
phương Đông” Trong đó, quan niệm địa lý “thiên nhân hợp nhất”,
cách nhìn chỉnh thể hữu cơ giữa các hệ thống Thiên, Địa, Sinh,
Nhân, đã thể hiện được đặc điểm của Phong Thủy địa lý học cổ đại
Trung Quốc Việc đi sâu khai thác tư tưởng Phong Thủy địa lý học cổ
đại Trung Quốc có ý nghĩa hiện thực trong việc xây dựng một hệ
thống địa lý vĩ mô, rộng mở và phức tạp hiện nay
Trên thế giới, dân tộc Trung Hoa là một dân tộc vốn có hệ thống
văn hóa độc lập và truyền thống văn hóa lâu đời Trước khi giao lưu
hội nhập trên quy mô lớn với các nên văn hóa khác của thế giới cận
đại, thì nén khoa học và văn hóa truyền thống của Trung Quốc, trong
đó bao gồm ngành địa lý học là mẹ đẻ của các ngành khoa học, đã
bước đi trên con đường phát triển độc lập Xét từ hệ thống lý luận, tư
tưởng khoa học cho đến một vài phương pháp nghiên cứu khác, địa lý
học cổ đại Trung Quốc đều có sự khác biệt rõ rệt với địa lý học bắt
nguồn từ phương Tây
Trang 2Trung Quốc, cũng không có cách nào hiểu được việc chọn lựa địa điểm
kiến trúc và Phong Thủy cổ đại Trung Quốc
Hơn nữa, tuy nói trong chặng đường suốt hơn 3.000 năm có văn
tự có thể khảo chứng của lịch sử Trung Quốc, nền văn hóa Trung Hoa
đã có một thời kỳ dai tiếp xúc với nên văn hóa ngoại lai, đồng thời trải qua nhiều lần xung đột và hòa hợp trên quy mô khá lớn, nhưng
phương hướng và phẩm chất riêng, diện mạo và cốt lõi cơ bản vốn có
của nên văn hóa Trung Quốc vẫn chưa từng xảy ra một sự thay đổi
mang tính căn bản nào, càng chưa từng xuất hiện sự gián đoạn mang
tính hủy diệt nào Vẻ điểm này, có thể xem như là kỳ tích Đây chính
là một hiện tượng đặc biệt, nổi bật trong lịch sử phát triển văn hóa
thế giới, luôn luôn ẩn chứa một sức hấp dẫn làm mê hoặc lòng người,
kích thích sự tìm tòi của mọi người
Xét từ góc độ lịch sử phát triển văn hóa, từ sau thời Đông Hán
cho đến Nam Tống là thời kỳ nên văn hóa Ấn Độ truyền bá va dung
hợp với nên văn hóa Trung Hoa, trong thời gian này đã trải qua mấy
giai đoạn kìm hãm, xung đột và hòa hợp, dé sau đó có được lý học
Tống Minh Từ triều đại nhà Nguyên, đặc biệt là thời kỳ quá độ giữa
hai triéu Minh - Thanh, nên văn hóa phương Tây từng bước truyền
bá vào phương Đông, mãi cho đến phong trào “Ngũ Tứ” nỗ ra vào cuối
đời Thanh, nên văn hóa Trung Hoa cũng đã tiếp thu rất nhiều tử văn
hóa Tây Dương, một lần nửa lại hoàn thành việc dung hợp nền văn
hóa bản địa và ngoại lai Thế nhưng, bất kế các nên văn hóa ngoại lai này có tình thâm, uyên bác đến đâu, có mới lạ hấp dẫn như thế nào
Trang 3chang nửa, thì Âm Dương và Ngủ Hành đã trở thành cái cốt lõi và
van mang sac thai thuần túy vốn có của nẻn văn hóa lâu đời trên
lãnh thổ rộng lớn của đất nước Trung Hoa
Trên thế giới, việc nghiên cứu địa lý học cổ đại Trung Quốc đã
đạt được những thành tựu vô cùng rực rỡ Điều này cho thấy rằng
khoảng 6.000 năm trước, những cư dân cổ đã xác định được phương
hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, biết chọn lựa môi trường, tận dụng các
mặt như địa hình, hệ thống sông ngòi, chú ý đến sự an toàn v.v để
quy hoạch, phân bố các khu cư trú rất hợp ly Cho đến hơn 4.000 năm
trước, những nhà triết học đầu tiên đã căn cứ vào việc quan sát bốn
chòm sao Điều, Hảa, Hu, Mão và xác định được một năm có 366 ngày
và bốn mùa Con người lúc bấy giờ sử dụng quy luật khí hậu ánh
hưởng đến đời sống của sinh vật để định ra lịch pháp tự nhiên Họ đã
dùng mối quan hệ giữa sự sính trưởng của sính vật và sự thay đối
của khí hậu để xác định thời tiết, các mùa, đỏng thời tiến tới việc tổ
chức sản xuất nông nghiệp Quyển sách Hạ Tiểu Chính chính là sự
tổng kết những nhận thức về sinh vật và khí hậu thời đó Về sau còn
có Sơn Hải Kinh, Vũ Cổng, có Hóa Thực Liệt Truyện của Tu Ma
Thiên và 7h Kinh Chư của Lịch Đạo Nguyên đều là những kiệt tác
nghiên cứu vẻ địa lý cổ đại Trung Quốc Bản vẽ địa hình khai quật ở
gò Mã Vương - Trường Sa được vẻ cách đây hơn 2.100 năm là bản đồ
địa hình độc đáo có tỉ lệ và đường khép kín hình núi giống đường
đẳng tiến hiện đại, nó vừa chuẩn xác lại vừa có cảm giác của hình
chiếu lập thể Năm 724 sau Công Nguyên, một đoàn tăng sư đã chủ
trì kiểm tra đo đạc về độ dài Kinh tuyến làn dau tiên trên thế giới
Thế kỷ 17 sau Công Nguyên, Từ Hà Khách (Hoằng Tổ) đã tập hợp
những thành tựu lớn trong nghiên cứu địa lý cổ đại Trung Quốc, trở
thành người tiên phong khai mở việc nghiên cứu địa lý cận đại, đáng
tiếc là đo bi kịch lịch sử nên mảm mống vừa mới được sáng lập này
đã không có người kế thừa
Trang 4Những năm 20 của thế kỷ 20, ngành địa lý học cùng với văn hóa
khoa học cận đại của phương Tây truyền bá vào Trung Quốc Tủ đó
về sau, nhửng thành tựu vẻ dia lý cổ đại Trung Quốc phản lớn đều
nhờ vào phương pháp Tây học để chỉnh lý nghiên cứu, tất cả những
học thuật truyền thống của Trung Quốc mâu thuẫn với khái niệm học thuật truyền thống phương Tây, bao gồm cả tư tưởng vẻ địa lý đều bị
khinh miệt, thậm chí bị chê cười là “mê tín” Tờ những năm 50 của thế kỷ 20 vẻ sau, nhờ sự xuất hiện của “lý thuyết thông tin liên lạc”,
“ly thuyết điều khiển”, “lý thuyết hệ thống”, “toán học mơ hê”, “kết
cấu hao tán”, “sinh thái học môi trường” v.v đã làm cho các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội đạt được những thay đổi và phát
triển vượt bậc Trong tình hình đó, việc xem xét thảo luận phương
hướng nghiên cứu “cứu thiên nhân chỉ tế” của địa lý cổ đại Trung
Quốc có ý nghĩa hiện thực của nó
Tư tưởng địa lý học cổ đại của phương Đông và phương Tây có
những khác biệt rõ rệt Điều này thật giống với tổng kết của ong I Prigogine — người sáng lập ra “thuyết kết cấu hao tán” đương đại
rằng: “Những nhà khoa học và nhà học thuật phương Tây quen
nghiên cứu hiện thực từ góc độ phân tích và mối quan hệ cá thể Mà một trong nhứng vấn đề khó giải quyết trong sự biến đổi phát triển hiện nay, chính là làm thế nào lý giải được sự phát triển mang tính
đa dạng của thế giới từ góc độ chỉnh thể Tư tưởng học thuật truyền
thống Trung Quốc là tập trung nghiên cứu tính chỉnh thể và tính tự phát, nghiên cứu sự bài hòa và phối hợp” Trong quyền Lý Luận Mới
Vé Neuén Goce Và Sự Phát Triển Tư Tưởng Địa Lý Học Cổ Đại
Trung Quấc Và Phương Tây, chủ nhiệm khoa Địa lý — Đại học
€Columbia, Mỹ, ông Kepteen E Webb và giáo sư khoa Địa lý - Đại học
Bắc Kinh Dương Ngô Dương cùng biên soạn đã viết: “Địa lý học của
Hy Lạp và La Mã đã chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ thế giới quan tự
nhiên của Platon và Aristotle trên phương điện triết học, phép quy nạp và phép diễn dịch đã được ứng dụng một cách rộng rãi” Lại nói
Trang 5“Địa lý học từ thời Tiên Tản đến các triều đại sau của Trung Quốc
cũng đã tiếp thu được triết học tự nhiên như Kinh Dịch, Nội Kinh
v.v., làm cho hiện tượng địa lý tăng thêm tính mạch lạc và liên kết,
đạt hiệu quả rất tốt, đáng tiếc là vào thời cận đại đã không khôi phục
lại những ứng dụng đó” Khi viết lời mở đầu “Khoa học và sự biến
hóa” cho quyển ? Hỗn Độn Đến Trật Tự của Prigogine - người đoạt
gidi Nobel héa hoc, Toffler - tác giả của Làn Sóng Thứ Ba đã nói:
“Một trong những kỹ xảo phát triển cao nhất đạt được trong nén van
minh phương Tây đương đại chính là phép phân tán, tức là phân tích
giải thích vấn đề thành từng phản nhỏ đến mức có thể” Địa lý học
phương Tây dùng biện pháp trừu tượng phân chia thành nhiều bộ
môn, nhiều khu vực từ góc độ phân tích để nghiên cứu tình trạng lớp
vỏ trái dat Con phương thức tư duy truyền thống của Trung Quếc lại
lấy Tư Mã Thiên làm đại điện, là từ “Nghiên cứu ranh giới giửa trời
và người, nối liễn sự biến đối giữa xưa và nay thành tiếng nói chung”,
tức là từ tính chỉnh thé va hữu cơ của “thiên nhân hợp nhất” đề nhận
thức mối quan hệ giữa Thiên, Địa, Sinh, Nhân
Sự khác nhau cơ bản của tư tướng khoa học địa lý phương Đông
và phương Tây này là điều không ít học giả trên thế giới cùng nhận
thay Ernest J Eitel - Anh Quốc sống vào thế kỷ 19 sau khi so sánh
tư tưởng khoa học phương Đông và phương Tây đã cho rằng tư tưởng
khoa học truyền thống của Trung Quốc là “một loại dây bằng vàng
của đời sống tinh thản, vận động trong mọi vật thể đang tỏn tại, và
liên kết chúng thành một thể thống nhất” Trong thời gian giảng dạy
tai Dai hoc Moscow vao thang 3 nam 1991, vào một buổi thảo luận
ngoài giờ học, người viết đã nghe giáo sư Lappina - nhà Hán học ở
Đại học Moscow gọi khoa học truyền thống của Trung Quốc (trong đó
bao gồm ngành địa lý học - mẹ đẻ của các ngành khoa học khác) là
“khoa học sống”, dùng để phân biệt với khoa học theo lối trừu tượng
và phân tích của phương Tây có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ Bà cho rằng
địa lý học Đông - Tây trước kia thuộc hai hệ thống tư tưởng khác
Trang 6nhau Khoa học địa lý phương Đông cổ đại rất ít được giới thiệu với
giới học thuật quốc tế, có thể nói đó là những điều mới mẻ với những
gì người phương Tây đã biết, đây là điều cẩn cấp bách cứu văn
Giáo sư Losyukov - Viện sĩ Viện Khoa học châu Âu làm việc tại
Sở Nghiên cứu dân tộc phương Đông — cũng nói: “Chỉ có sự kết hợp
khoa học phương Đông và phương Tây mới là khoa học đương đại
toàn điện” Ông nói với người viết rằng: “Trong bài điễn thuyết, ngài
đã sử dụng những đỏ thức kết cấu về núi, sông của tư tưởng địa lý cổ đại Trung Quốc để chỉ rõ điểm tương đỏng đến kinh ngạc trong việc
chọn lựa địa điểm xây thành theo thế tựa núi kề sông của các thành
phế Bắc Kinh, Moscow và Washington Có thể thấy giửa chúng tất nhiên có một điều huyền bí phù hợp quy luật khách quan Trước mắt, nên cố gắng hết sức khai thác nguyên lý địa lý học truyền thống cố
đại Trung Quốc, bởi đây là tài sản chung của toàn nhân loại” Sau đó, Viện trưởng của viện này, giáo sư Burma Leks Sedov đã đề nghị hiệu trưởng trường Đại học Bắc Kinh lập chương trình hợp tác nghiên cứu
quốc tế về lĩnh vực này
Mấy năm gản đây, ông Tiền Học Sâm - nguyên Chủ tịch Hiệp
hội Khoa học Trung Quốc đã ra sức để xướng “xây dựng hệ thống khoa học địa lý hiện đại” và kêu gọi phải nghiên cứu “mối quan hệ
tương hỗ giữa Thiên, Địa, Sinh, Nhân”, đồng thời dé xuất “khoa học địa lý là một hệ thống to lon, phức tạp và rộng mở” Những kiến giải
sâu sắc này đã gợi ý cho khoa học địa lý hiện đại cần đi theo con
đường nghiên cứu nắm vứng cái tổng thể, từ việc phân chia ngành một cách chỉ tiết đến quy nạp theo hướng tổng hợp hóa ở cấp độ cao
hơn Đây là một nhu câu bức thiết đối với sự phát triển khoa học địa
lý trước mắt, cũng là kế thừa truyền thống địa lý học của Trung Quốc
cổ đại ở giai đoạn cao hơn
Trang 7Khoa học tự nhiên của phương Tây dựa trên kỹ thuật phân chia
nhỏ lẻ, nghiên cứu định lượng phân tích vi mô Kiểu nghiên cứu này
bắt buộc phải chia tách vũ trụ thành các lĩnh vực khoa học không liên
quan với nhau, tuy nó vẫn đạt được những thành tựu rực rỡ, nhưng
do tính chỉnh thể cúa vũ trụ đã bị chia cất nên có một vài khía cạnh
biểu hiện không duoc day đú Các nhà khoa học tự nhiên hiện đại đã
chú ý đến điểm này Trong Nguyên Lý Vật Lý Học, F Kapula có
viết: “Thế giới quan hứu cơ, sinh thái của triết học phương Đông chắc
chắn là một trong những nguyên nhân chủ yếu của việc chúng lan
tràn ở phương Tây trong thời gian gần đây Trong nền văn hóa
phương Tây của chúng ta, thế giới quan cục bộ cứng nhắc, máy móc
vẫn chiếm địa vị thống trị Ngày càng có nhiều người xem đây là
nguyên nhân căn bản của mọi bất mãn đang lan rộng trong xã hội
chúng ta Có rất nhiều người đã chuyển hướng sang con đường giải
phóng kiểu phương Đông để nghiên cứu và học hỏi ở Kinh Dịch", Và
Bohr - người đoạt giải Nobel vật lý, người đặt nền móng cho “Thuyết
lượng tử” lại phát hiện ra rằng kết cấu nguyên tử của vật chất và Bát
Quái Thái Cục rất giống nhau, từ đó ông biểu thị sự ca ngợi đối với
Kinh Dịch Cho nên Kinh Dịch không chỉ là báu vật của văn hóa
Trung Quốc, mà còn là báu vật của văn hóa thế giới Để giải thích
được cơ sở khoa học của Kinh Dịch, chúng ta vẫn phải học tập nền
khoa học tự nhiên chuẩn xác, phân tích mạch lạc của người phương
Tây “Biển Tây biển Đông, tâm lý tương đông Học thuật Nam - Bắc,
tư tưởng tương thông” (Tiên Trọng Thư Đèm Nghệ Lục trang 1) Vũ
trụ và loài người vốn là một chỉnh thể không thể tách rời
Trang 8Dich
Tương truyền Kinh Dịch là do Phuc Hy, Van Vuong va Khong
Tử sáng tao ra, né dung tam qué Can, Khon, Chan, Ton, Kham, Ly,
Cấn, Đoài để tượng trưng cho kết cấu thế giới, đại diện cho tám hiện tượng tự nhiên là trời, đất, sấm, gió, nước, lửa, núi và ao đảm, đồng thời căn cứ vào những thay đổi có trình tự của tám loại hiện tượng tự nhiên này, lấy sự tiêu trưởng cùng sự tác dụng qua lại của hai thế lực đối lập Âm - Dương để nói rõ quá trình hình thành và biến đổi của
vạn vật
Theo nghiên cứu của ông Cao Ngân Hạc thuộc Hội Nghiên cứu
Chu Dịch Tây An, Dịch là tác phẩm đứng đầu trong những tác phẩm kinh điển, là ngọn nguồn của nền văn hóa phương Đông rực rỡ; và có
hệ tư tưởng vô cùng rộng lớn, bao hàm tất cả mọi lĩnh vực; vì thế, ông Phùng Hữu Lan gọi nó là “Vũ trụ đại số học” cũng không phải quá lời, Chu Dịch là sách về bói toán, tách khỏi cái gốc rễ này, sẽ không
có cách gì bàn về Dịch
Trên quan điểm biến hóa, “muôn vạn sự vật trong thiên hạ, cái
nào cũng có định số của nó” Nói theo ngôn ngứ hiện đại là: “Bất cứ
sự vật nào cũng đang vận động theo một quy luật tương tự nhất định”, giáo sư Hacken khi nghiên cứu lý thuyết đồng đều đã rút ra kết luận đúng đắn như sau: Quy luật của khoa học tự nhiên khá trực quan, thông qua thực nghiệm là có thể tìm ra được manh mối ngọn
nguồn Khoa học xã hội cũng có quy luật chung của nó, không có quy
luật thì không thể gọi là khoa học Các nhân tố chế ước của quy luật này khá nhiều Những ngành khoa học giáp gianh hiện đại như tin
học, điều khiển học, tương lai học, dự báo học v.v chính là sự giao
thoa giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhưng phương pháp nghiên cứu vẫn dựa vào mô thức truyền thống, nghĩa là phải dựa trên
cơ sở nắm được nhiêu tư liệu để suy đoán chiều hướng phát triển của
Trang 9sự vật Thế nhưng lại bất lực đối với những sự thay đổi mang tinh đột
biến Ví dụ như việc dự đoán tỉ lệ thành công của những hạng mục ở
một lần hợp tác, theo tư liệu hiện có thì các nhân tố đều đã chắc
chắn; nhưng do chiến tranh xảy ra đột ngột khiến cho lần hợp tác này
bị thất bại Khoa học hiện đại không cách nào phán đoán được những
nhân tố ngoài ý muốn này, Bản năng bói toán của Dịch là sử dụng
phương pháp Âm Dương Ngủ Hành và tương sinh tương khắc để suy
đoán, diễn thích, xác định chiều hướng phát triển thông tin trong quá
khứ và tương lai Phương pháp này tuy gần với Huyền học, nhưng
không phải là gửi gắm ở ý chí quỷ thản, những người theo chủ nghĩa
thuần lý tính gọi đây là “mê tín”, thậm chí còn gán thêm hai chứ
“phong kiến", nhưng họ đâu biết rằng khi loài người biết ứng dung
bói toán thì vẫn chưa có xã hội phong kiến!
Tất cả những tri thức có thể xây dựng mô hình toán lý thì đó
chính là khoa học Bói toán vốn là một mô hình toán lý vô cùng chặt
chẽ Lý thuyết Kinh Dịch hướng dẫn, giới thiệu những thành tựu đạt
được trong nghiên cứu khoa học tự nhiên làm cho tất cả mọi người từ
xưa đến nay, trong và ngoài nước đều biết, tất cả các mặt từ thiên
văn, địa lý, lịch pháp, y dược, xây dựng, tàu xe, võ thuật, binh pháp
cho đến la bàn, máy đo địa chấn, số pì (), thuyết tương đối, máy tính
điện tử v.v., đều tôa sáng ánh hào quang của lý thuyết Kink Dick
Tóm lại, người xưa cho rang, ly thuyét Chu Dich vé Can Khon,
Am Dương không chi van dụng thích hợp vào giới tự nhiên, mà còn
thích hợp cho con người và đời sống xã hội Người xưa tận dụng học
thuyết Âm Dương Ngũ Hành của Chư Dịch trong mọi lĩnh vực va
khía cạnh của đời sống xã hội, vận dụng tư tưởng Âm Dương Ngủ
Hành của Chu Dịch để chỉ đạo và tổ chức đời sống chính trị xã hội
cũng như thúc đẩy sản xuất xã hội Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành
của Chu Dịch một mặt là sự phán ánh quy luật vận hành của Thiên
đạo, có cơ sở khoa học tự nhiên và những nhân tố, thành phản hợp lý
Trang 10sau, Thuyết Quái Truyện trong Chu Dịch trên thực tế xuất hiện sau
thời Khổng Tử Nhưng nguyên tác Chu Dịch gồm hai thiên thượng
hạ đúng là một bộ sách cổ có trước thời Khổng Tử Đây vốn là quyển
sách thời thượng cổ dùng để bói về những việc lành diz cua con người, triết học nhân sinh đời sau của Trung Quốc cũng bắt nguồn từ đây
Muốn bói lành dữ thì phải chứa đựng những thực tế của các sự việc
trong đời sống con người Quái tuong cla Kink Dich phai su dung những ký hiệu thật đơn giản, trừu tượng va linh hoạt kỳ ảo để thay
thế cho Thiên, Địa, Nhân, Sinh và mọi tình huống phức tạp từ giới tự
nhiên đến những hoạt động của con người Hơn nữa, chính tử những
ký hiệu vô cùng đơn giản, trừu tượng và linh haạt kỳ ảo này, tổ tiên
của người Trung Quốc đã nắm vửng được cái cốt lõi của những bí mật
ẩn chứa bên trong vũ trụ và cuộc sống con người, và dùng để hướng dẫn cách thức tránh xa điều hại, hướng đến điêu lợi trong các mặt
của đời sống con người Có thể nói tính uyên bác, thám thúy trong
Dịch đã thể hiện đây đủ trí tuệ vô tận và thiên tài nghệ thuật của người xưa trong việc khái quát sự biến đổi, phát triển của muôn sự
vạn vật Vì thế, Dịch không chỉ là một bộ sách triết học đi sâu vào sự
lý nhân sinh của Trung Quốc cổ đại, mà còn là một tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật có ảnh hưởng sâu rộng Cái tiêu biểu cho triết học và văn học nghệ thuật Trung Quốc trong Đ;ch là vừa chú trọng thực tế, đồng thời lại vượt ra khỏi tất cả trói buộc, dùng phương pháp trừu
tượng và linh hoạt kỳ ảo, tình vi để trực tiếp đì thẳng vào những chỗ rất tham sâu Nó đã thể hiện nét đặc trưng của quốc dân tính Trung Quốc và văn hóa Trung Quốc
Trang 11Giới tự nhiên vô cùng rộng lớn, đời sống của con người củng vô
cùng phức tạp, nhưng cuối cùng đúc kết lại cũng không ngoài hai hệ
thống lớn: Một thuộc Dương (nam) tính, một thuộc Âm (nữ) tính
Nhân tính hoàn toàn khởi phát từ con người, con người có hai thuộc
tính nam nữ riêng biệt, bất kể vé mat tâm lý hay sinh lý đều rất rõ
ràng, không thể phủ nhận được Vạn vật trong tự nhiên củng như
thế, đều có sự phân biệt Âm Dương Quái tượng của Kinh Dịch chính
là lấy quan niệm này làm nên tảng “——” đại diện Duong (nam) tinh,
“— -* thuộc Âm (nữ) tính Đây là sự phân biệt cơ bản nhất của quẻ,
tức là “—” và “- -” Nhưng nếu chỉ có như thế thì thật quá đơn giản,
không thể có sự thay đổi, biến hóa, nếu lấy hai quẻ này luân phiên
nhau lặp lại sé tạo thành “==” và ”, đại diện cho tính thuần
Dương và tính thuần Am “==” “==” “==" dai dién cho những sự vật
thiên về Dương tinh, “== đại điện cho những sự vật thiên
về Âm tính Cứ thế lần lượt tao ra tám qué tượng 1 Nếu lấy những quẻ
này ví với gia đình thì “=” là cha; * ==" la me, “==” la truéng nam,
“S=" Ja tht nam, “==” 1a ut nam “==” là trưởng nứ; “==” là thứ nữ,
‘==" la ut nv Néu như ví với gửi tự nhiên n thi “= ==' là trời, “==” là
tri, ==” là dê Cứ s so sánh suy “diễn như thế thì tất cá mọi sự vật
trong trời đất, dù hữu hình hay vô hình đều tượng trưng bằng Bát
Quái Từ đó tiến thêm một bước, lấy tam qué lan lượt chồng lên nhau
thành sáu mươi tư quẻ, thì những sự vật do sự biến hóa đan xen
nhau đó tượng trưng, càng trở nên vô cùng vô tận Ví dụ giống
như cảy ở dưới lứa, qué này có thể tượng trưng cho việc nấu nướng,
trong sự vật lại có thể tượng trưng cho cái nồi Còn như “&=” thì
giống người con trai út theo đuổi người con gái út, cũng có thể đại
điện cho tình yêu và hôn nhân Kinh Dịch dùng sáu mươi tu ký hiệu
đơn giản như thế để biến hóa muôn hình vạn trạng, chứa đựng muôn
Trang 12vạn sự vật vô cùng phức tạp trong trời đất Vậy nó làm thế nào để
phán đoán kiết hung? Về điều này, có mấy nguyên lý cơ bản sau đây
Sáu mươi tư quẻ của Chu Dich đều do hai quê “—” và “- ~” chồng lên nhau tạo thành Về thời gian nó tượng trưng cho hai giai
đoạn trước, sau; về không gian thì nó tượng trưng cho hai vi tri cao, thấp “Thời và “vị” là hai khái niệm cơ bản vô cùng quan trong trong
Kinh Dịch, tắm quan trọng của nó cũng tương tự như việc phân biệt, nam và nữ vậy Điều này có nghĩa là, tại một vị trí trong một khoảng thời gian nào đó, nên áp dụng thái độ nam tính mạnh mẽ, lấy tinh thân kiên cường, ý chí tiến thủ để hành động Còn ở một vị trí trong một khoảng thời gian khác thì lại thích hợp áp dụng thái độ nữ tính,
đó là dùng sự dịu dàng, mẻm mỏng hoặc bằng cách im lặng, nhượng
bộ để xử lý sự việc Mỗi quái tượng của Kinh Dich déu do ba vạch tạo thành, bất kể là trên phương diện thời gian hay vị trí đều biểu hiện
ba mức độ trên, giữa, dưới hoặc trước, giữa, sau Đại khái là ở giai đoạn sớm nhất hoặc ở vị trí thấp nhất, lúc đó cơ may chưa chín muỗi, thế sự chưa hình thành, do đó nên có thái độ cần thận va dé dat, dé phòng Chỉ khi nào ở vào vị trí và giai đoạn chính giữa là thích hợp
nhất cho chúng ta dồn hết tâm sức và tiến thú
Nếu kết hợp sáu hào của trùng quái lại làm một, thì sẽ tạo thành một đường dọc mà trong đó hai hào thứ hai và thứ năm nằm ngay
chính giữa và chiếm vị trí quan trọng nhất, đây là điểm may mắn và thuận lợi, có thể tiến thủ được Hào thứ ba, thứ tư có thể nằm trên
hoặc nằm đưới, tính biến động của chúng rất lớn Vì vậy, khi hành sự phải chuẩn bị cả hai tư tưởng thành công và thất bại Hào trên cùng
và hào dưới cùng luôn luôn báo hiệu cho con người nên cần thận, tiến dan ting bước, để ý, cảnh giác và phòng thủ Tương tự như thế, tiếp tục kết hợp những sự vật cụ thể và toàn bộ tình hình mà sáu hào của
cả quẻ tượng trưng thì trong mỗi thời điểm, mỗi vị trí, việc cảm nhận
Trang 13và đoán định khả năng xuất hiện của điểm lành đứ và nên áp dụng
thái độ cương nhu là điểu không khó để có thể nhận biết được
Tóm lại, trong bản thân loài người vốn có thiên tính nam nữ,
cương nhu Hoàn cảnh môi trường ở bên ngoài mà loài người gặp
phải, về mặt thời gian thì có những cơ hội khác nhau, giàu sang
quyền thế đều theo trình tự trước sau Về vị trí địa điểm thì có cao có
thấp, cùng với những tình thế khác nhau được hình thành bởi những
biến cố và con người xung quanh Kết quả có được từ bói quẻ, ở một
hào bất kỹ sẽ biểu thị tính chất của thời gian và địa điểm Năm hảo
còn lại sẽ chỉ ra nhân vật và tình hình sự việc xảy ra xung quanh
chúng Cho nên, Chu Dịch đã xét đến vận mệnh của chính sự vật và
hoàn cảnh tháng lợi thất bại của sự lý xung quanh, kết hợp tính
cương nhu của sự vật đó với số mệnh và môi trường thiên thời địa lợi
bên ngoài để lựa chọn và quyết định thái độ tiến lui hay động tĩnh,
với hy vọng tránh xa cái xấu và hướng đến điều tốt, đây chính là Dao
Vì vậy, Kinh Dịch là sách bái toán, mục đích chú yếu là dạy con
người tránh xa cái xấu, hướng đến điều tốt Nó cán cứ vào thực tế,
tuyệt đối không dựa vào ý chí quỷ thản, mà chỉ từ tình hình phức tạp
của đời sống và tính cách ẩn sâu bên trong bản thân mỗi người, tìm
ra được một con đường hoặc một trật tự thật thích hợp Ban đầu loại
bói này hẳn là mang tính chất tôn giáo, nhưng cuối cùng nó đã được
luân lý hóa toàn bộ Sự gợi mở và giáo huấn có tính luân lý này
không chỉ áp dụng vào đời sống cá nhân, mà còn áp dụng cho hàng
loạt những sự kiện trọng đại của cộng đẳng loài người, bao gồm cả các
mặt chính trị, xã hội Dùng sự gợi mớ có tính luân lý này, giúp con
người hóa giải tai ương, dẫn dắt tiến lên, day là một đặc trưng chủ
yếu của văn hóa Trung Quốc
Tuy Chu Dich bắt nguồn từ bói toán hỏi cát, hung, họa, phúc,
nhưng trong việc giải thích ý nghĩa của quẻ thì mục đích chủ yếu lại
là nâng cao tảm mức đạo đức của con người Thuyết Quái Truyện núi:
Trang 14Vậy “Nhân” và “Nghĩa” là gì?
“Nhân” là tấm lòng của con người; “Nghĩa” là đường ởi của con
người Sự sáng tạo của Nho gia chính là biết kết hợp Nhân và Nghĩa
với nhau Mối quan hệ giửa Nhân và Nghĩa giống như một sự tương
trợ tương thành giữa Âm và Dương, giữa Cương và Nhu “Nghĩa là
phẩm tiết của Nhân, Nhân là cái gốc của Nghĩa” (Lễ Ký ~ Là Vận),
Nhân là chỉ lòng lương thiện bác ái của con người, Nghĩa là chỉ lòng
chính trực, trọng chử tín của con người Nho gia cho rằng, chỉ có lòng
bác ái, trong shu tin, hướng thiện, phân biệt rõ đúng sai mới có thể
đạt đến tâm mức tối cao, là lấy “Lễ Nghĩa” để chỉnh đốn và cai trị đất nước
Kinh Dịch không chỉ có ảnh hưởng to lớn đối với triết học, chính trị, văn học, sử học, luân lý, phong tục tập quán của nhân dân, văn hóa giáo dục, thiên văn, lịch pháp, toán học, nhạc luật của Trung Quốc mà còn được truyền bá rộng rãi ra nước ngoài và nhận được sự xem trọng của đông đảo học giả các nước trên thế giới.
Trang 15
Từ xưa đến nay, khái niệm Âm Dương đã thé hiện được cách
nhìn cơ bản của người Trung Quốc đối với thế giới Thế giới quan này
của người Trung Quốc đã ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của văn hóa
Trung Quốc, bao gồm y học, triết học, tư tưởng chính trị, tư tưởng
pháp luật, bói toán, tôn giáo, âm nhạc và Phong Thủy v.v
Học thuyết Âm Dương là một dạng quan điểm về vũ trụ và
phương pháp luận của người Trung Quốc cổ đại, dùng để nhận biết
và giải thích các hiện tượng tự nhiên Vào thời cổ đại, trong một thời
gian đài quan sát các hiện tượng tự nhiên, con người đã nhận thấy
các hiện tượng đều có hai mặt đối lập và sự thay đổi của chúng, như
mặt trời mọc mặt trăng lặn, ngày đêm hoán đổi, nắng mưa, ấm lạnh,
nam nữ, già trẻ v.v nên đã sản sinh ra hai quan niệm Âm và Dương
một cách rất tự nhiên Đến thời đại Tây Chu, quan niệm Âm Dương
phát triển thành học thuyết Âm Dương, mà biểu hiện tập trung của
nó chính là Chw Dịch (chỉ kinh văn Chu Dịch) Toàn bộ sách Chu
Dich lấy hai loại ký hiệu Âm (- ~) Dương (—) cấu thành 7rang Tử -
Thiên Hạ có nói: “Dịch chỉ rõ sự biến hóa Âm Dương”, hoàn toàn phù
hợp với thực tế của Chw Dịch Họ cho rằng sự vận động biến hóa của
trời đất, mặt trăng mặt trời, ngày đêm, nắng mưa, ấm lạnh, nước lửa
v.v, đều là kết quả gộp hai làm một trong quá trình chuyển động của
cái khí cấu thành thế giới vạn vật, tất cả mọi vật của giới tự nhiên
đều tồn tại hai mặt Âm Dương, đồng thời do sự kết hợp biến hóa của
Âm Dương, thúc đẩy sự phát triển và biến hóa của sự vật Từ đó có
thể thấy, học thuyết Âm Dương đã trở thành một trong những quy
luật căn bản của giới tự nhiên, vì vậy trong Tố lấn - Ứng Tượng Đại
Luận có nói: “Âm Dương là đạo của trời đất, là kỷ cương của vạn vật,
là cha mẹ của biến hóa, là nguồn gốc của sinh diệt, là nơi trú ngụ của
Trang 16Nguyên lý cơ bản của lý luận này rất đơn giản: Tất cả mọi sự vật
trên thế giới đều là sản phẩm của hai “Khí” Âm - Dương (Khí: năng
lượng, lực, bản nguyên, nguyên khí) Chu Đôn Dì, học giả phì Nho gia
rất nối tiếng đời Tống, trong Thái Cực Đô Thuyết đã sử dụng những
ngôn từ súc tích nhất để khái quát và tổng kết về Âm Dương nhự sau:
“Vô Cực rồi đến Thái Cực, Thái Cực vận động sinh ra Duong, cực
điểm của động là tĩnh, tĩnh sinh ra Âm, cực điểm của tĩnh lại quay trở về động, một động một tỉnh, làm nền tảng cho nhau phân chia thành Âm Dương, tao ra Lưỡng Nghỉ
Âm Dương kết hợp hài hòa sinh ra Thủy, Hóa, Mộc, Kim, Thổ
Năm loại khí này lần lượt phân bố, tạo thành bốn mùa trong năm
Ngũ Hành chính là Âm Dương Âm Dương chính là Thái Cực,
Thái Cực bắt nguằn từ Vô Cực Ngủ khí sinh ra, mỗi loại có một tính chất riêng Thực chất của Vô Cực và tỉnh túy của Lưỡng Nghị Ngũ
Hành kết hợp với nhau một cách kỳ diệu Đạo trời thành nam, Đạo đất thành nữ, hai khí giao cảm tạo ra vạn vật, van vat sinh sôi nảy
nở, biến hóa vô cùng”
Từ đó có thể biết được rằng, Âm Dương Ngũ khí biến hóa tạo ra
muôn sự vạn vật, muôn vạn sự vật đó lại đựa vào tính chất mà phân
loại thành Âm Dương và một trong nám Hành: Thúy, Hỏa, Mộc, Kim,
Thổ Đây chính là cái sốt lõi của lý luận Âm Dương
Xét từ góc 46 trực quan của văn tự học, hai chữ “Âm Dương” có
liên quan đến bóng tối và ánh sáng Chữ “Âm” có thể giải thích bằng hình vẽ là núi (bóng của núi) và mây; và “Dương” là khởi nguồn của
các loại ánh sáng, nếu nhự nó không phải tượng trưng cho một người trong tay cảm một chiếc mâm ngọc có lỗ ở giữa - loại mâm ngọc này tượng trưng cho trời, hơn nứa rất có thể nó còn là một thiết bị đo đạc
Trang 17thiên văn cổ xưa nhất - vậy thì, nó chính là biểu tượng của tia nắng
chiếu xiên, hoặc là ngọn cờ tung bay dưới ánh nắng mặt trời
“Âm” khiến người ta liên tướng đến cái lạnh, mây, mưa, nữ tính,
bên trong và bóng tối (ví như kho lạnh trử bảng làm phòng nghỉ
mát) “Dương” khiến người ta liên tưởng đến ánh sáng mật trời, sự
nóng bỏng, hai mùa Xuân và Hạ, nam tính, có lẽ còn liên tưởng đến
tư thế oai phong của những người nhảy múa trong buổi cúng tế Hậu
hết các ý kiến đêu đồng ý rằng: “Âm” chỉ phía núi hoặc khe núi có
bóng râm (phía Bác của núi, phía Nam của khe); “Dương” chỉ phía có
ánh sáng mặt trời (phía Nam của núi, phía Bắc của khe)
Các học giả nghiên cứu “Âm Dương”, lần đầu tiên sử dụng Âm
Dương như mệt thuật ngữ triết học, đã tìm thấy trong chương năm
thiên thượng Chư Dịch - Hệ Từ Truyện một câu thường xuyên được
trích dân, là “nhất Âm nhất Dương vị chỉ Đạo” (một Âm một Dương
gọi là Đạo) Ý của câu nói này có lẽ là, trong vũ trụ chỉ có hai loại
nguyên động lực hoặc tác động, có khí cái này chiếm ưu thế, có lúc cái
kia chiếm ưu thế, tạo thành sự thay thế qua lại dạng sóng Dịch - Hệ
Tờ được sáng tác hoàn chỉnh vào cuối thời Chiến Quốc, khoảng
những năm đầu của thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên Ngoài ra còn
có những quyền sách cổ khác cũng nhắc đến Âm Dương như Ađợc Tử,
Trang Tử và Đạo Đức Kimh Trong sách Mặc Tử, có hai chỗ dùng
“Âm Dương” như một thuật ngữ: “Tất cả đều quy vào trong đất trời,
được bao bọc trong bốn bể, tình trạng của đất trời, hòa hợp của Âm
Dương, không cái nào không có” (Từ Quớ Thiên); “(Thánh Vương)
chỉnh đốn bốn mùa điều hòa Âm Dương” (Thiên Chí Trung) Sách
Trang Tử, hai chữ “Âm Dương" được dùng khá phổ biến, chúng ta có
thể tìm thấy ít nhất là hai mươi chỗ mà hai từ “Âm Dương” được sử
dụng như một thuật ngữ Trong sách Ðẹo Đức Kinh, chúng củng
xuất hiện nhiều lần, như trong câu: “Vạn vật đều chứa đựng hai mặt
Âm Dương, các khí tương tác nhau tạo nên sự hài hòa” Da vấn để
Trang 18năm mất của Lão Tử, các nhà dịch thuật và chú giải vẫn cảm thấy do
dự không dám khẳng định “Âm” và “Dương” trong câu này có hoàn toàn mang ý nghĩa thuật ngữ hay không, nhưng chúng tôi tin là có
Đương đại diện cho những sự vật có liên quan đến nam tính, người cha, chính điện, cường tráng, kiên cố, tươi sáng và tạo lập; Âm thì đại diện cho những sự vật liên quan đến đất, nữ tính, người mẹ,
phần điện, yếu ớt, mềm mỏng, tối tăm, ẩm ướt và phá hoại Hai lực
lượng này đối lập với nhau, tác dụng qua lại sinh ra Ngủ khí, Ngủ
khí lại chuyển hóa hợp thành Âm Dương
16 Van - Kim Quý Chân Ngôn Luận đưa ra ví dụ thời gian một ngày đêm đề tiến hành phân định thì càng cụ thể hơn “Tử hừng sáng
đến giữa trưa, là Dương của trời, là Dương trong Dương; từ giữa trưa đến chạng vạng tối, là Dương của trời, là Âm trong Dương; từ chập tối đến khi gà gáy, là Âm của trời, là Âm trong Âm; từ gà gáy đến lúc rạng đông, là Ấm của trời, là Dương trong Âm” Hiện tượng trong Âm
có Âm, trong Âm có Dương, trong Dương có Dương, trong Dương có
Âm đã nói rõ hai mặt Âm Dương của vạn vật trong đất trời không
phải là tách rời nhau tuyệt đối, mà trong phân có hợp, trong hợn có phân
Theo quan điểm của người xưa, mối quan hệ giửa Âm Dương là quan hệ biện chứng đối lập thống nhất Âm Dương hàm chưa lẫn
nhau, trong Chu Tử Ngữ Loại (quyền 98) có nói: “Chẳng hạn như Am Dương, trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, Dương cực thì sinh
ra Âm, Âm cực thì sinh ra Dương, vì vậy mà biến hóa thần diệu vô
cùng” Âm Dương có quan hệ tương hỗ, Âm Dương hình thành nên
mối quan hệ giữa các mặt đối lập của sự vật nhưng không phải là tuyệt đối, Âm đạt cực điểm thì sẽ sinh ra Dương, Dương đến tận cùng thì Âm sẽ xuất hiện, trong thế đối lập đó đạt đến sự cân bằng, hơn
nia Am Duong còn có thể chuyển hóa lẫn nhau, câu nói “Mặt trời
Trang 19đứng bóng rỗi xế Tây, mặt trăng tròn rỏi lại khuyết” chính là mang ý
này (hình 2-1) Dương đại diện cho các đặc tính tích cực, tiến thủ,
kiên cường v.v và những sự vật, hiện tượng vốn mang những đặc
tính này; Âm thì đại điện cho các đặc tính như tiêu cực, thoái thủ,
mềm yếu v.v và những sự vật, hiện tượng vốn mang những đặc tính
đó Nói tóm lại, tất cả những hoạt động, những cái tồn tại bên ngoài,
sự lên cao, ấm nóng, phát triển quá mức v.v đều thuộc phạm trù
Dương; sự lạnh lẽo, tối tăm, u ám, suy giảm v.v tất cả đều thuộc
ÍDướmlTrồi Sóng Nóng Khô Cuong Nam Trên Trú Tàn Nam Mạtti lê Chi ding
(Âm [Bế TẾ lạh ỦA Nha Bức Dati Phi Vuing NO Mit ting Chin Bi ding
Trong Tố Vấn - Âm Dương Ly Hợp Luận có nói: “Âm Dương, kế
ra có thể là mười, suy ra có thể là trăm Kể ra có thể là ngàn, suy ra
có thể là vạn, vạn thì to lớn không sao đếm xuề, nhưng cái mấu chốt
của chúng đều giống nhau” Sự biến hóa của vạn vật trên thế gian
tuy nhiều đến mức không thể đếm xuể nhưng nội dung chủ yếu của
nó lại chỉ có một, đó chính là quy luật vũ trụ đối lập thống nhất của
Trang 20Do sự đối chọi và thẩm thấu lần nhau của hai lực lượng Âm
Dương, nên giữa chúng có sự tăng giảm, kiểm chế lẫn nhau Âm
thịnh thì Dương suy, Dương thịnh thì Âm suy, chính từ sự đối chọi của trạng thái tăng giảm thịnh suy này hình thành nên sự cân bằng
động của thế giới khách quan Nếu lấy sự thay đổi thời tiết của bốn mua trong năm làm ví dụ, thì từ mùa Đông đến mùa Hạ, ngày sẽ dai
thêm, nhiệt độ cũng sẽ mỗi ngày một tảng cao, chứng tô thời kỳ này đang trong quá trình Dương tăng Âm giám Ngược lại, từ Hạ Chí cho
đến Đông Chí, đêm bắt đảu dài thêm, nhiệt độ hạ xuống mỗi ngày
Điều này chứng tổ rằng, thời kỳ này đang ở trong giai đoạn Âm tăng
Dương giảm, Người xưa có câu: “Bốn mươi lăm ngày sau Đông Chí, khí Dương tăng dân lên, khí Âm giám dần đi, bốn mươi lắm ngày sau
Hạ Chí, khí Âm tăng dân lên, khí Dương giám dản đi” Chính là biểu hiện cụ thể của quy luật hỗ tương tăng giảm, anh đến tôi đi của Âm
Dương
Quy luật Âm Dương biến hóa không chỉ thể hiện ở khía cạnh
trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, luân phiên tang giảm, anh đến tôi đi mà còn thể hiện ở chỗ dựa vào nhau để tổn tại và chuyển hóa lẫn nhau của chúng ở mức độ cực lớn Dương có nguỏn gốc từ
Âm, Âm có nguồn gốc từ Dương, một mình Âm không thể sinh, một
mình Dương không thể trưởng, nếu bất kỳ một phía nào mất đi sự nương tựa đối với phía kia thì chẳng còn Âm Dương gì để nói nữa Chẳng hạn, không có sáng thì không thể có tối, không có nóng thì sẽ
không có lạnh, không có trên thì chẳng thể có dưới, không có phái sẽ không thể có trái v.v Hoặc lấy ví dụ về vật thé và tác dụng mà nói,
thì vật thể là Âm, tác dụng là Dương Âm là cơ sở vật chất của Dương; Dương là sự thể hiện tác dụng của Âm Củng có thể dùng mối quan hệ giửa chất lượng và năng lượng để làm rõ hơn mối quan hệ
này, nếu không có chất lượng của Âm sẽ không thể có năng lượng của
Dương “Không có Dương thì Âm không thể tổn tại, không có Âm thì
Trang 21Dương không thể biến hóa”, đây chính là quy luật đối lập thống nhất,
nương tựa vào nhau của Âm Dương,
Sự chuyển hóa của Âm Dương cũng là một quy luật “vật cực tất
phản” của giới tự nhiên Bất kỳ sự vật nào khi phát triển đến cực
điểm cũng sẽ tiến đến mặt trái của nó, ví dụ khi ban ngày tiến đến
đỉnh điểm của buổi trưa thì bắt đầu xế bóng, cuối cùng sẽ bị bóng
đêm nuốt chửng; còn ban đêm khí đạt đến giới hạn cao nhất của nửa
đêm, cũng không thể ngăn cản được, mà phải bắt đầu chuyển hóa,
cuối cùng thì bị ban ngày thay thế, Quy luật cửa một năm củng giống
như quy luật của một ngày, Đông tàn Xuân đến, Hạ đi Thu về, chu
kỳ tuần hoàn như một vòng tròn khép kín Tận cùng của sự sống là
cái chết, mặt trái của cái chết là sự sống mới, sự vật đạt tới cực điểm
gọi là biến, sự vật được sinh ra gọi là hóa, sinh sinh tử tử, biến hóa vô
cùng, sự chuyển hóa diệu kỳ giửa Âm và Dương của giới tự nhiên,
chính là như vậy, không thể ngăn can được
Những nhà Phong Thủy hiểu biết sâu sắc về thuyết Am Duong
và áp dụng nó vào Phong Thủy học, gợi núi là Dương, gọi nước là Âm,
phía Nam của núi gọi là Dương, phía Bắc của núi là Âm, phía Bắc
của nước là Dương, phía Nam cúa nước là Âm Thế nên địa hình phải
“tựa Âm ôm Dương”, lưng tựa vào núi và mặt hướng ra sông, những
yếu tố như nhiệt độ cao, ánh nắng chiếu nhiều, địa thế cao v.v gọi
chung là Dương, còn nhiệt độ thấp, độ chiếu sáng ít, địa thế thấp v.v
gọi chung là Âm Từ trong kinh nghiệm cuộc sống con người đã lĩnh
hội được rằng: “Âm thịnh thì Dương suy, Dương thịnh thì Âm suy”
(Tế Vấn - Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận), do đó các thày Phong
Thúy khi chọn lựa địa thế phải “xem Âm Dương của nó”, tìm kiếm
những vùng đất có Phong Thúy tốt, Âm Dương can bằng: “Âm Dương
hòa hợp, gió mưa tụ hội”, chỉ những nơi này mới có được “Âm Dương
mạch lạc, mưa gió đúng mùa, nhân dân hạnh phúc, mọi vật đủ day,
âm nhạc hòa vui” (Quốc Ngữ - Chu Ngữ), thì mới có đây đủ điêu kiện
Trang 22vat chất, cảnh quan môi trường cho con người sinh sống, phát triển,
an cư lạc nghiệp Có thể thấy, phương pháp chọn đất theo Âm Dương
trong Phong Thúy học là một sự tổng kết những trải nghiệm từ thực
tế quan sát được và là kết quả của phép tư duy biện chứng chỉnh thể,
nó bao gồm rất nhiều yếu tố đã chọn lựa như địa hình, địa chất thủy
văn, khí hậu, thảm thực vật, sinh thái, cảnh quan v.v., đồng thời sử dụng các khái niệm “Khí, “Sinh Khf, “Âm Dương” vx của triết học
truyền thống để giải thích vẻ những điềm tốt xấu, lành đứ của vùng đất, xác định xem nơi đó có thích hợp cho con người cư trú sinh sống hay không, chỉ có thế thôi
Nếu muốn tìm hiểu quan điểm của Hán Nho đối với Âm Dương, chúng ta có thể tham khảo Xuán Thu Phôn Ló (khoảng năm 135 trước Công Nguyên), quyển 57 chương Đông Loại Tương Đồng của Đồng Trọng Thư Ông nói:
“Trời sắp xuất hiện mưa mù, con người sẽ bị bệnh, vì vậy đó là
tác động đâu tiên Là do khí Âm tương ứng gây nên Trời tạo ra mưa
mù, lại khiến con người ta muốn ngú, đó là khí Âm Buôn cũng khiến người ta nằm ngủ, vì Âm tìm kiếm nhau; có niềm vưi làm người ta không muốn nằm ngủ, vì Dương tìm kiếm nhau Nước về đêm tăng lên vài phản, gió Đông chan hòa khắp nơi Người bệnh đến đêm bệnh
càng nặng thêm, đến khi gần sáng gà gáy thưa dân, lúc đó khí của nó càng thêm tinh diệu Vì vậy, Dương càng thêm Dương, Âm càng thêm
Âm, khí Âm Dương vốn có thể hỗ tương tăng giảm.”
Theo nghiên cứu của nhóm Dương Văn Hoành, Âm Dương là tổ tiên của Phong Thủy, nói về Long mạch trong Phong Thúy thì phải
nhắc đến Âm Dương Một Âm một Dương, dan xen nhau mà thành,
như vậy mới không khô khan, cứng nhắc, thể hiện được sinh khí,
cảnh sắc tươi đẹp Trong học thuyết Phong Thủy, núi có thế cao vút
là Âm, chỗ bằng phẳng là Dương, uốn khúc là Âm, thẳng tấp là
Trang 23Dương; đi xuống là Am, đi lên là Dương; nhọn là Âm, lõm là Dương,
tĩnh là Âm, động là Dương; núi là Âm, nước là Dương Vậy tại sao
phải phân ra Âm và Dương? Bởi vì trong giới tự nhiên tồn tại các sự
vật đối lập nhau, dùng Âm Dương dé phản ánh những sự vật này là
phù hợp với thực tế khách quan của giới tự nhiên Ngoài ra, Dương
đại diện cho sự sống, Âm đại điện cho cái chết Đương nhiên, con
người yêu sự sống ghét cái chết, thích Dương ghét Âm, vì vậy chỗ ở
phải là Dương, thủy khẩu (nguồn nước) cũng phải là Dương, tất cả
Long mạch, huyệt, nước đều phải là Dương Lão Tử là người dau tién
nêu ra quan niệm chọn lựa môi trường “phụ Âm bão Dương” tựa Âm
ôm Dương, nói rằng “vạn vật đều tựa Âm và ôm Dương” Cái gọi là
“phụ Âm bảo Dương” có hai tảng nghĩa sau: Một là lưng phải tựa vào
núi cao, mặt hướng về sông nước, hoàn toàn thống nhất với điều kiện
xây dựng kinh đô được để cập trong Quản Tử Hai là xoay lưng về
phía Bắc hướng mặt ra phía Nam, tức là lưng Bắc mặt Nam, đón
nhận nguồn ánh sáng mặt trời dồi dào Vé sau, “phy Am bao Dương"
đã trở thành một nguyên tác cơ bản của Phong Thủy
Các nhà Phong Thủy chủ trương, Âm long phải có Dương thủy
hội tụ, Dương long phải có Âm thủy giao hòa Dương long ở bên phải
thì Âm thủy ở bên trái, Âm long ở bên phải thì Dương thủy ở bên
trai, hai bén châu tuần vào trước mặt Âm Dương tương tác hài hòa,
làm cho vạn vật biến hóa sinh sôi (Bình Sa Ngọc Xích Kinh) Núi và
nước tuy là hai, nhưng biểu thị một Âm một Dương, nên không thể
tách rời nhau được Núi không eó nước sé khong bién đổi, nước khang
có núi không thể tụ hợp lại Một động một tính, một Âm một Dương
Nui cai quan con người, nước cai quản tài lộc (Thanh Nang Tự) Đây
là một quan niệm mê tín về sơn và thủy của cdc thay Phong Thuy
That ra, chỉ khi sơn và thủy kết hợp tương xứng với nhau thì “ảnh
vật mới đẹp, môi trường sinh thái mới tốt lành, con người cư trú ở đó
mới cảm thấy thoải mái, dễ chịu
= Se
3
& i]
Trang 24Theo Joseph (Anh) và Trần Lập Phu nghiên cứu:
“Trời có Âm Dương, con người cũng có Âm Dương Khí Âm trong đất trời bốc lên, khí Âm của con người cũng sẽ theo đó mà bốc lên, Khi khí Âm của con người bốc lên thì khí Âm của trời cũng bốc lên theo Nguyên tắc là giống nhau Rõ ràng là, muốn có mưa thì Âm
phải động để khí Am bốc lên, muốn ngừng mưa thì Dương phải động
để khí Dương bay lên, vì vậy điều đó cũng không có gì là thần kỳ
Nghĩ ngờ có than thánh, là vì sự kỳ điệu của nó.”
Với Đồng Trọng Thư, Âm Dương chỉ là điển hình cao nhất của sự
đối lập hoặc “tương quan” vốn có trong vũ trụ, trong Cơ Nghĩa Thiên ông sử dụng thuật ngữ “hợp” để gọi mối quan hệ thành cặp này
Tuy rằng vấn đẻ vẻ quái tượng nên dé sau này khi bàn đến Chu
Dich méi đưa ra thảo luận thì thích hợp hơn, nhưng ở đây cũng cần
nói sơ lược vài điều Cái gọi là quái tượng, là những ký hiệu được sắp
xếp từ sáu vạch ngang hoặc liên hoặc đứt; liền hay đứt tương ứng với
Dương hoặc Âm Vì vậy, nội dung chủ yếu của mỗi quái tượng là Âm hoặc Dương Dùng cách sắp xếp thích hợp có thể tạo ra được sáu mươi tư quẻ, hơn nửa Âm Dương lại xen lẫn nhau, chúng ta có thể tim thấy một biểu để trong sách Dịch Đồ Minh Biện (năm 1706 sau Công Nguyên) của Hồ VỊ, Trong biểu đồ này, Dương nguyên thủy
được phân chia làm hai, một là Dương, một là Âm; sau đó mỗi một Dương hoặc Âm lại tự phân chia làm hai thành một Dương, một Âm
khác Trình tự này cứ tiếp diễn như thế, cho đến khi tạo ra sáu mươi
tư quẻ, đương nhiên vẫn có thể tiếp tục phân chia cho đến vô tận
Tuy Âm và Dương không hoàn toàn tách biệt, nhưng trong mỗi giai
đoạn biến đổi của chúng thì chỉ có một trong hai xuất hiện mà thôi
Lý luận như vậy, chắc chắn khiến những người có kiến thức khoa học cảm thấy hứng thú, bởi vì phương pháp tư duy mà các học giả nghiên
cứu Kinh Dịch đã sử dụng chính là một trong những phương pháp tư
Trang 25duy của khoa học hiện đại mà chúng ta đã quen thuộc, đó là “Nguyên
ly phan ly” (Principle of segregation) Déng thời, nó cũng tương tự
như gen lặn và gen trội trong di truyền học mà ngày nay chúng ta đã
được biết; chẳng qua là gen trội vốn có đặc trưng “biểu lộ ra ngoài” và
có thể nhìn thấy được Núi rộng hơn, đó là trình tự biến đổi của Âm
Dương Học thuyết Âm Dương giống như mối quan hệ thay thế lẫn
nhau trong Ngũ Hành mà chúng ta đã thảo luận ở phản trước, nó
cũng có thể dẫn dắt tư tưởng của con người, cho đến nay có thể nói là
đã đạt được sự ứng dụng hiệu quả đối với giới tự nhiên Vì vậy, học
thuyết này không chỉ giống với ngành đi truyền học và phôi thai học,
mà còn có thể giống ngành hóa học, bởi không ngừng tạo ra tác động
sạch hóa sẽ từng bước làm cho vat chat chia tach ra Hon nửa, bằng
trực giác của mình, các học gid vé Kinh Dich da cảm nhận được là,
cho dù tác động sạch háa của vật chất thực hiện đến mức độ nào đi
chăng nữa, thì những vật chất đã qua sự tách rời đó, tuy biểu biện bẻ
ngoài hoặc Âm hoặc Dương chiếm ưu thế, nhưng xét cho củng vẫn là
do Âm và Dương kết hợp với nhau tạo thành: quan điểm này rất
giống với cách lý giải của khoa học hiện đại Bởi vì phương pháp tư
duy này của họ, chính là phương pháp tư duy được gọi là “trường”,
tuy nhiên rất ít người có thể có đú ý thức để nhận ra rằng, một thỏi
nam châm dù bị chia thành bao nhiêu đoạn nhỏ đi nữa, thì mỗi một
đoạn nhỏ của thỏi nam châm đó vẫn có hai cục Nam Bắc Nói tóm lại,
ý của tôi là: một vài thành phần nào đó của kết cấu thế giới mà các
nhà khoa học hiện đại nghiên cứu ra thì củng đã tìm thấy trong suy
nghĩ của các nhà Âm Dương học Cố nhiên những suy nghĩ này không
phải là phương pháp khoa học hoàn chỉnh để nghiên cứu giới tự
nhiên (nó giống như thực nghiệm hoặc giả thuyết công thức hóa của
toán học), nhưng chúng tuyệt đối không phải là không hợp lý
Khi chúng tôi nghiên cứu về quái tượng, đã nảy ra một ý nghĩ là,
nếu như bản thân Dương hoặc Âm đều ẩn chứa ác và thiện, như vậy
nó và giáo lý của đạo Maui rất giống nhau Người kế tue dao Maui tai
Trang 26Ba Tư tin tưởng rằng: trách nhiệm làm người chính là loại trừ cái ác,
mưu cẩu cái thiện trong thế giới thiện ác lẫn lộn này Phương Tây có
một chủ trương cho rằng học thuyết Âm Dương của Trung Quốc đã
từng ảnh hưởng đến thuyết Nhị nguyên tôn giáo của người Ba Tư Khó khăn lớn nhất để người ta tin vào chủ trương này chính là học thuyết Âm Dương của Trung Quốc hoàn toàn không có quan niệm thiện ác Nhưng ngược lại, học thuyết Âm Dương của Trung Quốc cho rằng chỉ khi Âm Dương điều hòa, duy trì được sự cân bằng thì mới có thể đạt được hạnh phúc, sức khỏe và một trật tự tốt đẹp
Tuy là thế, ngày nay vẫn có người tiếp tục nghĩ rằng từ thuyết
Nhị nguyên” của người Ba Tư đã làm sinh ra học thuyết Âm Dương
của Trung Quốc (như Áo giáo) Trừ khi chúng ta có sự hiểu biết nhiều
vẻ thần thoại vũ trụ luận trong thuyết Nhị nguyên của Ba Tư và Ấn
Độ, và mối quan hệ có thể có giữa nó với nguồn gốc của Mesopotamia, nếu không việc đánh giá quan điểm này sẽ rất khó khăn Nhưng chúng ta cũng rất khó đồng ý với kết luận của Rey, rằng thế giới quan về vũ trụ của Trung Quốc chưa hẻ có bất kỳ ảnh hưởng nào
ngoài Trung Quốc Ngược lại, hiện nay có khuynh hướng cho rằng học
thuyết Âm Dương của Trung Quốc có khả năng dẫn đến sự ra đời
thuyết Nhị nguyên của người Ba Tư Khuynh hướng này phản lớn
được tạo ra do sự nỗ lực của De - Saussure, ở những phương diện khác thì việc làm của De - Saussure rất có giá trị, nhưng ở đây, ông
đã nhận thức một cách khách quan vẻ tính cổ xưa của quan niệm Âm Duong trong các sách cổ Trung Quốc Bất luận thế nào, có học giả phương Tây vẫn cho rằng: trong số những thành tựu to lớn của Trung
Quốc, học thuyết Âm Dương đã biểu hiện rõ ràng rằng, trong thế giới
vạn vật của vũ trụ người Trung Quốc muốn tìm kiếm sự hài hòa và
thống nhất cơ bản, chứ không phải là sự hỗn loạn và đấu tranh
(*) Thuyết Nhị nguyên: quan niệm triết học cho rồng các hiện tượng đà dụng của tế giới có hai
nguồn gốc đầu tiên đối lập nhau là vật chất và tỉnh thần, trái với thuyết Nhất nguyên,
Trang 27Những quan niệm đơn giản có thể do tự thân các nên văn minh
phát triển nên, chúng ta cũng cần thảo luận thêm Granet cho rằng
biểu hiện của sự khác biệt vẻ hai giới tính trong xã hội Trung Quốc
xa xưa và học thuyết Âm Dương có liên quan với nhau Chẳng hạn
như, có rất nhiều dân tộc trên thế giới vào mỗi dịp lễ hội mang tính
mùa vụ, những thanh niên sẽ chọn lựa người khác phái mà mình
thích để kết bạn và cùng khiêu vũ, giới sinh vật cũng lấy việc theo
đuổi con vật khác giới khác làm sứ mệnh quan trọng, điều này tượng
trưng cho tính Nhị nguyên vĩnh hằng và kỳ điệu trong giới tự nhiên
Ngoài ra, có một điều thỉnh thoảng lại được người ta nhấc đến, đó là
trong lịch sử tư tưởng châu Âu, bất cứ linh vực nào cũng có thể tìm
thấy quan niệm Nhị nguyên giống như thế, tuy nhiên hình thức của
nó khá đơn giản và sơ sài so với thuyết Nhị nguyên của Trung Quốc
Freeman mang vi tru luận trong thuyết Nhị nguyên của học phái
Đythagoras (thế kỷ thứ V trước Công Nguyên) thể hiện trong một
bảng biểu với mười cặp sự vật có tính chất đối lập nhau Trong bảng
biểu này, một bên là hữu hạn, số lẻ, một, bên phải, giống đực, tốt đẹp,
chuyển động, sáng sủa, hình vuông và đường thắng; bên còn lại là vô
hạn, số chẵn, nhiều, bên trái, giống cái, xấu xa, đứng yên, tối tăm,
hình chứ nhật và đường cong Điều này rất dé làm cho người ta liên
tưởng đến học thuyết Âm Dương của Trung Quốc, nhưng trừ phi
chúng ta giả thiết rằng một vài lý luận cơ bản nào đó của thuyết
Lướỡng Cực bắt nguồn từ vương quốc Babylon cổ đại, sau đó truyền
sang Trung Quốc và châu Âu, nếu không thì những xuất hiện giống
nhau giữa phương Đông và phương Tây sẽ là sự tương thông cảm ứng
tồn tại khách quan trong vũ trụ
Trong lịch sử tư tưởng của châu Âu, có một vai nha tư tưởng ở
thế kỷ 17 đã chịu ảnh hưởng triết học thần bí của đạo Do Thái truyền
thống, chẳng hạn như Robert Fludd (1574 - 1637) Tư tưởng cia ong
đã từng được Pagel phân tích ti mi Medicina Catholica cha Fludd
miêu tả Thượng đế (God) thành một nhà hóa học, chứ không phải là
”
# 8
as
EI b3
Trang 28nhà toán học, thế giới là “phòng thí nghiệm” của ông ta, ông ta cho
rằng trong thế giới này, có hàng loạt những mặt đối lập đỉnh điểm đang tổn tại: một mặt là nóng, chuyển động, sáng sủa, khuếch tan,
thưa thớt, mặt khác là lạnh, đứng yên, tối tam, thu hẹp, dày đặc Ngoài ra, mặt trời, người cha, trái tim, mắt phải và máu cũng đối ứng
với mặt trăng, người mẹ, tử cung, mắt trái và niêm dịch Điều đặc
biệt thú vị ở đây là chúng ta phát hiện ra chủ trương của ông có một, hình thức đối lập cổ xưa giứa sự thu hẹp và khuếch tán, tuy nhiên
những đối lập này có nhiều khả năng xuất hiện từ trước cuối thời đại Socrates hơn là đến từ Trung Quốc Song, chúng ta phải thừa nhận ràng, hứng thú của Fludd đối với kỹ thuật luyện kim ắt hẳn không phải là ngẫu nhiên, bởi vì lý luận về hai cực đối lập khi đó (thông
thường là vàng và thủy ngân) đã bao trùm lên toàn bộ giới luyện kim
thế kỷ 17 và cuối thời kỳ trung cổ Nếu kỹ thuật luyện kim của Trung Quốc quả thật đã do tín đồ Hải Giáo truyền sang châu Âu (những chứng cứ có được đều ting hé quan điểm này), như vậy học thuyết Âm Dương rất có khả năng được truyền bá cùng lúc ấy Nghĩa là, Fludd
sẽ không thể tránh khỏi sự ảnh hưởng của Trâu Diễn và Lão Tử, tuy
nhiên ông mãi mãi không thể biết được sự thật này Hơn nửa, có lẽ
những thuyết Lưỡng Cực cổ đại này đã chôn sâu trong nền móng của
khoa học hóa học; vì đối với các nhà luyện kim, sự phản ứng mang
tính hóa học của vật chất phải dựa vào vị trí của chúng với tính hai
cực, và ngày nay chúng ta đã biết, cái gọi là phản ứng hóa học, chẳng
qua là quá trình tổ hợp lại thành hai mặt Dương và Âm của vũ trụ
vat chat
Theo nghiên cứu của Sử Châm, Phong Thủy cũng được gọi là Âm Dương, sau thời đại nhà Nguyên tên gọi này lại càng phố biến hơn Theo Nguyên Sử - Tuyển Cử Chí ghi chép, năm thứ 28 niên hiệu Chi Nguyên Nguyên Thế Tổ, dựa theo thông lệ của Nho học, y học, tất cả các lộ đều bố trí Âm Dương học, lập Giáo thụ ở các lộ, phủ, châu, tất
cả những thay Âm Dương đều bị quản lý, trong đó cũng bao gồm các
Trang 29thay Phong Thủy Cho đến đời nhà Minh vẫn còn thông lệ đó, trong
Minh Sử - Chức Quan Chí ghi chép, năm thứ 17 Hồng Vũ đời Minh
Thái Tổ lập ra các chức quan về Âm Dương học, ở mỗi phú, châu,
huyện đặt một người, phàm là bậc am tường thiên văn, đoán thời tiết,
bói sao, xem chỗ ở, chọn ngày tốt đều tập trung vào quản lý Nhà
Thanh kế thừa chế độ của nhà Minh, vẫn tổ chức như thế Một cách
tự nhiên, các nhà Phong Thủy hoàn toàn giống với những nhà thiên
văn, xem thời tiết, xem sao, và thường được gọi là “Âm Dương tiên
sinh”
Song, ngoài những điều này, Phong Thủy và Âm Dương còn có
mỗi tương quan chặt chế, nhưng không hoàn toàn giống nhau, một là
có nguồn gốc trong các ghi chép nói về việc chọn chỗ ở, hai chữ “Âm
Dương” đã xuất hiện như thế, các nhà Phong Thủy học sau này suy
tôn làm khuôn mẫu; hai là lý luận Phong Thủy, cho dù là nhà Phong
Thủy, nhà hình pháp hay phái hình thế, phái lý khí, đều tiếp nhận
một lượng lớn khái niệm Âm Dương mang ý nghĩa triết học để bàn
luận về cách thức xem xét, đo đạc Phong Thủy của mình
Hai chữ Âm Dương xuất hiện trong sách vở, được tìm thấy sớm
nhất trong chương Cóng Luu của Kinh Thị, nói rằng vào cuối thời
nhà Hạ, Công Lưu dẫn dân tộc Chu di chuyển từ đất Đài đến đất
Mân, đo đạc xem xét điều kiện địa thế núi sông và thủy thổ, kế tiếp
là quy hoạch xây dựng nhà ở, để những cư dân cổ dân tộc Chu có
được nơi an cư lạc nghiệp Bộ sử thi đẹp đế này đã miêu tá một cách
ro ràng chi tiết mọi hoạt động cư trú của Công Lưu - thủ lĩnh bộ lạc -
người đã rất cần mẫn xem xét thăm dò, quy hoạch nơi cư trú của bộ
lac, nhu “di quan sát vàng đất này”, “lên đỉnh núi quan sát, quay trở
xuống đồng bằng”, “tới chỗ có hàng trăm con suối, quan sát vìng
đồng bằng rộng lớn, đi lên ngọn núi cao phía Nam, quan sát chỗ đất
kinh”, “quan sát khe suối”, “do đạc vùng đồng bằng trúng”, “tính toán
bóng nắng buổi chiều” v.v Trong đó có câu “lên núi đo bóng nắng,
Trang 30quan sát Âm Dương” chẳng những được các nhà Phong Thủy qua các
thời đại chú trọng, dẫn ra làm điển lệ, mà còn được coi trọng trong
các nghiên cứu lịch sử thiên văn học, lịch sử địa lý học, lịch sử kiến trúc và lịch sử triết học cổ đại v.v của Trung Quốc Ở phản trước,
Phong Thủy được gọi là Âm Dương cũng xuất phát từ chỗ này Câu
nay là ghỉ chép sớm nhất vừa về phương pháp sử dụng cây (tức khuê biểu) để đo bóng nắng, xác định phương hướng và thời tiết của người
cổ đại, vừa đẻ cập tới tảm quan trọng của triết học Âm Dương cổ đại
Nghĩa gốc của câu thơ này là: Công Lưu lên vùng đổi núi đặt dụng cụ đo bóng nắng đề xác định phương hướng, tính toán thời gian,
dong thời khảo sát về núi sông, Âm Dương, phương hướng và thời
tiết Đặt dụng cụ đo bóng nắng để xác định phương hướng, chính là
cách thức “tính toán theo mặt trời” trong bài thơ Định Chỉ Phương
Trung vào đời sau, các phương pháp “suy đoán ngày và đêm”,
“phương pháp định chuẩn” trong Khảo Cóng Ký, Hoài Nam Tử — Thiên Văn Huấn, Chu Bễ Toản Kinh cho đến Doanh Tạo Pháp
Thức”) của đời Tống sau này Nghề phân biệt phương hướng, xác
định vị trí này đã được các nhà Phong Thủy truyền thụ và kế thừa qua nhiều thời đại, phát triển thành phương pháp “đảo trượng” (một dạng Phong Thủy lựa chọn nơi đặt huyệt mộ, đỏi hỏi nơi được lựa chọn phải phù hợp với các yếu tố như chòm sao, địa thế, tình lý, điều kiện tự nhiên v,v,) trong thuật Phong Thủy, phương pháp này cũng trục tiếp dẫn đến phát minh vĩ đại về la bàn và phát hiện về góc lệch của nam châm Những vấn đẻ lịch sử này sẽ trình bày chi tiết trong dịp khác, nếu bàn ở đây sẽ rất phức tạp Những nguyên tắc vẻ núi
sông, Âm Dương, phương hướng cũng đã được các nhà Phong Thủy
đời sau không ngừng nghiên cứu, xây dựng thành lý luận rất phong
phú trong hoạt động nghề nghiệp của mình Từ Âm Dương ở đây
(*) Doanh Tạa Pháp Thức: bộ sách về kỹ thuật kiến trúc được cho là hoàn chỉnh nhất, chuẩn mực
nhất trong các tài liệu cổ vẻ linh vục iến trúc của Trung Quốc thời Bắc Tống
Trang 31không còn mang màu sắc của Huyền học nữa mà giống như trong
Thuyết Văn Giải Tự của Hứa Thận đời Đông Hán có nói: “Âm là tối
tăm, là phía Nam của sông, là phía Bắc của núi”; “Dương là cao
sáng” Đoàn Ngọc Tài chú thích là: “Phía Nam của núi gọi là Dương”
Luu Hy trong Thich Danh lại nói: “Âm là bóng cây, là khí ẩn trong nơi
tối tăm vậy; Dương là dâng cao, là khí ở bên ngoài phát tán lên” Ông
đã giải thích rõ tiểu khí hậu với Âm Dương, phương hướng, vị trí
“Tướng kỳ Âm Dương” được
các nhà Phong Thủy tôn sùng, tìm
hiểu cả bài thơ này cũng có thể
thấy được yếu tố lý tính hàm chứa
bên trong Phong Thủy, không nằm
ngoài việc xem xét và đo đạc một
cách tỉ mi địa hình sông núi, địa
chất thủy văn, tiểu khí hậu, thảm
thực vật, sinh thái, cảnh quan v.v
sau đó chọn nơi ở tốt và xác định
đúng phương hướng vị trí, tiến
hành xây dựng quy hoạch Vẻ vấn
đẻ này, thuật ngữ Âm Dương mà
người đời sau tiếp tục dùng cũng
thường lấy nghĩa gốc từ điển cố trên Chẳng hạn như tác phẩm Chư
Lễ - Địa Quan Tư Đồ Đệ Tam ghi rằng “Chức quan Đại Tư Đồ là
nắm giữ bản đỏ đất đai của quốc gia”, “phân biệt: núi rừng, sông ngòi
ao đảm, gò đổi, dam lay, đồng bằng” “Dùng phương pháp thổ hội đề
phân biệt các loài vật sống ở năm loại đất”, “dùng phương pháp thổ
nghỉ để phân biệt mười hai danh xưng và sản vật ở mỗi nơi và xem
nơi ở của dân để biết được điều lợi, hại, để nhân dân được phỏn vinh,
chim thú sinh sôi, cỏ cây tươi tốt, tùy tính người mà chọn nơi ở”,
“dùng phương pháp thổ khuê, đo đất dài rộng, đo bóng nắng, để tìm
địa trung” “Khi bóng nắng chiếu xuống đo được năm tấc gọi là địa
Trang 32trung, day là nơi đất trời hợp lại, bốn mùa chuyển giao, mưa gió hội
tụ, Âm Dương hòa hợp Vẻ sau vạn vật đông đúc yên ồn, đây chính là nơi xây dựng vương quốc” Còn như trong Hiến Thư - Tiều Thố
Truyện lại nói: “Quan sát sự hài hòa Âm Dương, nếm thử vị nước
suối, kiểm tra điều kiện đất đai, quan sát cỏ cây có tươi tốt hay không, sau đó lập ấp xây thành, lập làng cắt đất làm nhà, chấn chỉnh đường sá”, Cổ Bản Táng Kinh của Quách Phác - một trong những tác phẩm Phong Thủy kinh điển - đã nói một cách ngắn gọn, đây đủ
vẻ tiêu chuẩn lựa chọn của Phong Thủy như sau: “Núi sông tụ hội,
Âm Dương tương tác hài hòa, đất dày nước sâu, cổ cây tươi tốt, quý
tiến như hàng ngàn cỗ xe tứ mã, giàu như có ngàn vàng”, v.v
Những người dân cổ xưa quan sát kỹ trời đất và vạn vật trên thế gian, cuối cùng phát hiện rằng, mọi sự vật đều được hình thành từ
những mặt tương phản, tức là hai mặt vừa đối lập vừa thống nhất với
nhau, giống như triết lý Âm Dương, do đó Âm Dương được khai triển
thành một trong những phạm trù quan trọng nhất của tư duy lý luận
Trung Quốc cô đại, đồng thời được các triết gia sử dụng để nghiên cứu nguồn gốc của thế giới vả cơ chế biến hóa của nó, học thuyết Âm Dương củng được sinh ra từ đó Điển hình như Chu Dich - Hệ Từ
viết: “Một Âm một Dương gọi là Đạo, Âm Dương biến hóa khôn lường
gọi là Thân”; “Âm Dương hợp đức, thì cương nhu có thể có quê riêng
của nó, thể hiện sức sáng tạo của trời đất, làm cảm động cái đức của than minh” Chu Dich - Thuyết Quái Truyện viết: “Trời là ba, đất là
hai nên là số lẻ, quan sát Âm Dương biến hóa ma lap ra cae qué”, “Vi
vậy lập ra đạo của trời, gọi là Âm và Dương, lập ra đạo của đất, gọi là cương và nhu” Quốc Ngữ - Chu Ngữ viết: “Âm Dương phân bố, sấm
tiêu trử trệ khf”, “Âm Dương mạch lạc, mưa gió đúng mùa, nhân dan
hạnh phúc, mợi vật đủ đầy, âm nhạc hòa vui” Quẩn Tử - 74 Thời
Thiên viết: “Vì vậy Âm Dương là đạo lý to lớn của trời đất, bốn mùa
là kỷ cương lớn của Âm Dương" Tư duy lý luận này được Lão Tử -
triết gia đầu tiên thời cổ đại nói rõ hơn: “Đạo sinh ra một, một sinh ra
Trang 33hai, hai sinh ra ba, ba lại sinh ra vạn vật Vạn vật đều hàm chứa Âm
và Dương, chúng tương tác nhau tạo nên sự hài hòa”, v.v Học thuyết
Bát Quái đã phát triển mạnh lên từ việc “quan sát Âm Dương biến
hóa mà lập ra qué” Thuyết nguyên khí cũng được hình thành từ “một
Âm một Dương gọi là Đạo”, “khí Âm, Dương tương tác nhau tạo nên
su hai hòa” và đặt nền móng cơ bản cho tư duy lý luận của các triết
gia đời sau, hình thành nên một hệ thống lý luận triết học cổ đại
Trung Quốc có bản sắc riêng
Loại tư duy lý luận triết học này được quy về cho các nhà Phong
Thủy “quan sát Âm Dương”, chính vì vậy lý luận Phong Thủy cũng có
đây đủ thành phản triết học tư biện, tuy nó có cả Huyền học thậm chí
cả những yếu tố mê tín, đồng thời cũng thiếu vắng triết lý xác đáng
của phép biện chứng, hơn nữa, tư duy lý luận đó lại trực tiếp làm cho
mỹ học sơn thủy - ngành học lấy sông núi tự nhiên làm đối tượng
thấm mỹ, ngày càng phát triển hoàn thiện Ví dụ khi các nhà Phong
Thủy nhìn nhận về núi sông, xem trạng thái đứng yên của núi thuộc
về Âm, trạng thái chuyển động của sông thuộc về Dương, cho nên chú
trọng đến việc nghiền cứu núi sông giao hội, động tinh tiếp nối nhau,
Âm Dương tương hỗ, chính là nơi tập trung nét hữu tình Vậy nên đối
với núi có rất nhiều biện pháp tim Long mach thong qua việc “chi núi
làm rồng bởi hình dáng uốn lượn như con rồng” Còn dòng sông thì
cẩn phải ở trạng thái yên tính mới thể hiện được vẻ đẹp của nó, vì
vậy “một dòng sông đẹp cần phải hội đủ sự hòa hợp của bốn yếu tố,
một là uốn lượn quanh co, hai là quy tụ vẻ một chỗ, ba là trong trẻo,
bốn là hiền hòa”, ngoài ra, cũng cần chú trọng đến các yếu tố khác
như núi non, sông nước, thảm thực vật, ánh sáng mặt trời, không khí
cho tới kiểu dáng kiến trúc, bố cục không gian, chỗ nào cũng phải
đẹp, “Âm Dương động tĩnh, mỗi bước thay hình, tương sinh là đích”,
“như ngọn bút tài hoa của họa sĩ vậy, phải có những chỗ đậm, chỗ
nhạt, thấp thoáng, ấn hién long vào nhau, mới tạo nên phong cảnh
tuyệt đẹp” v.v, Và có thé khẳng định rằng, chính nhờ thực tiễn Phong
Trang 34Thuy va su hoan thién da dat duoc trong loai triét hoc nghé thuat
này mới thúc đẩy hình thành nên một phong cách độc đáo của kiến trúc truyền thống Trung Quốc, đạt đến tảm nghệ thuật cao nhất Joseph - học giả người Anh - trong Khoa Hoc Va Van Minh Trung Ouốc bình luận rằng: “Phong Thủy rất hữu ích đối với nhân dân Trung Quốc Tuy trên một vai phương diện vẫn còn mang đậm sắc
thái mê tín, nhưng nó luôn hàm chứa yếu tố mỹ học, tất cả ruộng
vườn, nhà cửa, thôn trấn của Trung Quốc v.v., đều có thể minh chứng điều đó” Điều này là một sự đánh giá hoàn toàn xác đáng đối với thuật Phong Thủy đã được lưu truyền, kế thừa hàng ngàn năm nay
đổi, sinh sôi
Tư tưởng vũ trụ luận mà Chu Dịch đã trình bày, thể hiện chủ
yếu trong Truyện, Truyện lấy Âm Dương để nói Dịch, cho rằng Âm
Dương không chỉ là hai yếu tố cơ bản cấu thành nên vũ trụ vạn vật,
mà nó còn là thuộc tính công năng của mọi hiện tượng biến hóa của
vũ trụ vạn vật: “Một Âm một Dương gọi là Đạo”, “Âm Dương biến hóa
khôn lường gọi là Thần” (#fệ Từ Thượng) Xét về mặt nghĩa gốc của
Âm Dương, thì “Âm” là mây che phủ mặt trời, “Dương” là mặt trời
mọc; mở rộng ra thì đó chính là tất cả những sự vật, hiện tượng đối
ứng hoặc tương phản như tối và sáng, lạnh và ấm, Bắc va Nam, trong
và ngoài v.v Do đó trong tự nhiên, trời là Dương, đất là Âm; đối với
con người, nam là Dương, nữ là Âm: về mặt tính tình, cương là
Dương, nhu là Âm; cứ như thế mà suy ra Kinh Dịch đã khái quát một cách trừu tượng về vấn để này, xem Âm Dương là hai loại
nguyên khí cơ bản thúc đẩy sự hình thành và biến hóa của vạn vật
trong vi trụ, do vậy nó chỉ phối mọi sự vật, điều này đã làm cho
thuyết Âm Dương có đủ tính chất của tư duy triết học siêu hình
Trang 35Trong Kứmw Dịch, thuyết Âm Dương được tập trung biểu hiện
nhiều nhất trong “quẻ Càn” và “quẻ Khôn”
“Càn” tượng trưng cho trời, là hình thái mật trời mọc, ánh sáng
lan tôa Trời mang trạng thái động, có tính chất cứng cỏi khỏe khoắn,
cũng đại diện cho “người quân tử” và “người cha” Qué Can duoc tao
thành từ hào Dương, trong đó lời quẻ viết rằng: “Cái ngôi đứng đầu
của Cân to lớn thay, vạn vật bat dau tu day, thống lĩnh mọi vật trong
trời đất Mây bay mưa tưới, vạn vật thanh dạng thành hình” Lời qué
viết rằng: “Trời mạnh mẽ, người quản tử cũng phải tự phấn đấu vươn
lên không ngừng” Tử từ lời quẻ bói nói: “To lớn thay! Càn to lớn
thay! Mạnh khỏe trung chính, thuần túy tình thành!” Ở đây, ban cho
trời cái chức năng là nguyên động lực của vạn vật không ngừng sinh
sôi và phát triển, sáu vị trí hào Dương chính là sáu giai đoạn biến
hóa theo đà phát triển của thời gian, từ tiêm tàng, hiện rõ, trưởng
thành, nhảy vọt, bay vút cho đến hoàn thiện đẩy đủ Trong đó chứa
day lời khen ngợi hết mực vẻ vẻ đẹp mạnh mẽ, cumg cdi ma qué Can
tượng trưng Nó khác với chủ trương trân trọng vẻ đẹp nhu mì
“không làm gì cả nhưng thực chất là đã làm” do Lão Tử để xướng
Kinh Dịch quý trọng vẻ đẹp mạnh mẽ, để cao “bự cường bất tức”, tích
cực tiến thủ
“Khôn” tượng trưng cho đất, trải ra một cách hiền hòa, tĩnh lặng
Quê Khôn được tạo thành từ các hào Âm, lời quê của nó là: “Thế đất
hôn, người quan ti lấy đức dày chở mang sự vật”, “Quẻ Khôn hết
sức dịu dàng”, “Đạo của đất là nhu thuận chăng? Thuận theo trời, thi
hành đúng lúc” Đạo của đất, đạo làm vợ, đạo bê tôi, đều thuận theo
trời, có chức năng nuôi dưỡng vạn vật Nó bao dung, rộng rải độ
lượng, bao hàm phục tùng, mềm yếu Nó tượng trưng cho phẩm hạnh
của mẹ đất
Vũ trụ quan trong thuyết Âm Dương của Phong Thủy phân chia
giới tự nhiên thành hai kiểu vẻ đẹp: vẻ đẹp mạnh mẽ cứng cỏi của
Trang 36Dương và vẻ dep nhu mi của Âm Cho nên người xưa đã từng nói:
“Đạo của trời đất chẳng qua là Âm Dương cương nhu mà thôi” Hình ảnh vách núi cheo leo, thác nước tung tóe, cuồng phong, đòng tố, hoàng hôn trên sông lớn hoặc thảo nguyên mênh mông cho đến “Hà Bắc gió thu xào xạc, tuấn mã lướt gió” đều thể hiện vẻ đẹp mạnh mẽ của Dương; gió mát, trăng thanh, hương thơm lần khuất, bóng mò,
nước trôi qua chiếc cầu nhỏ, dương liễu sóng biếc và “Giang Nam hoa hạnh mưa xuân” đều là nét đẹp nhu mì của Âm
Âm Dương thúc đẩy nhau, cương nhu tương tác, động tĩnh thay
thế nhau chính là sự biến đổi không ngừng của vũ trụ Quan niệm này
đã được Không Tử và Trang Tử đề xướng ở phản đảu: “Thảy ngôi trên sông nói rằng: nước trôi như thế, bất kế ngày đêm”, “Sự sống của vạn vật, như phóng như bay, không có chuyển động nào không biến đối, không thời khắc nào là không chuyển dời” Vạn vật luôn biến hóa và phát triển “Trên trời thì thành hình tượng, dưới đất thì thành thể
dạng, hiện ra trong sự biến hóa” (H¿ Từ Thượng Truyện) “Ngày một đổi mới gọi là thịnh đức, sinh sôi nầy nở gọi là Dịch” Dao của nó liên
tiếp thay đổi, biến động không ngừng, trải khắp bốn phương tám hướng, trên đưới vô thường, cương nhụ hoán đổi, chỉ có thay đổi thích
hợp mới tạo nên sự biến hóa ngày một mới mẻ Tức là “Mat trời đứng
bóng rồi xế chiều, trăng tròn rồi khuyết, trời đất day rồi vơi, theo mùa đắp đổi”, “Dịch đến tận cùng sẽ thay đối, thay đổi sẽ thông, thông át sẽ
lau dài” (Hệ Từ Hạ Truyện) Quả thật là “Biến thông sẽ thành vẻ đẹp trong thiên hạ”
“Kh? và “vận” kết hợp lại cũng như xương thịt gắn liên, làm cho
Âm Dương trong giới tự nhiên thay đổi, sinh sôi không ngừng Từ “khí
vận” có thể tách ra để giải nghĩa, “khf” trong “khí vận” thường chỉ khí thế, lực độ, phong cốt, là biểu hiện của sức sống gắn liền với khí chất
thiên phú, cá tính bẩm sinh của con người, thường là cái cảm giác cứng
rắn, mạnh mẽ được gởi gắm trong một tác phẩm do phẩm hạnh, khí
Trang 37khái của tác giả mang lại và thường dùng chứ “cốt” để tượng trưng, về
mặt cảm thụ thẩm mỹ, nó biểu hiện cho vẻ đẹp mạnh mẽ, cứng cỏi
Toàn bộ Văn Tôm Điêu Long của Lưu Hiệp đều quán triệt quan điểm
“tôn chỉ trọng khi”, Thi Phẩm của Chung Vanh còn tiến thêm một
bước, lấy “khí” làm nên tảng xây dựng nên toàn bộ lý luận thơ ca của
mình Thông thường thì hàm ý của chữ “vận” trong “khí vận” phức tạp
hơn nhiều so với chữ “khí”, nó thường chỉ thư tình cảm, trí tuệ, vẻ dep
tỉnh thân vượt lên những trói buộc công lợi của đời sống xã hội mang
tinh trực cảm thẩm mỹ Nó mang đặc tính siêu phàm thoát tục, huyền
diệu khó tả mà nghệ thuật phải có Trong lý luận nghệ thuật cổ điển
hay xuất hiện các khái niệm: tình vận, nhã vận, viễn van, huyén vận,
tế vận v.v., thường chỉ một thứ phong tư thần mạo mang ý nghĩa
Huyền học Nếu như nói “khí” và nội dung của “lực” liên quan với nhau
thì “vận” và hình thức của “thân” củng liên quan với nhau, tính cách
của “vận” thường biểu hiện vẻ đẹp thanh viền, thông đạt, phóng
khoáng, hoặc tự nhiên thoải mái, hoặc tỉnh tế hàm súc, bao hàm về
đẹp Âm nhu, lấy “tính thuần khiết thoát tục (7ính Thần Cúa Nghệ
Thuật Trung Quốc - Tù Phục Quan - trang 154) lam nên tảng
Tuy “khỨ, “vận” có sự khác biệt, nhưng trên thực tế giữa chúng
có mối liên hệ qua lại không thể tách rời, chỉ là trong mỗi tác phẩm
nghệ thuật cụ thể nhấn mạnh vào phía bên này hay bên kia mà thôi
Trong nghệ thuật thư họa Trung Quốc thường có bai tình huống, Vệ
Phu Nhân trong Bứ Trấn Đô đã nói: “Bút lực giỏi thì nhiều xương,
bút lực không giỏi thì nhiều thịt, nhiều xương ít thịt thì chữ gân
guốc, xương xẩu, nhiều thịt ít xương thì như vẽ lợn” Còn Tiêu Diễn
trong Đáp Đào Ấn Cư Luận Thư thì nói: “Thuằn về xương thì không
tươi đẹp, thuần vẻ thịt thì không có sức mạnh Mập ốm phải hài
hòa, cốt lực phải cân đối” Bút pháp không giống nhau trong thư họa
có thể thông qua rất nhiều hình thức: khô ướt, vuông tròn, ẩn hiện,
mập ốm v.v, để thể hiện các tổ hợp khác nhau của Dương cương Âm
nhu, tức là khí vận không giống nhau Thông thường, khí vận không
Trang 38thé phế bỏ một phía, có “khí” mà không có “vận”, tuy cởi mở, phóng
khoáng mãnh liệt nhưng bình đị mộc mạc, thiếu sắc sảo, trở nên thô kệch, lộ liễu, thiếu đi ý vị sâu sắc; có “vận” mà không có “khí” thì bút
pháp yếu ớt, câu chứ thừa thãi, lời văn tuy đẹp nhưng thực chất lại khô khan, hiện rõ sự mềm yếu, lời văn đẹp mà ẻo lả, thiếu đi khí thế, sức mạnh Còn trong trường hợp có cả “khí” và “vận”, nếu nhấn mạnh
“khi” sé thiên về vẻ đẹp mạnh mẽ, nhấn mạnh “vận” sẽ thiên về vẻ
đẹp Âm nhu
Thể hiện cao nhất tư tưởng “sinh sôi nảy nở gọi là biến đối” của
Kính Dịch chính là hai quan niệm “sinh động” và “sinh khí” “Sinh
động” là hình tượng bên ngoài của cảnh quan môi trường “Sinh khí”
cũng chính là khí vận, là sức sống sinh sôi nảy nở không ngừng của
môi trường tự nhiên và xã hội
Từ “sinh động” lại có thể tách ra để giải nghĩa, “sinh” tức là sinh
trưởng, “động” tức là vận động, sinh trưởng không thể tách rời khỏi vận động, có vận động mới có sinh trưởng, nó phải có cái cảm giác vận động sinh sôi không ngừng như giới tự nhiên, cái cảm giác múa
bút vung vẫy ngang dọc hoặc phóng túng phiêu dật không gì ngăn
cản nổi, hoặc như “Tào y xuất thủy, Ngô đới dương phong”, hoặc như
“chớp lóe ngang trời, kinh thiên động địa”
Sách Trang Tử cho rằng trong vu tru, cái lớn nhất của hình là
trời đất, cái lớn nhất của khí là Âm Dương (Tức Dương) “Trên cá sự
xán lạn rực rỡ” là “nguồn gốc của chí Dương”, “cánh cửa thâm u tăm tối" là “nguồn gốc cia chi Am” (Tai Huw) “Am Duong soi rọi vào
nhau, che chở nhau, triệt tiêu nhau, bốn mùa thay thế nhau, sinh ra
nhau, tiêu điệt nhau” để có vạn vật (Tác Dương) on người cũng
“nhận khí từ Âm Dương” (7w: Thủy), “Âm Dương đối với con người,
cũng giống như cha mẹ” (Đại 7óng Su) Chính vì lý do này, các bộ
phận bên trong cơ thể con người là một vũ trụ thu nhỏ, cũng có hai
Trang 39khí Âm Dương, làm người thì nên “Tĩnh thì đồng đức với Âm, dong
thì đồng điệu với Dương” (Thiên Đạo) Ñó cũng giống như giới tự
nhiên, cũng có Âm Dương hoán đổi, sinh sôi không ngừng
hoàn hữu cơ của
Quan niệm của các môn khoa học vẻ trái đất có nguồn gốc từ
phương Tây cho rằng bầu khí quyển, thửy quyển và thạch quyển là
giới vô co không có sự sống Chỉ có sinh quyền và trí tuệ con người
mới là giới hữu cơ có sự sống Thế nhưng, tư tưởng địa lý Phong Thủy
truyền thống cổ đại Trung Quốc lại không giống với quan điểm này,
nó không chỉ cho rằng con người và sinh vật có sự sống, mà còn cho
rằng giới tự nhiên mang tính chỉnh thể được cấu thành từ các hệ
thống lớn Thiên, Địa, Sinh, Nhân cũng là một hệ thống có sự tuần
hoàn, luân hồi và sự trao đổi chất
Sự sống của giới tự nhiên nằm ở sự kết hợp Âm và Dương Âm,
Dương là hai lực lượng cơ bản nhất trong vũ trụ Nó là nguyên lý
cuối cùng ở tang sâu vẻ cấu trúc thế giới vật chất Sach Lao 7T thời
Tiên Tan đã đẻ xuất: “Vạn vật đều hàm chứa Âm Dương” Trong
Hoàng Đế Nội Kinh có nói: “Âm, Dương đan xen mà không thể tách
rời nhau”, “trời đất cảm ứng nên vạn vật sinh sôi biến hóa” Vạn vật
được tạo thành do Âm, Dương kết hợp Âm Dương là nguồn gốc của
sự sống, là “đạo của trời đất, kỷ cương của vạn vật, cha mẹ của biến
hóa, nguồn gốc của sính diệt, nơi trú ngụ của thân minh” ?ð Van
của Hoàng Đế Nội Kinh giải thích thêm: vì trong trời đất có Âm,
Dương, có sinh khí và sự sống, cho nên khí quyển trong không trung
mới có thể lưu chuyển vùn vụt tạo thành gió, cỏ cây mới có thể sinh
trưởng tươi tốt Trong trời đất tồn tại những sinh khí vô hình như
II
Trang 40lại, “người và sinh vật đều có hình dạng nhất định, không thể tách rời
Âm Dương, khí trong trời đất hợp lại với nhau, lan tỏa khắp thế gian,
tạo ra vạn vật, không thể đếm xuế” Từ khoảng không vũ trụ mênh mông vô tận, đến mặt trời, mặt trăng và các vì sao luôn chuyển động không ngừng: từ sự thay đổi tuần hoàn theo chu kỳ của các mùa, hết
nóng đến lạnh cho đến sự sinh sôi nảy nở không ngừng của động — thực vật, nguồn gốc sự sống của chúng đều là “sự ẩn hiện” của Âm
Dương phối hợp với nhau, sức sống từ đây được thai nghén, sinh sôi
phóng theo đất, đất phỏng theo trời, trời phỏng theo Đạo, Đạo phỏng
theo tự nhiên” Ở đây, “Đạo” chỉ cơ lý nội tại của vi tru van vat;
“Thiên” chỉ các thiên thể mặt trời, mặt trắng, các vì sao, khí quyển và bầu trời; “Địa” là môi trường địa lý; “Nhân” là loài người và xã hội