TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH ٭٭٭٭٭٭٭ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ Công ty TNHH Xây Dựng và Thương Mại Long Nhựt Phát NHÓM 1 Đà Nẵng, ngày 03 tháng 08 năm 2021 MỤC LỤC PHẦN 1 GIỚI THIỆU DỰ.
GIỚI THIỆU DỰ ÁN
1 Tên công ty: Công ty TNHH Xây Dựng và Thương Mại Long Nhựt Phát
2 Lĩnh vực hoạt động: khách sạn và các dịch vụ đi kèm
3 Tên dự án đầu tư: Đầu tư xây dựng khách sạn
Mục đích vay vốn của dự án là để xây dựng khách sạn và các sản phẩm dự án liên quan, nhằm cung cấp đầy đủ các dịch vụ: lưu trú ngắn ngày và dài ngày, nghỉ dưỡng, nhà hàng ăn uống, spa và gym, cùng với các hoạt động dịch vụ bổ sung khác nhằm tối đa hóa doanh thu và nâng cao trải nghiệm của khách hàng.
5 Tổng vốn đầu tư: 69.416 triệu đồng
- Tài sản cố định: 69.416 triệu đồng
7 Tổng giá trị cần tính khấu hao:
- Phương pháp khấu hao: tính theo phương pháp bình quân (đường thẳng)
- Thời gian tính khấu hao: 20 năm
8 Tổng vốn vay: 43 tỷ đồng
- Số tiền thanh toán trong kỳ đều hằng năm
- Trả lãi tiền vay: trả lãi theo năm
10 Tuổi thọ của dự án: 20 năm
11 Tài sản đảm bảo, hình thức đảm bảo:
Tài sản đảm bảo gồm đầy đủ quyền sử dụng đất và tài sản là khách sạn dự kiến hình thành trong tương lai tại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 31 – khối Thịnh Mỹ, phường Cẩm An, TP Hội An, tỉnh Quảng Nam.
- Hình thức đảm bảo: Thế chấp tài sản hình thành trong tương lai.
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI LONG NHỰT PHÁT
Bảng phân tích tình hình tài sản của doanh nghiệp
Số tiền TT (%) Số tiền TT
TS dở dang dài hạn
Năm 2020 so với năm 2019, tổng tài sản của công ty tăng lên 53.304.867.774 đồng, tương đương mức tăng 77,25% Như vậy, quy mô tổng tài sản đã tăng lên rõ rệt và cho thấy xu hướng tăng trưởng tích cực của công ty Để hiểu rõ nguyên nhân tăng, giảm của các nhân tố cấu thành nên tài sản, bài phân tích sẽ đi sâu vào từng yếu tố cấu thành tài sản như tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, các khoản phải thu và đầu tư, đồng thời xem xét biến động của nguồn vốn và nợ phải trả Việc đánh giá các yếu tố này giúp làm rõ mức đóng góp của từng thành phần đối với tổng tài sản và chỉ ra những biện pháp quản lý tài sản được áp dụng.
-Tổng giá trị TSNH cuối năm 2020 so với cuối năm 2019 giảm 353.217.757 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 0,51%, trong đó:
Vốn bằng tiền của công ty bị giảm 236.824.049 đồng, tương ứng với mức giảm 0,34% so với năm 2020, và tỷ trọng vốn bằng tiền cuối năm 2019 chiếm 0,92% trong tổng cơ cấu tài sản, giảm 1,05% so với cuối năm 2020 Nguyên nhân giảm là công ty chưa thu hồi được nợ, bị chiếm dụng vốn và dùng tiền mặt để mua hàng hóa dự trữ Dù tiền mặt sụt giảm, công ty vẫn duy trì sự chủ động trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là quản trị vốn lưu động và khả năng thanh toán tức thời Tuy nhiên, ở góc độ hiệu quả sử dụng vốn, lượng vốn này chưa được đưa vào hoạt động sinh lời và chưa tối ưu lợi ích cho công ty Do đó, công ty cần xem xét và phân bổ lượng vốn này một cách phù hợp để vừa đảm bảo khả năng thanh toán vừa kích hoạt được cơ hội sinh lời mang lại lợi ích tối đa.
Cuối năm 2020, tổng giá trị các khoản phải thu ngắn hạn của công ty đã giảm 1.939.843.150 đồng, tương ứng với mức giảm 2,81% so với năm 2019; đồng thời chiếm 16,93% trong tổng cơ cấu tài sản và tăng 8,96% so với cuối năm 2019 về tỉ trọng Nguyên nhân cho đà giảm mạnh này là do công ty thắt chặt chính sách bán chịu và hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn vì diễn biến phức tạp của dịch Covid-19.
Cuối năm 2020, tổng giá trị hàng tồn kho của công ty giảm 308.888.580 đồng, tương ứng mức giảm 0,45% so với năm 2019, và chiếm 1,36% trong tổng cơ cấu tài sản, tăng 0,85 điểm phần trăm so với cuối năm 2019, cho thấy xu hướng giảm hàng tồn kho và dấu hiệu phục hồi của thị trường xây dựng và kinh doanh khách sạn, nghỉ dưỡng Công ty thuộc lĩnh vực xây dựng khách sạn đã nhanh chóng thích ứng với điều kiện hiện tại và bám sát các chính sách hỗ trợ của Chính phủ sau thời gian giãn cách xã hội vì dịch Covid-19; hàng tồn kho giảm sẽ làm giảm chi phí bảo quản và từ đó có thể tăng lợi nhuận cho công ty.
Thứ tư, tài sản ngắn hạn khác cuối năm 2020 tăng 2.838.773.536 đồng, tương ứng với mức tăng 4,11% so với cuối năm 2019; đồng thời tỷ trọng tài sản ngắn hạn cuối năm 2020 chiếm 3,24% trong tổng cơ cấu tài sản, giảm 1,61% so với năm 2019.
-Tổng giá trị TSDH cuối năm 2020 tăng so với năm 2019 là 52.951.650.017 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 76,74%, trong đó:
Cuối năm 2020, giá trị tài sản cố định tăng lên 37.015.875.951 đồng, tương ứng với mức tăng 53,65% so với năm 2019 và chiếm 76,76% tổng cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, cho thấy đóng góp lớn của tài sản cố định vào cơ cấu nguồn lực Tuy nhiên, giá trị này có thể giảm nếu phát sinh tài sản lỗi thời hoặc những tài sản không còn dùng đến, cho thấy tín hiệu nội tại của doanh nghiệp cần được xem xét lại Bên cạnh đó, các yếu tố bên ngoài như giá thị trường tài sản cố định giảm, sự thay đổi bất lợi trong môi trường hoạt động công nghệ và thị trường, cùng với tăng lãi suất hoặc tỷ lệ hoàn vốn đầu tư trên thị trường, có thể tác động tới định giá và khiến giá trị ghi sổ của tài sản cố định cao hơn vốn thị trường.
Cuối năm 2020, tổng giá trị tài sản dài hạn khác của công ty tăng lên 223.221 đồng, tương ứng mức tăng 0,38% so với năm 2019 và chiếm 0,87% trong tổng cơ cấu tài sản Phần tài sản dài hạn khác của công ty bao gồm chi phí trả trước dài hạn, nên năm 2020 việc phân bổ chi phí trả trước dài hạn vào chi phí hoạt động là điều tất yếu và không có gì đáng lưu ý.
Cuối năm 2020, tổng giá trị tài sản dở dang dài hạn tăng 15.935.550.845 đồng, tương ứng mức tăng 23,1% so với năm 2019, chiếm 0,48% tổng cơ cấu tài sản và giảm 12,82% so với năm 2019 Giá trị tăng này có thể phản ánh các chi phí xây dựng dài hạn đang dở dang, như chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đang sản xuất hàng tồn kho bị chậm trễ hoặc gián đoạn trong kỳ và các chi phí sản xuất kinh doanh cơ bản dở dang liên quan đến tài sản cố định đang trong quá trình mua sắm, sửa chữa và lắp đặt chưa đưa kịp vào quy trình sản xuất.
Qua phân tích cơ cấu và biến động của tài sản, nhận thấy chức năng chính của công ty là hoạt động xây dựng và thương mại nên tổng tài sản tăng lên, trong đó tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng lớn do tính chất hoạt động xây dựng Vì vậy, tài sản cố định chiếm phần lớn tổng tài sản của công ty Trong các năm tới, công ty nên đẩy mạnh đầu tư vào tài sản cố định, đặc biệt là xây dựng thêm các khách sạn để đáp ứng nhu cầu du lịch và phát triển tại thành phố Hội An.
Tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp
Số tiền TT (%) Số tiền TT
Vay và nợ thuê tài chính 8.947.933.855 12,97 10.200.000.000 8,34 1.252.066.145 1,81
Người mua trả tiền trước ngắn hạn 17.510.025 0,03 81.806.233 0,07 64.296.208 0,09
Phải trả cho người bán 5.037.089.758 7,3 3.520.469.542 2,88 -1.516.620.216 -2,2
Phải trả cho người lao động 452.851.000 0,66 - - -452.851.000 -0,66
Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước 468.170.912 0,68 493.234.449 0,4 25.063.537 0,04
Vay và nợ thuê tài chính 31.339.666.250 45,42 55.027.648.587 44,99 23.687.982.337 34,33
Vốn góp của chủ sở hữu 15.000.000.000 21,74 40.000.000.000 32,71 25.000.000.000 36,23
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 7.695.879.539 11,15 3.842.154.210 3,14 -3.853.725.329 -5,59
Qua số liệu đã tính toán ở trên ta thấy tổng nguồn vốn của công ty tại thời điểm cuối năm
2020 tăng 53.304.867.774 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 77,25% so với năm 2019 Điều này chứng tỏ trong năm 2020 công ty đã tích cực mở rộng nguồn vốn kinh doanh Để có một cái nhìn cụ thể hơn ta đi vào phân tích từng chỉ tiêu trong tổng nguồn vốn.
-Tổng giá trị nợ phải trả cuối năm 2020 tăng 32.158.593.103 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 46,61% so với năm 2019 và chiếm tỷ trọng 64,15% trong tổng nguồn vốn cuối năm 2020, trong đó:
Cuối năm 2020, nợ ngắn hạn giảm 621.072.234 đồng so với cuối năm 2019, tương ứng 0,9% và chiếm 21,69% trong tổng cơ cấu nguồn vốn, tăng 9,96% so với năm trước Chỉ tiêu vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn đạt 1.252.066.145 đồng, tăng 1,81% so với cuối năm 2019 và chiếm 12,97% tổng cơ cấu nguồn vốn Trong năm 2020, công ty tăng chỉ tiêu vay nợ thuê tài chính ngắn hạn để mua sắm máy móc thiết bị hoặc phương tiện vận chuyển phục vụ sản xuất và chỉ vay dưới 12 tháng Chỉ tiêu người mua trả tiền trước ngắn hạn cuối năm 2020 là 64.296.208 đồng, tăng 0,09% Nhiều công ty hiện nay chấp nhận cho khách hàng mua ứng trước một số tiền ngắn hạn nhằm giữ chân khách hàng và tạo điều kiện cho người cần mua hàng khi chưa đủ số tiền thanh toán một lần Chỉ tiêu phải trả cho người bán cuối năm 2020 giảm 1.516.620.216 đồng, tương ứng giảm 2,2%, cho thấy công ty đã thanh toán được các khoản nợ ngắn hạn khi mua hàng hóa và nguyên vật liệu.
… Chỉ tiêu thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước thì trong cuối năm 2020 tăng nhẹ
25.063.537 đồng tăng 0,04% cho thấy công ty đang mở rộng các hoạt động kinh doanh và làm tăng thuế phải nộp cho Nhà nước Các khoản phải trả có xu hướng tăng, cuối năm 2020 đạt 6.973.092 đồng và tăng 0,01%, cho thấy có thể còn nợ nhỏ nhưng phần lớn là vốn chiếm dụng hợp pháp được dùng vào quá trình kinh doanh, và nguồn vốn này không phải trả lãi được tận dụng tối đa.
Cuối năm 2020, nợ dài hạn của công ty tăng 32.779.665.337 đồng, tương ứng mức tăng 47,51% so với cuối năm 2019 và chiếm 52,43% cơ cấu nguồn vốn tại thời điểm này Đáng chú ý, khoản vay và nợ thuê tài chính dài hạn đạt 23.687.982.337 đồng, tăng 34,33% so với cuối năm 2019 Sự gia tăng nợ dài hạn này cho thấy công ty có thể đã chuyển một phần nợ vay ngắn hạn sang nợ dài hạn để chuẩn bị nguồn vốn lớn và ổn định cho một dự án xây dựng mới, đáp ứng nhu cầu đầu tư.
Vào thời điểm cuối năm 2020, tổng giá trị vốn chủ sở hữu của công ty đạt 43.842.154.210 đồng, tăng 21.146.274.671 đồng so với cuối năm 2019, tương ứng mức tăng 30,65% Vốn chủ sở hữu chiếm 35,85% trong tổng cơ cấu nguồn vốn.
Vốn chủ sở hữu tăng 25.000.000.000 đồng, tương ứng với mức tăng 36,23% so với cuối năm 2019 và chiếm 32,71% trong tổng cơ cấu nguồn vốn cuối năm 2020 Sự tăng trưởng này có thể bắt nguồn từ việc công ty bổ sung thêm vốn cổ phần vào vốn chủ sở hữu nhằm có thêm nguồn vốn để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Cuối năm 2020, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối của công ty giảm 3.853.725.329 đồng, tương ứng 5,59% so với cuối năm 2019 và chiếm 3,14% trong tổng cơ cấu nguồn vốn của năm 2020, cho thấy hoạt động kinh doanh không có lãi do Covid-19 tác động lên ngành khách sạn và nhà nghỉ khiến lượng khách du lịch giảm sút Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn của công ty cho thấy nguồn vốn chịu ảnh hưởng từ đại dịch và công tác huy động vốn vẫn được duy trì trong điều kiện khó khăn.
Trong giai đoạn 2019 – 2020, tổng nguồn vốn của công ty đã tăng 53.304.867.774 đồng, tương ứng với mức tăng 77,25% Sự thay đổi giá trị nợ phải trả cho thấy sự hợp lý khi công ty đang tập trung mở rộng sản xuất kinh doanh; do đó việc giảm nợ ngắn hạn vừa đảm bảo cân đối thanh toán ngắn hạn, vừa phù hợp với nguồn vốn dài hạn được dùng để tài trợ cho đầu tư dài hạn Vốn chủ sở hữu tăng lên phản ánh sự cân đối giữa vốn sở hữu và nợ trong quá trình mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, công ty đã cải thiện quản lý hàng tồn kho, làm tăng vòng quay hàng tồn kho và từ đó tác động tích cực đến khả năng sinh lợi của công ty.
Phân tích bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Số tiền Số tiền Số tiền TT (%)
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
Chi phí thuế thu nhập 946.410.527 1.045.504.821 99.094.294 10,47
Doanh thu bán hàng và doanh thu thuần
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty TNHH Long Nhựt Phát trong giai đoạn 2019–2020 cho thấy sự tăng trưởng đáng kể, khi doanh thu năm 2019 đạt 30.700.356.262 đồng và năm 2020 tăng lên 31.869.203.333 đồng.
Trong năm 2019, doanh thu đạt 1.168.847.071 đồng, tương đương mức tăng trưởng 3,81%, cho thấy công ty đang có bước tiến mạnh trong hoạt động kinh doanh Dù dịch Covid-19 diễn ra vào năm 2020, công ty vẫn duy trì và phát triển tốt nhờ hiệu quả quản trị và sự hồi phục của thị trường Không có khoản giảm trừ nên doanh thu thuần bằng doanh thu bán hàng, thể hiện cơ cấu doanh thu ổn định và tập trung vào hoạt động bán hàng chủ lực Tuy vậy, công ty cần theo dõi và ứng phó với các biến động thời gian tới để duy trì mức hoạt động hiện tại và hướng tới kết quả cao hơn trong tương lai.
Trong năm 2019, giá vốn hàng bán của doanh nghiệp đạt 18.488.218.792 đồng và sang năm 2020 giảm xuống còn 17.917.348.040 đồng, tương ứng với mức giảm 3,09% Việc tăng doanh thu đi kèm với tăng giá vốn hàng bán do cần mua thêm nguyên vật liệu hoặc tài sản cần thiết cho doanh nghiệp, trong khi khi doanh thu giảm thì giá vốn cũng giảm Việc giảm giá vốn hàng bán cho thấy doanh nghiệp đã tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận, vì vậy doanh nghiệp nên tiếp tục phát huy hiệu quả quản lý giá vốn trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Trong năm 2019, lợi nhuận gộp của công ty đạt 12.212.137.470 đồng; sang năm 2020, con số này tăng lên 13.951.855.293 đồng, tương ứng với mức tăng 14,25% Lợi nhuận gộp năm 2020 tăng nhờ doanh thu tăng lên dù giá vốn cũng tăng so với năm 2019, cho thấy biên lợi nhuận gộp được cải thiện dù chi phí đầu vào tăng Mặc dù công ty tiếp tục phát triển và có xu hướng tăng trưởng, cần thận trọng trong giai đoạn này và nên đề ra các giải pháp hợp lý để tối ưu hóa hoạt động, phát huy hiệu quả và hướng tới các mục tiêu đã đề ra trong tương lai.
Doanh thu tài chính năm 2019 đạt 746.914 đồng và năm 2020 tăng lên 824.473 đồng, tương ứng với mức tăng 10,38% Sự tăng trưởng của doanh thu tài chính kéo theo lợi nhuận thuần tăng lên Công ty cần tiếp tục phát huy kết quả này trong thời gian tới để duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận.
Chi phí tài chính năm 2019 đạt 4.233.484.572 đồng và sang năm 2020 giảm xuống còn 3.489.321.482 đồng, tương ứng với mức giảm 17,58%; chi phí này là chi phí lãi vay phải trả khi doanh nghiệp vay vốn từ bên ngoài Trong năm 2020 công ty đã đi vay ngoài để phục vụ thanh toán chi phí chuyển nhượng đất và xây dựng khách sạn Vì vậy, doanh nghiệp cần có các chính sách tài chính phù hợp nhằm giảm chi phí vốn vay ngoài và sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn vay trong hoạt động kinh doanh.
Chi phí bán hàng năm 2019 là 2.214.833.197 đồng và tăng lên 3.528.245.432 đồng vào năm 2020, tương ứng mức tăng 59,3% Sự tăng này cho thấy nếu chi phí bán hàng được kiểm soát và giảm đi, lợi nhuận sẽ được cải thiện Doanh nghiệp đặt mục tiêu tối ưu hóa chi phí bằng cách giảm các chi phí bất hợp lý và nâng cao hiệu quả kinh doanh, từ đó tối ưu hóa lợi nhuận và hiệu suất hoạt động.
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2019 đạt được 1.001.629.984 đồng, nhưng đến năm
Trong năm 2020, giá trị đạt 1.307.025.117 đồng, tương ứng với mức tăng 30,49% so với năm trước, cho thấy một tín hiệu chưa tốt đối với doanh nghiệp Vì vậy, trong những năm tới doanh nghiệp cần tiến hành cơ cấu lại bộ máy nhân sự để đảm bảo một hệ thống quản lý tinh gọn, giảm chi phí quản lý mà vẫn duy trì hiệu quả kinh doanh.
Lợi nhuận thuần năm 2019 đạt 4.762.936.631 đồng, và sang năm 2020, lợi nhuận thuần tăng lên 5.628.087.735 đồng, tương ứng với mức tăng 18,6% Lợi nhuận thuần liên quan tới các chỉ tiêu đã nêu, dù doanh thu tài chính và chi phí tài chính tăng lên nhưng ở mức không đáng kể Công ty cần duy trì đà tăng và đề xuất các chiến lược mới để phát triển trong thời gian tới.
Thu nhập khác năm 2019 của công ty đạt 73.161.455 đồng, và đến năm 2020 đã tăng lên 126.544.538 đồng Sự tăng trưởng này cho thấy các nguồn thu ngoài hoạt động chính có thể đến từ chuyển nhượng tài sản hoặc các khoản liên quan đến bất động sản trong năm 2020 Đây là tín hiệu tích cực cho công ty, cho thấy tiềm năng tăng trưởng từ các nguồn thu nhập khác Do đó, công ty nên hệ thống hoá và đẩy mạnh các hoạt động chuyển nhượng tài sản và các cơ hội liên quan đến bất động sản để phát huy hiệu quả thu nhập khác trong thời gian tới. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Chi phí khác của doanh nghiệp năm 2019 đạt 104.045.453 đồng và tăng lên 527.108.167 đồng vào năm 2020, tương ứng với mức tăng 406,61% Sự gia tăng này cho thấy doanh nghiệp có nhu cầu hoạt động kinh doanh mạnh hơn, có thể liên quan đến thanh lý hoặc nhượng bán tài sản, cùng với các khoản tiền bị phạt và chi phí phát sinh khác Mức tăng chi phí khác như vậy có thể ảnh hưởng đến tình hình tài chính, vì vậy doanh nghiệp nên rà soát hoạt động kinh doanh và lập mục tiêu phát triển rõ ràng nhằm cân bằng nguồn lực và cải thiện hiệu quả trong tương lai.
Trong báo cáo tài chính năm 2019, lợi nhuận khác của doanh nghiệp ở mức âm 30.883.998 đồng, cho thấy phần hoạt động liên quan đến các mục ngoài lãi đang chịu lỗ Đến năm 2020, thu nhập khác cũng âm với giá trị -400.563.629 đồng do chi phí khác tăng lên quá mức so với thu nhập khác Nguyên nhân chính là chi phí khác năm 2020 tăng cao hơn đáng kể so với thu nhập khác, khiến lợi nhuận khác tiếp tục lỗ.
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế vào năm 2019 đạt được 4.732.052.633 đồng, năm
Trong năm 2020, doanh thu tăng lên và đạt 5.227.524.106 đồng, tương ứng với mức tăng 10,47% Nguyên nhân cho đà tăng này là lợi nhuận thuần của doanh nghiệp tăng cùng với sự tăng trưởng của các lợi nhuận khác, nên tổng lợi nhuận kế toán trước thuế cũng tăng lên Để duy trì đà tăng trưởng và tối ưu hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp nên duy trì hoạt động hiện có và bổ sung thêm các chiến lược phát triển nhằm đạt được mục tiêu tốt nhất cho tương lai.
Chi phí thuế thu nhập
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2019 là 946.410.527 đồng, vào năm 2020 thì tăng lên và đạt được 1.045.504.821 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 10,47% Vì trong năm
2020 các khoản chi phí cao và doanh thu cũng cao nên đạt giá trị tăng lên.
Trong năm 2019, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp đạt 3.785.642.106 đồng, và sang năm 2020 con số này tăng lên 4.182.019.285 đồng, tương ứng với mức tăng 10,47% nhờ doanh thu tăng dù tổng chi phí cũng tăng Lợi nhuận sau thuế tăng cho thấy hiệu quả hoạt động được cải thiện, do đó công ty nên duy trì và đề xuất các phương án đầu tư để mở rộng quy mô, đồng thời triển khai các biện pháp phát triển công ty nhằm ứng phó với những diễn biến phức tạp của dịch Covid-19.
Phân tích thông số khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán hiện thời 1,01 1,08 0,07
Khả năng thanh toán nhanh 0,95 1,03 0,09
Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán phản ánh năng lực đáp ứng các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán được đo bằng lượng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp so với tổng số nợ mà doanh nghiệp đang gánh chịu.
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn thể hiện qua khả năng thanh toán của tài sản để ứng phó với các khoản nợ ngắn hạn.
Thông số khả năng thanh toán hiện thời là một chỉ số thanh khoản động, phản ánh mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn Chỉ số này cho thấy khả năng doanh nghiệp thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn bằng nguồn lực có sẵn từ tài sản ngắn hạn, từ đó đánh giá sức khỏe thanh khoản và sự ổn định tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán nhanh là chỉ số cho thấy khả năng trả nợ ngắn hạn của công ty bằng cách loại bỏ giá trị không chắc chắn của hàng tồn kho và tập trung vào các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt nhanh So với khả năng thanh toán hiện thời, thông số này được xem là chỉ dẫn chính xác hơn khi đánh giá thanh khoản trong bối cảnh biến động doanh số Bằng cách tập trung vào tài sản có thể thanh lý nhanh và các khoản tương đương tiền, khả năng thanh toán nhanh giúp xác định mức độ đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ một cách nhanh nhất Điều này đặc biệt quan trọng khi doanh số bán hàng giảm sút theo hướng tiêu cực, bởi áp lực thanh khoản tăng lên khi nguồn thu hạ xuống.
Khả năng thanh toán tức thời, còn gọi là tỷ lệ thanh toán bằng tiền hay chỉ số thanh toán tiền mặt, là thước đo đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp Tỷ số này cho thấy mức độ sẵn có của tiền mặt so với các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn, giúp đánh giá chính xác tình hình thanh toán và dòng tiền của doanh nghiệp Việc theo dõi và phân tích tỷ lệ thanh toán tức thời hỗ trợ quản trị dòng tiền, tối ưu hóa thanh toán và giảm thiểu rủi ro liên quan đến thanh toán chậm, từ đó nâng cao sự ổn định tài chính và hiệu quả hoạt động.
Khă năng thanh toán hiện thời
-Tỷ số này cho biết công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện thời của công ty được đánh giá qua hai năm 2019 và 2020 cho thấy sự cải thiện nhẹ Cụ thể, tỷ lệ này tăng từ 1,01 vào năm 2019 lên 1,08 vào năm 2020, tương đương với việc mỗi đồng nợ ngắn hạn được bảo đảm bởi 1,01 đồng tài sản ngắn hạn năm 2019 và 1,08 đồng tài sản ngắn hạn năm 2020 Việc duy trì mức khả năng thanh toán hiện thời trong khoảng từ 1 đến 3 được xem là an toàn, nên sự tăng của hai năm này phản ánh tín hiệu tích cực về thanh khoản ngắn hạn của công ty.
Nguyên nhân là tốc độ tăng của các khoản nợ ngắn hạn chậm lại so với tốc độ tăng của tài sản lưu động Do đó, khả năng thanh toán hiện thời của công ty được cải thiện theo từng năm, cho thấy công ty đầu tư vào tài sản lưu động vừa phải và không vượt quá mức cần thiết Tuy nhiên, dư thừa tài sản lưu động sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn và dễ làm phóng đại hiệu quả thanh toán hiện thời Vì vậy, việc theo dõi sự cân đối giữa nợ ngắn hạn và tài sản lưu động là một chỉ báo quan trọng về tình hình thanh toán hiện thời của công ty.
Trong tài sản lưu động có sự phân bổ giữa các khoản mục có thanh khoản cao và thấp, nên hệ số thanh toán hiện hành chưa phản ánh đầy đủ khả năng thanh toán của doanh nghiệp Để đánh giá kỹ hơn khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, ta cần phân tích kỹ lưỡng khả năng thanh toán nhanh Việc kết hợp phân tích hai chỉ số này sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về khả năng trả nợ ngắn hạn của công ty.
Khả năng thanh toán nhanh
Đây là tỷ số thanh khoản nhanh, một chỉ số cụ thể hơn khả năng thanh toán ngắn hạn so với tỷ lệ thanh toán hiện hành Nó loại bỏ giá trị hàng tồn kho và tập trung vào những tài sản lưu động có thể dễ dàng chuyển hóa thành tiền, như tiền mặt, các khoản phải thu ngắn hạn và các chứng khoán thanh khoản, từ đó cung cấp đánh giá đáng tin cậy hơn về khả năng doanh nghiệp đáp ứng nghĩa vụ tài chính ngay lập tức.
Trong năm 2019, tỷ số khả năng thanh toán nhanh của công ty đạt 0,95, cho thấy mỗi đồng nợ ngắn hạn được bảo đảm bởi khoảng 0,95 đồng tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao; đến năm 2020, tỷ số này tăng lên 1,03, cho thấy khả năng thanh toán nhanh được cải thiện và công ty có đủ thanh khoản để thanh toán nợ ngắn hạn Tuy nhiên, mức tăng của tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cho thấy khả năng thanh toán của công ty được nâng lên, song hiệu quả hoạt động kinh doanh vẫn chưa đạt mức tối ưu.
Nguyên nhân chính là năm 2019 công ty đã sử dụng tiền mặt để đầu tư và vay ngắn hạn tăng so với năm 2020 Do hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động nên hệ số thanh toán nhanh thấp, cho thấy tình hình thanh toán nhanh yếu và vốn tiền mặt bị ứ đọng trong hàng tồn kho Trong những năm tiếp theo, công ty cần triển khai biện pháp nâng cao hệ số thanh toán nhanh và khắc phục các điểm yếu bằng cách tối ưu hoá quản lý hàng tồn kho, quản trị nguồn vốn ngắn hạn và tăng cường thanh khoản để cải thiện tình hình tài chính.
Khả năng thanh toán tức thời
-Tỷ số này cho biết với số tiền và các khoản tương đương tiền, thì doanh nghiệp có đảm bảo thanh toán kịp thời các khoản nợ ngắn hạn hay không.
Hệ số thanh toán tức thời của công ty dưới mức 1 là đặc thù của ngành, cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn còn hạn chế; cụ thể, năm 2019 đạt 0,09 lần và năm 2020 là 0,08 lần, với mức chênh lệch giữa hai năm là -13,85% Tóm lại, hệ số này cho thấy công ty gặp khó khăn trong thanh toán ngay khi có yêu cầu từ các chủ nợ, do đó cần áp dụng các biện pháp tăng khả năng thanh toán tức thời nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh và duy trì dòng tiền thuận lợi.
Để đạt được mục tiêu đề ra, doanh nghiệp cần có nguồn lực tài chính ổn định và lành mạnh; điều này được thực hiện bằng cách cải thiện khả năng thanh toán và tình hình thanh toán của doanh nghiệp thông qua các biện pháp như nâng cao quản trị dòng tiền, tối ưu hóa chu kỳ thanh toán, tăng cường thu hồi công nợ và đàm phán điều kiện thanh toán với khách hàng và nhà cung cấp, cùng với kiểm soát chi phí và phân bổ nguồn vốn hợp lý.
Quản trị tiền mặt hiệu quả bắt đầu bằng việc dự trữ một khoản tiền mặt vừa đủ để đảm bảo thực hiện các giao dịch kinh doanh hằng ngày và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh doanh ở từng giai đoạn Việc duy trì thanh khoản ở mức phù hợp giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động liên tục và có sẵn nguồn lực để nắm bắt cơ hội tăng trưởng khi cần thiết.
Đổi mới phương pháp quản lý và dự trữ hàng tồn kho là yếu tố then chốt giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và tối ưu chi phí Việc quản lý tồn kho cần xây dựng các chính sách hợp lý, phù hợp với mục tiêu sản xuất cho kỳ tới và đồng thời tối thiểu hóa lượng hàng tồn kho để giảm thiểu các chi phí như chi phí lưu trữ, chi phí đáp ứng nhu cầu của khách hàng, chi phí vận hành thiết bị và phương tiện Áp dụng công cụ quản lý tồn kho hiện đại, dự báo nhu cầu chính xác và thiết lập mức tồn kho tối ưu sẽ cân đối nguồn cung, hạn chế thâm hụt và dư thừa, từ đó tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chúng tôi đẩy mạnh công tác tiêu thụ hàng hóa bằng cách đầu tư, bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên bán hàng và nhân viên tại trung tâm xúc tiến khách hàng của công ty, đồng thời thực hiện các chương trình quảng cáo nhằm tăng cường nhận diện thương hiệu và thúc đẩy doanh số Song song đó, chúng tôi cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và nâng cao mức độ hài lòng, từ đó tăng cường cạnh tranh trên thị trường.
- Quản trị các khoản phải thu tốt.
Phân tích thông số hoạt động
1.Kỳ thu tiền bình quân 125,63 121,02 -4,61 -3,67%
2.Vòng quay các khoản phải thu
3.Kỳ trả tiền bình quân 166,93 169,03 2,1 1,26
4.Vòng quay các khoản phải trả
5.Vòng quay hàng tồn kho
6.Thời gian giải tỏa hàng tồn kho
7.Vòng quay tài sản cố định
8.Vòng quay tổng tài sản 0,44 0,26 -0,18 -41,44
9.Vòng quay vốn luân chuyển ròng
Kỳ thu tiền bình quân và vòng quay các khoản phải thu
Chỉ tiêu vòng quay khoản phải thu và thời gian thu tiền phụ thuộc vào chính sách bán chịu của công ty Trong năm 2019, khoản phải thu luân chuyển 2,87 lần với mỗi lần luân chuyển xấp xỉ 126 ngày; thời gian bán hàng đến kỳ thu tiền xấp xỉ 126 ngày Trong năm 2020, khoản phải thu luân chuyển 2,97 lần với mỗi lần luân chuyển xấp xỉ 122 ngày; thời gian bán hàng đến kỳ thu tiền xấp xỉ 122 ngày.
Vòng quay các khoản phải thu trung bình ngành đạt 2,92 lần; năm 2019, con số này thấp hơn mức trung bình ngành, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn kém và tỷ lệ khoản phải thu trên tổng tài sản chỉ ở mức trên 16%, phản ánh tình trạng doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn nhiều Đây là hiện tượng phổ biến ở các doanh nghiệp xây dựng Do đó, doanh nghiệp cần tập trung theo dõi và thu hồi vốn kịp thời để có thể tái đầu tư và tăng cường hoạt động kinh doanh.
Kỳ trả tiền bình quân và vòng quay các khoản phải trả
Trong năm 2019, vòng quay khoản phải trả đạt 2,16 lần, tương ứng với khoảng 167 ngày công ty phải trả nợ Đến năm 2020, vòng quay còn 2,13 lần và thời gian thanh toán khoản nợ xấp xỉ 170 ngày Sự giảm của vòng quay từ 2,16 xuống 2,13 là do nợ phải trả và doanh số mua hàng đều giảm Vì vậy, thời gian thanh toán kéo dài sẽ tác động đáng kể đến tín dụng của doanh nghiệp.
Vòng quay hàng tồn kho và thời gian giải tỏa hàng tồn kho
Hệ số vòng quay hàng tồn kho cho biết số lần hàng tồn kho bình quân được luân chuyển trong kỳ Trong năm 2019, hàng tồn kho luân chuyển 23,61 lần, mỗi vòng luân chuyển kéo dài 16 ngày Năm 2020, hàng tồn kho luân chuyển 22,88 lần, với thời gian mỗi vòng luân chuyển vẫn là 16 ngày Các chỉ số này cho thấy khả năng dự trữ và quản lý hàng tồn kho của công ty ở mức chưa tối ưu.
Chỉ số tài chính này cho thấy mức độ hiệu quả của công ty trong quản lý tồn kho và phân phối sản phẩm, đồng thời phản ánh tình hình doanh số bán hàng Tồn kho của công ty đã giảm đáng kể qua hai năm, cho thấy công ty đang tối ưu hóa chu kỳ lưu trữ và giảm chi phí liên quan Mặc dù hoạt động trong ngành xây dựng, công ty duy trì mức tồn kho rất thấp, cho thấy sự nhạy bén trong quản lý nguồn lực và chuỗi cung ứng Những điểm sáng này cho thấy hiệu quả vận hành có thể đi đôi với tiềm năng tăng trưởng dựa trên quản lý tồn kho và doanh số bán hàng.
Vòng quay tài sản cố định
Vòng quay tài sản cố định của doanh nghiệp giảm 0,23 đơn vị, tương ứng với mức giảm 38,9%, cho thấy sự suy giảm trong hiệu quả sử dụng tài sản cố định Vòng quay tài sản cố định phản ánh mỗi đồng tài sản cố định tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu, từ đó đo lường hiệu quả hoạt động Trong năm 2019, cứ 1 đồng tài sản cố định tạo ra 0,58 đồng doanh thu; đến năm 2020, con số này giảm xuống còn 0,35 đồng doanh thu, cho thấy hiệu suất sử dụng tài sản cố định không duy trì và có sự biến động rõ rệt từ 0,58 xuống 0,35.
Qua số liệu, tài sản cố định bình quân tăng lên và doanh thu thuần cũng tăng, cho thấy hiệu quả hoạt động được cải thiện Mặc dù năm 2020 chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, doanh nghiệp vẫn duy trì đà tăng trưởng và tăng doanh thu, cho thấy khả năng thích ứng và sức bền của mô hình kinh doanh Để duy trì và đẩy mạnh kết quả này trong tương lai, doanh nghiệp nên tiếp tục đầu tư vào tài sản cố định, mở rộng thị trường và tối ưu hoạt động để tăng trưởng doanh thu bền vững.
Vòng quay tổng tài sản
Hệ số vòng quay tổng tài sản là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của công ty, cho biết với mỗi đồng tài sản tham gia sản xuất sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Trong năm 2019, cứ 1 đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất sẽ tạo ra 0,44 đồng doanh thu; sang năm 2020 con số này giảm còn 0,26 đồng Vòng quay tài sản của doanh nghiệp giảm 0,18 lần, tương ứng với mức giảm 41,44% Như vậy, sự giảm của hệ số vòng quay tài sản cho thấy việc sử dụng tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh không còn hiệu quả như trước.
Vòng quay vốn luân chuyển ròng
Vòng quay vốn luân chuyển ròng của doanh nghiệp qua hai năm giảm 0,09 tương ứng với tốc độ giảm 37,36% Do tài sản ngắn hạn bình quân giảm.
Phân tích thông số khả năng sinh lời
Đây là cấp độ đầu tiên trong việc đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết với mỗi đồng doanh thu tạo ra, doanh nghiệp thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp sau khi trừ đi giá vốn hàng bán Nói cách khác, nó thể hiện biên lợi nhuận gộp trên doanh thu và là thước đo quan trọng để so sánh hiệu quả hoạt động giữa các kỳ hoặc giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành.
Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA)
ROA (Return on Assets) là chỉ số đo lường tỷ suất sinh lời trên tài sản, cho biết lợi nhuận thu được từ mỗi đồng tài sản được doanh nghiệp đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh Chỉ số này giúp đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản và mức độ sinh lời của nguồn lực tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý, từ đó hỗ trợ so sánh hiệu quả giữa các kỳ và giữa các doanh nghiệp Việc theo dõi ROA cho phép nhận diện xu hướng lợi nhuận trên tài sản theo thời gian và tối ưu hóa cấu trúc tài sản để tăng lợi nhuận Công thức tính ROA là lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản, kết quả cao cho thấy tài sản được sử dụng hiệu quả để tạo ra lợi nhuận.
ROA (Return on Assets) cho biết lợi nhuận tạo ra từ mỗi đồng vốn doanh nghiệp bỏ vào tài sản Chỉ số này đo lường mức sinh lời của tài sản và cho thấy doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu lợi nhuận trên tài sản mà mình sở hữu ROA càng cao đồng nghĩa với hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt, cho thấy tài sản của doanh nghiệp sinh lời hiệu quả hơn so với vốn đầu tư.
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE (Return on Equity) là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện khả năng sinh lời của doanh nghiệp, đo lường lợi nhuận thu được trên vốn chủ sở hữu được sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh Chỉ số này cho thấy tỷ lệ lợi nhuận so với vốn chủ sở hữu và giúp đánh giá hiệu quả quản lý, cũng như mức độ sử dụng vốn chủ sở hữu trong toàn bộ hoạt động của công ty.
ROE (Return on Equity) là chỉ số đo lường lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp bỏ ra để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh Chỉ số này cho biết doanh nghiệp đã tạo ra bao nhiêu lợi nhuận từ mỗi đồng vốn chủ sở hữu, đồng thời ROE càng cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả hơn và khả năng sinh lời lớn hơn Việc tối ưu ROE phản ánh hiệu suất quản trị và tiềm năng lợi nhuận lâu dài của doanh nghiệp.
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thuần (ROS)
ROS (Return On Sales) hay Return On Sales là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, cho biết mỗi đồng doanh thu thuần sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Nói cách khác, ROS thể hiện lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu, giúp đánh giá hiệu quả hoạt động và mức độ sinh lời của doanh nghiệp trên doanh thu thuần.
Trị số của chỉ tiêu càng lớn khi được tính ra sẽ cho thấy khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu càng cao, từ đó đẩy mạnh hiệu quả hoạt động kinh doanh; ngược lại, trị số càng thấp cho thấy khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu thấp và hiệu suất kinh doanh suy giảm.
Ở năm 2019, lợi nhuận gộp biên của công ty đạt 0,40, đến năm 2020 tăng lên 0,44 nhờ doanh thu thuần tăng và giá vốn giảm Cụ thể, doanh thu thuần tăng 1.168.847.071 đồng so với năm 2019, tương ứng mức tăng 3,81%, trong khi giá vốn giảm 570.870.752 đồng, tương ứng mức giảm 3,09% Việc giảm giá vốn và tăng doanh thu đã đẩy lợi nhuận gộp biên năm 2020 lên cao hơn năm trước Doanh nghiệp nên đề ra thêm các biện pháp để tiếp tục phát triển, tối ưu chi phí và mở rộng thị trường nhằm duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận.
Tỷ suất sinh lợi ROA
Trong năm 2019, mỗi đồng đầu tư vào tài sản đem lại 0,05 đồng lợi nhuận ròng, cho thấy tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư ở mức cao Đến năm 2020, mỗi đồng đầu tư chỉ sinh được 0,03 đồng lợi nhuận ròng, cho thấy sự giảm sút đáng kể trong lợi nhuận ròng trên mỗi đồng đầu tư Như vậy, xu hướng lợi nhuận ròng trên vốn đầu tư đã giảm từ 0,05 đồng xuống còn 0,03 đồng giữa năm 2019 và 2020.
Việc tăng tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) được xem là dấu hiệu tích cực vì khi ROA tăng, lợi nhuận từ tài sản sẽ cao hơn Tuy nhiên, ở giai đoạn này ROA lại suy giảm cho thấy công ty đang gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến lợi nhuận sụt giảm so với năm 2019.
Tỷ suất sinh lợi ROS
Trong năm 2019, cứ 1 đồng doanh thu thuần thì tạo ra 0,12 đồng lợi nhuận Trong năm
2020, cứ 1 đồng doanh thu thuần thì tạo ra 0,13 đồng lợi nhuận.
Chỉ số ROS (Return on Sales) càng cao càng cho thấy doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và khả năng sinh lời cao Trong trường hợp này, doanh nghiệp đã có lãi và so với năm 2019 tăng 6,42%, cho thấy hiệu quả kinh doanh được cải thiện đáng kể.
Tỷ suất sinh lợi ROE
Trong năm 2019, cứ 1 đồng vốn chủ thì tạo ra được 0,17 đồng lợi nhuận Trong năm 2020, cứ 1 đồng vốn chủ thì tạo ra được 0,1 đồng lợi nhuận.
Chỉ số ROE giảm xuống, điều này phản ánh khả năng tạo lợi nhuận của công ty thấp và việc sử dụng nguồn vốn chủ chưa đạt hiệu quả
Nhìn chung, các chỉ tiêu khả năng sinh lời của công ty đã suy giảm trong hai năm 2019 và 2020, cho thấy hiệu quả hoạt động chưa tối ưu và lợi nhuận ở mức thấp Sự suy giảm này làm giảm khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp, khiến áp lực tài chính gia tăng và đòi hỏi các biện pháp tối ưu hóa chi phí, vận hành và cơ cấu vốn để cải thiện tình hình tài chính.
Công ty nên giảm hết mức tối đa về các chi phí (chi phí nguyên vật liệu, chi phí bán hàng,…) nhằm tăng doanh thu và lợi nhuận.
Phân tích thông số đòn bẫy tài chính
2.Thông số nợ dài hạn
3.Thông số ngân quỹ nợ
4.Thông số khả năng trả lãi vay
Chỉ tiêu này cho biết phần tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng vốn vay Ví dụ, trong năm 2019 cứ 1 đồng tài sản thì có 0,67 đồng nợ, cho thấy tỷ lệ nợ trên tài sản ở mức đáng kể Dữ liệu cho năm 2020 chưa được trình bày đầy đủ trong đoạn này, nhưng việc theo dõi diễn biến của các năm sẽ giúp đánh giá mức độ phụ thuộc vào vốn vay và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
1 đồng tài sản của doanh nghiệp thì có 0,64 đồng nợ Qua đến năm 2020 thì tỷ số này giảm xuống 0,03, tương ứng với tỷ lệ giảm 4,4%.
Nhìn vào số liệu trên, tỷ lệ nợ của doanh nghiệp đã giảm xuống, cho thấy khả năng trả nợ được cải thiện và nợ phải trả được quản lý tốt hơn Đối với các chủ nợ, một tỷ lệ nợ thấp thường phản ánh sự ổn định tài chính và khả năng thanh toán cao của công ty Trong một số trường hợp, doanh nghiệp lại muốn tăng tỷ lệ nợ để tận dụng đòn bẩy tài chính, nhằm gia tăng lợi nhuận và kiểm soát toàn quyền trong hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, khi tỷ số nợ đạt mức quá cao, rủi ro thanh toán sẽ tăng và doanh nghiệp có thể đối mặt với nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Thông số nợ dài hạn
Chỉ số này phản ánh cơ cấu nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp Trong năm 2019, cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu thì có 0,45 đồng vốn vay dài hạn; sang năm 2020, tỷ lệ này tăng lên thành 0,52 đồng vốn vay dài hạn cho mỗi đồng vốn chủ sở hữu, cho thấy sự gia tăng nợ dài hạn trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp qua hai năm.
Nhìn vào số liệu, nợ dài hạn của doanh nghiệp tăng 32.779.665.337 đồng, tương ứng với mức tăng 104,59% Sự gia tăng này có thể đến từ việc doanh nghiệp chưa thanh toán hết các khoản nợ cũ và nợ mới phát sinh; khoản vay dài hạn được dùng để đầu tư mới và mở rộng sản xuất kinh doanh trong năm 2020 Nợ dài hạn chiếm tỷ trọng cao hơn vốn chủ sở hữu cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ở mức cao và khả năng huy động vốn dài hạn nhằm mục tiêu tăng trưởng.
Vốn chủ sở hữu tăng lên 21.146.274.671 đồng, tương ứng với mức tăng 93,17% nhờ vốn góp của chủ sở hữu tăng lên; tuy nhiên lợi nhuận sau thuế chưa phân phối giảm xuống Nguyên nhân giảm lợi nhuận sau thuế có thể là doanh nghiệp đã dùng lợi nhuận sau thuế để trả các khoản vay đến hạn, và trong kỳ doanh nghiệp cũng đã trả các khoản nợ dài hạn và ngắn hạn vay ngân hàng để duy trì cơ cấu vốn an toàn.
Thông số ngân quỹ nợ
Trong năm 2019, cứ 1 đồng vốn lưu động ròng thì có 0,003 đồng nợ Trong năm 2020, cứ
1 đồng vốn lưu động ròng đi kèm với 0,014 đồng nợ Dữ liệu cho thấy ngân quỹ nợ tăng lên 0,01, tương ứng với mức tăng 371,86% Vốn lưu động của doanh nghiệp đang được tài trợ chủ yếu từ nợ, điều này khiến chi phí lãi vay tăng lên.
Thông số khả năng trả lãi vay
Chỉ số này phản ánh khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp trong kỳ Tỷ số này năm 2020 tăng gấp 1,16 lần so với năm 2019, phản ánh khả năng thanh toán các lãi tiền vay của doanh nghiệp trong kỳ và có lợi nhuận giữ lại Tỷ số này tăng do lợi nhuận trước thuế tăng và lãi tiền vay giảm.
Lợi nhuận trước thuế tăng chủ yếu là do lợi nhuận từ kết quả hoạt động kinh doanh Lợi nhuận kết quả hoạt động kinh doanh tăng 10,47% do lợi nhuận từ bán hàng tăng và doanh nghiệp đã giảm chi phí trả lãi tiền vay Điều này phản ánh trong năm 2020 doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, tăng mức sinh lời.
Chi phí lãi vay trong kỳ giảm do doanh nghiệp đã thanh toán hết các khoản nợ dài hạn và một phần nợ ngắn hạn, từ đó làm giảm gánh nặng chi phí lãi vay và rủi ro mất khả năng thanh toán Sự giảm chi phí lãi vay cho thấy doanh nghiệp đang ở trạng thái an toàn tài chính với dòng tiền ổn định và khả năng quản lý nợ được cải thiện.
Như vậy qua phân tích 4 chỉ tiêu về thông số đòn bẫy tài chính có thể thấy năm
Năm 2019, doanh nghiệp có cơ cấu tài chính chưa an toàn, rủi ro tín dụng cao và sử dụng nguồn vốn chưa hiệu quả Đến năm 2020, tình hình tài chính được cải thiện rõ rệt với cơ cấu vốn an toàn hơn, giúp doanh nghiệp phát triển, kinh doanh có hiệu quả và củng cố khả năng tài chính vững vàng ĐVT: triệu đồng.
THẨM ĐỊNH TÍNH KHẢ THI CỦA DỰ ÁN
Thanh lí Đầu tư TSCĐ
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ KHOA QTKD
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI LONG NHỰT PHÁT 30
Dòng ngân quỹ tích lũy
7.175,44 14.738,86 22549,98 38945,26 38.945,26 48.597,08 58.559,25 68.841,07 79452,15 iiiiHiện giá dòng ngân quỹ
Hiện giá dòng ngân tích lũy quỹ
Dòng ngân quỹ tích lũy
Hiện giá dòng ngân quỹ
Hiện giá dòng ngân quỹ tích lũy
Với tỷ suất sinh lợi k%
1 Thời gian hiện giá giản đơn:
2 Thời gian hiện giá hiện tại:
3 Giá trị hiện tài ròng (NPV)
73,1 3 THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ KHOA QTKD
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI LONG NHỰT PHÁT 33
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ KHOA QTKD
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI LONG NHỰT PHÁT 34
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ KHOA QTKD
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI LONG NHỰT PHÁT 35
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ KHOA QTKD
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI LONG NHỰT PHÁT 36
8 Chỉ số sinh lợi (PI)
Thời gian hoàn vốn hiện giá của dự án là 8,054 năm (8 năm 0 tháng 19 ngày) < 20 năm => chấp nhận dự án
Thời gian hoàn vốn hiện giá của dự án là 14,55 năm (14 năm 6 tháng) < 20 năm => chấp nhận dự án
Giá trị hiện tại ròng của dự án là NPV = 18.264,576 >0 => chấp nhận về mặt kinh tế
Tỉ suất sinh lợi nội bộ của dự án là IRR ,96% > 10% => chấp nhận dự án
Tỉ suất sinh lợi bình quân của dự án là Ra = 13,26% > 10% => chấp nhận dự án
Chỉ số sinh lời của dự án là PI = 1,263 > 1 => chấp nhận dự án
Tổng hợp những công thức đã tính:
Dòng ngân quỹ ròng = Khấu hao + LNST + Thu hồi VLĐ (năm 20) + Thu thanh lí ròng (nếu có)
Dòng ngân quỹ tích lũy (năm 1) = Dòng ngân quỹ tích lũy (năm 0) + Dòng ngân quỹ ròng (năm 1) Tương tự tính cho các năm còn lại
Hiện giá dòng ngân quỹ (năm 1) = Dòng ngân quỹ ròng (năm 1) / (1+ tỷ suất sinh lợi) ^ thời gian (năm 1) Tương tự tính cho các năm còn lại.
Hiện giá dòng ngân quỹ tích lũy (năm 1) = Hiện giá dòng ngân quỹ tích lũy (năm 0) + Hiện giá dòng ngân quỹ (năm 1)
Trong đó: m là tại thời điểm thời gian hoàn vốn
Co là vốn đầu tư của dự án (Cụ thể: TSCĐ + VLĐ)
Fm là dòng tiền trong năm
Giá trị hiện tại ròng (NPV) NPV −
Trong đó: k là tỷ suất sinh lợi n là số năm của dự án
Tỉ suất sinh lợi nội bộ (IRR) IRR = | ��� 1 | 2+ ×� |���2| 1 × × × × × × × × × × × × × × ×
Tỉ suất sinh lợi bình quân (Ra) Ra = ��
Trong đó: An là LNST
Co là vốn đầu tư của dự án
Chỉ số sinh lợi (PI) PI
LẬP KẾ HOẠCH TRẢ NỢ VAY
Kỳ hạn Số tiền thanh toán đầu kì
Số tiền thanh toán tròng kỳ
Trả lãi Trả gốc Số tiền còn lại
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy được rằng, với lãi suất là 10,5%/ năm, dự án vay là 10 năm và được tính với các công thức sau:
Trả lãi = Số tiền thanh toán đầu kỳ * 10,5%
Trả gốc = Thanh toán trong kỳ - Trả lãi
Số tiền còn lại = Số tiền thanh toán đầu kỳ - Trả gốc
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ KHOA QTKD
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI LONG NHỰT PHÁT 41
CÂN ĐỐI NGUỒN TRẢ NỢ VÀ SỐ TIỀN NỢ PHẢI TRẢ
Trích trả nợ
- Trả nợ từ nguồn khấu hao tài sản và lợi nhuận hằng năm
- Mức trả: mỗi năm 7.149,06 triệu đồng
Nhận xét, đánh giá chung
- Nhận xét: Dự án xây dựng khách sạn hiệu quả khả thi
- Khách hàng đủ điều kiện vay vốn
Cân đối nguồn trả nợ và số tiền trả nợ
Cân đối nguồn trả nợ ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5 Năm 6 Năm 7 Năm 8 Năm 9 Năm 10
Nhìn vào bảng nguồn trả nợ và bảng số tiền trả, ta thấy:
Năm 1: Nguồn trả nợ ( 7.175,44 ) > Số tiền trả (7.149,06)
Năm 2: Nguồn trả nợ (7.563,42) > Số tiền trả (7.149,06)
Năm 3: Nguồn trả nợ (7.811,12) > Số tiền trả (7.149,06)
Năm 4: Nguồn trả nợ (8.066,25) > Số tiền trả (7.149,06)
Năm 5: Nguồn trả nợ (8.329,03) > Số tiền trả (7.149,06)
Năm 6: Nguồn trả nợ ( 9.651,82 ) > Số tiền trả (7.149,06)
Năm 7: Nguồn trả nợ (9.962,17) > Số tiền trả (7.149,06)
Năm 8: Nguồn trả nợ ( 10.281,82 ) > Số tiền trả (7.149,06)
Năm 9: Nguồn trả nợ (10.611,08) > Số tiền trả (7.149,06)
Năm 10: Nguồn trả nợ (10.950,20) > Số tiền trả
Qua bảng cân đối giữa nguồn trả nợ và số tiền trả, ta nhận thấy nguồn trả nợ lớn hơn số tiền thanh toán, cho thấy Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Long Nhựt Phát đủ điều kiện để vay vốn.
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ KHOA QTKD
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI LONG NHỰT PHÁT 43
THẨM ĐỊNH TÀI SẢN ĐẢM BẢO
Tài sản đảm bảo
-Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 115; tờ bản đồ số 31 – khối Thịnh Mỹ, phường Cẩm
An, TP Hội An, Tỉnh Quảng Nam
-Khách sạn hình thành trong tương lai tại thửa đất số 115s; tờ bản đồ 31 – khối Thịnh Mỹ,phường Cẩm An, TP Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Đảm bảo tiền vay
-Xác định giá trị tài sản đảm bảo
STT Tên tài sản Giá trị (VNĐ)
2 Khách sạn hình thành trong tương lai 48.225.000.000
Kết luận: Giá trị tài sản đảm bảo là 62.525.000.000 đồng > Số tiền khách hàng vay là43.000.000.000 đồng Nên khách hàng đủ điều kiện vay.