1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình lí luận dạy học Địa lí - Phần đại cương: Phần 2

291 12 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương pháp Dạy Học Địa Lí Ở Trường Trung Học Cơ Sở
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Lí luận dạy học Địa lí
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 291
Dung lượng 19,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 2 cuốn giáo trình lí luận dạy học Địa lí cung cấp cho người đọc các kiến thức: Phương pháp dạy học địa lý ở trường trung học cơ sở, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học địa lý, hình thức tổ chức dạy học địa lý, phương tiện dạy học địa lý ở trường phổ thông, đánh giá trong dạy học địa lý. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

Chuong 5

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỊA LÍ

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1 Những vấn đề chung về phương pháp dạy học địa lí

1.1 Nhà trưởng trước yêu cấu của xã hội

Để có thể tìm ra phương pháp dạy học một cách khoa học, mang lại

chất lượng và hiệu quả cao như ta mong muốn, trước hết chúng ta cẩn

nghiên cứu những đặc điểm của thời đại và tác động của nó đối với giáo

dục nói chung, dạy học ở nhà trường nói riêng

1.1.1 Những yêu cẩu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

Chúng ta đang

cách mạng khoa học

cách mạng này đang phát triển như vũ bão với nhịp độ nhanh chưa từng

có trong lịch sử loài người, thúc đẩy nhiều lĩnh vực có những bước tiến

ng trong thời đại của hai cuội

ông nghệ và cuộc cách mạng xã hội Những cuộc

cách mạng lớn:

mạnh mẽ và mở ra những triển vọng hết sức lớn lao, khi loài người bước

vào Lhế kỉ XXI

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiệt

mạnh mẽ với các đặc trưng sau:

n đại đang phát triển

~ Xã hội là xã hội tin học trên cø sở khoa học kĩ thuật eao Xã hội

phát triển năng động, da đạng với trình độ cao, tốc độ nhanh, chu kì ngắn

Nền kinh tế mang tính chất toàn cầu

~ Nhiều ngành khoa học mới xuất hiện

~ Cô những công nghệ tiên tiến trong nhiều lĩnb vực khoa học l thuật

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đồi hỏi nhà trường

phải đào tạo ra những con người mới, thông mỉnh, sáng Lạo, thích ứng

được với yêu cầu mới của thời đại, có trị thức khoa học - công nghệ tiên

tiến, co ki nang, ki xảo vững chắc, có ý thức nghề nghiệp để giải quyết

"trúng, nhanh, sáng tạo” các nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra

Trang 2

1.1.2 Những yêu cầu mãi của cách mạng xã hội

Dựa trên một sổ tài liệu trong và ngoài nước, đặc biệt tham khảo

dự thảo văn kiện Đại hội VIII (12/1995), có thể phác lên một số nét về

bối cảnh thế giới dự báo đến 3010, 2020

a Cộng đồng quốc tế ngày càng phải cùng nhau hợp tác da phương

để giải quyết những uấn dé loàn cầu, có tính sống còn của toàn thể loài

người, như bảo vệ mỗi trường sinh thái toàn thế giới, chống ô nhiễm và làm

suy kiệt tài nguyên, chống những căn bệnh thế kỉ có tính huỷ diệt con

người và nòi giống (như AIDS); kiém soát dân số, giảm bớt nghẻo khổ và

thất nghiệp ngăn chặn chiến tranh cục bộ xung đột, bạo loạn, phòng

chống những hành động phá hoại, khủng bố, buôn lậu quốc tế v

b Các dân tộc đồi hỏi ngày càng phải lăng cường hoà bình, ổn định, giao liêu, hợp tác khu uực uà quốc (ế, nhầm ưu tiên phát triển kinh

tế, đồng thời ngày càng phải giải quyết bằng đối thoại (thay cho đối đầu)

những xung đột nảy sinh đo mở rộng các quá trình hợp tác liên doanh,

liên kết, đồng thời eñng là các quá trình cạnh tranh rất gay gắt và quyết liệt của kinh tế thị trường Các nước có chế độ chính trị - xã hội khác

nhau phải vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cùng tồn tại hoà bình; các dân tộc ngày càng nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, phát huy bản sắc và truyền thống dân tộc, chống lại sự áp đặt và can thiệp của

nước ngoài Các nước xã hội chủ nghĩa XHCN), các Đảng Cộng sản, giai

cấp công nhân và các lực lượng cách mạng khác kiên trì đấu tranh vì

hoà bình, độc lập dân tộc, đân chủ và tiến bộ xã hội

Cuộc cách mạng này đôi hỏi:

— Con người có đầu óc khoa học, có trình độ học vấn cao, biết sử

dụng các quy luật tự nhiên và xã hội để xây đựng cuộc sống

~ Cøn người có tính nhân bản cao, có ý thức chấp hành pháp luật,

có tinh than dan tộc, biết giữ gìn và phát huy truyền thống, tỉnh hoa của

đân tộc

~ Con người có cá tính và bản sắc riêng, có ý chí, hoãi bảo, tự chủ,

tự giác.

Trang 3

1.1.3 Những yêu cầu của nền kinh tế, chính trị của đất nước

Việt Nam đang bước vào thời kì mới, thời kì mở cửa, chuyển đổi từ

nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế

thị trường có sự điều tiết, quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội

chủ nghĩa "Nền kỉnh tế nước ta đang chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập

trung sang cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước”

Mặt lhác, với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, chúng

ta mong muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, mổ rộng và củng

cố hợp tác với các nước trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hoá, khoa

học kĩ thuật, chính trị đã tạo nên sự phát triển mới trong việc hợp Lắc,

đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam Công cuộc đổi mới nay doi hỏi phải

có những con người "!zo động tự chủ, năng động oà sáng tạo, có năng lực

giải quyết uấn đề do thực tiên để ra, tự lo liệu được uiệe làm, lập nghiệp

uà thăng tiến trong cuộc sống, qua đó góp phần xây dựng đất nước giàu

mạnh, xã hội cong bang va van minh”

1.1.4 Đổi mới nền giáo duc theo yêu cầu của thời đại

Những biến đổi của xã hội đã thôi thúc các nước trên thế giới quan

tâm hơn đến sự nghiệp giáo dục, đầu tư và xây dựng một nền giáo dục

đáp ứng kịp thời các yêu cầu cấp thiết của sự phát triển kinh tế, xã hội;

đảm bảo sự hoà nhập và giao lưu quốc tế

Để phát triển giáo dục, nhiều nước đã xây dựng Luật Giáo dục, đề

xa khẩu hiệu "hãy cứu lấy nên kinh tế bằng giáo dục" Giáo dục đã trã

thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giái

Với các đặc trưng của con người hiện đại như đã trình bày, nền giáo dục mới phải hướng vào những yêu cầu phục vụ cho sự phát triển

kinh tế xã hội Giáo dục không những tạo ra con người trí tuệ mà phải

nhấn mạnh nội dung nhân văn Hơn nữa, giáo dục không chỉ chú ý đến

mặt thiết chế của xã hội về mục đích, mục tiêu giáo dục, mà còn phải

quan tâm đến lợi ích của người học và nhu cầu phát triển của chính bản

thân người học Nói cách khác, đó là sự thống nhất giữa nhu cầu phát

triển của kinh tế - xã hội và nhu cầu phát triển của chính bản thân cá

nhân Chất lượng đào tạo cần phải được nâng cao cho tương xứng với

những nhiệm vụ mới, phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay.

Trang 4

1.1.5 Những yêu cầu cần đổi mới trong giáo dục đào tạo ở nước ta

Cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục Việt Nam đẳng

từng bước được đổi mới Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Vì lợi ích

mười năm phải trồng cây, uì lợi ích trăm năm phải trồng người" Đảng

ta đã xác định: giáo dục là "quốc sách hàng đầu", coi đầu tư cho giáo đục

là một trong những hướng chính của đầu Lư phát triển, tạo điều kiện cho

giáo dục đi trước, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển của đất nước

Ngày nay, chúng ta đang bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp

hoá, hiện đại hoá, phấn đấu trong vài ba thập kỉ đưa đất nước ra khôi

tinh trang lac hậu, nghèo nàn, trở thành một nước có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, có nền văn hoá tiên tiến mang đậm đà bản sắc dân Lộc, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải

thiện môi trường, nâng cao đời sống vật chất và tỉnh thần của nhân dân,

củng cố quốc phòng, an ninh vững chắc nhằm thực hiện mục tiêu dân

giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, biến lí tưởng, mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội thành hiện thực Công cuộc đổi mới này để

ra những yêu cầu mới đối với hệ thống giáo dục, phải "xác định lại mục

tiêu, thiết hế lại chương trình, kế hoạch nội dụng, phương phúp giáo dục

va dao tao"

Chúng ta đã quan tâm đầu tư phát triển cho sự nghiệp giáo dục —

đào tạo, thực hiện mục tiêu "nâng cao đân trí, đào tạo nhân lực, bồi

dưỡng nhãn tài" Tuy nhiên "Bây giờ so với nhiều nước trong khu vực thì

phải thừa nhận sự phát triển giáo dục nước ta còn nhiều mặt thua kém,

đang có nguy cớ bị tụt hậu Kết quả thực hiện các mục Liêu, nhiệm vụ,

nội dung chương trình, phương pháp giáo dục còn có những hạn chế Để

ếp tục đổi mới sự nghiệp

giáo dục — đào Lạo", tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong đổi mới tổ

chức quy trình đạy học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục để đào

tạo ra "những con người lao động tư chủ, năng động và sáng tạo", đáp ứng được những yêu cầu của thời đại, có trí thức khoa học cao, có kĩ năng hành động và tư duy thực tiễn, có phương pháp tự học và nghiên cứu tốt

Một số yêu cầu mới về nâng cao chất lượng đào tạo:

khấc phục tình trạng trên chúng La cần phải "

- Nhãn cách đoàn điện cân được cu thể hoá cho phù hợp vái những

yêu cầu và điều kiện múi của dat nude, trong đó nổi lên tính năng động,

Trang 5

sáng tao, nang cao khả năng độc lập, tích cực, chủ động phát huy tư duy

sáng tạo, khắc phục nhược điểm lớn trong bộ phận không nhỏ học sinh

14 tinh thu dong, ¥ lai trong hoe tap

~ Bản lĩnh ¿hích ứng và tự phát triển (rước những biến đổi nhanh

chồng của thực liễn kinh tế - xã hội, đặc biệt là khả năng tu bồi dưỡng,

tự học để thực hiện được tinh cd động cao trên các mật, tiếp tục chuyên

sâu, mở rộng kiến thức sang những lĩnh vực liên môn, liên ngành, có

khả năng sử dụng những phương tiện, công cụ làm việc hiện đại Kết

hợp có hiệu quả hơn giảng day va hoc tap với nghiên cứu khoa học, sản

xuất, kinh doanh, kinh tế, đời sống xã hội

1.2, Một số quan diểm mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp

1.2.1 Về mục tiêu

a Ýnghĩa

Mục tiêu giáo dục là những gì mà học sinh phải có được về tri thức,

kĩ năng và kĩ xảo nghề nghiệp, thái độ v.v sau một quá trình học tập Vì

vậy, xác định mục tiêu giáo đục có một ý nghĩa Lo lớn đối với việc nâng

cao hiệu quả của quá trình đạy học Nó giúp giáo viên xác định phải day

n mức độ nào, từ đó lựa chọn được phương pháp giảng dạy thích hợp,

đánh giá khách quan, đúng đắn kết quả học tập của học sinh và kết quả

giảng dạy của bản thân, Nó giúp họe sinh biết mình phải học những gì để

có thể làm được những viée gi sau khi học xong

b Đổi với cá nhân

Mục tiêu của giáo đục là đào tạo những con người phát Lriển nhân

cách toàn diện, có kiến thức văn hoá khoa học, kĩ thuật, có kĩ năng nghề

nghiệp, lao động tự chủ, thông minh, sáng tạo, cá khả năng thích ứng

với sự luôn luôn biến đổi của xã hội, có năng lực

nảy sinh trong cuộc sống thực tiên của cá nhân và

ải quyết các vấn đề

xã hội

Đó là những con người yêu sự thật và công bằng, sống lành mạnh,

quý trọng giá trị của cá nhãn, yêu lao động, có tỉnh thần trách nhiệm và

giàu lòng yêu nước, thấm nhuần tỉnh thần độc lập, xây dựng một xã hội

và nhà nước hoà bình

Trang 6

~ Tăng cường giáo dục nhân uăn: Tư tưởng chủ yếu là giáo dục

nhân văn, tức là tỉnh thần hoà bình, hữu nghị, hợp tác

Giáo dục "phải làm sao nâng cao tính hài hoà trong quả trình ngày

càng lăng tính toàn cầu hoá của xã hội loài người, làm sao cho toàn bộ quá trình giáo đục phải giúp cho mọi người học cách chung sống uúi nhau (hài

hoà củ uễ mặt thể chất lẫn tỉnh thần, kinh tế và luân lí, môi trường oà uăn

hoá, bĩ thuật uà mĩ thuật” (Uỷ ban Quốc gia vé Gido duc cho thế kỉ XXI)

"Con đường tốt nhất để sống còn, đồ là học chung sống uới những người

khác, học nghe điều người khác nói Học tập là một đặc trưng mới của cuộc sống, Bao dung không có ý nghĩa "tha thử" người khác, mà là biể! cùng

nhau học hỏi, hiểu biết, kính trọng lẫn nhau hoặc uà sao không nói là cùng

chiêm ngưỡng lan nhau” (Theo Tổng Giám đốc UNESGO)

~ Các chính sách giáo dục phải chú ý phối hợp hài hoà cả ba mục

lao déng x4 héi (UNESCO)

~ Đào tạo những con người có năng lực đóng góp vào sự tiến bộ của

xã hội, biết làm kinh tế, biết xây dựng xã hội Ở các nước, họ dạy văn hoá ~ hướng nghiệp - lập nghiệp, thâm chí đạy làm doanh nghiệp Họ

đão tạo những con người có trí thức và có những kĩ năng rất cụ thể

Tỉnh thông nghề nghiệp là điều hết sức quan trọng Nó là cốt lõi của con người Muốn là người tốt trước hết phải là con người lao động Tỉnh thông nghề nghiệp là lẽ tổn tại của nhà trường

~ Thay đổi lại trật tự "bộ ba” của mục tiêu

Bộ ba (có trật tự trên dưới) Bộ ba mới

truyến thống 1~ Kiến thức 1- Thai dé, kha nang

3 ~ Thái độ, khả năng 8-~ Kiến thức

Trang 7

So dé trat tu méi, với tỉnh thần không hề coi nhẹ việc cung cấp

thông tỉn ngày càng tăng trưởng là phù hợp với sự tiến hoá của bản thân

khoa học và ảnh hưởng của khoa học đối với xã hội và đời sống cá nhân

cũn người

Người ta cho rằng nếu con người có được một hành trang vững

chắc về thái độ (quan tâm đến sự đổi mới về tư tưởng và công nghệ;

tỉnh thần phê phán và đoàn kết, ý thức trách nhiệm ) và có khả năng

khai thác những thông tin mới trong thư viện hoặc máy tính, thì con

người đó đã được chuẩn bị tốt để thích nghỉ và đổi mới về nghề nghiệp,

văn hoá của mình

Mục tiêu của giáo dục là đào tạo những con người lao động, sáng

tạo, nãng động, chứ không phải đào tạo những con người nô lệ, thụ động

Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu đã đưa ra mục liêu đàn tạo hiện nay

Ngoài ra có thể tham khảo thêm 10 tiêu chuẩn về giáo dục cho thế

hệ trẻ đến năm 2000 mà các nhà giáo dục Mĩ và Tây Âu đã thống nhất

nêu ra:

~ Phải rèn luyện tốt khả năng giao tiếp, trao đổi thông tin, làm

việc có hiệu quả trong một nhóm cộng đồng;

Phải được trang bị đẩy đủ các kiến thức cơ bản về văn học, xã hội, địa lí, lịch sử;

~ Œó kiến thức tốt về toán học;

~ Có kiển thức tốt về vật lí, hoá học, sinh học;

~ Biết thông thạo ít nhất một ngoại ngữ, có hiểu biết cần thiết về

văn hoá của các đân tộc trên thế giới;

~ 6 kiến thức và hiểu biết về máy tính và một số ngành kĩ thuật

Trang 8

~— Có kiến thức và năng lực cảm thy các loại hình nghệ thuật;

~ Có kiến thức và am hiểu về điều hành quản lí Nhà nước, kinh tế,

xã hội;

~ Có hiểu biết về vấn để sức khoẻ, ăn uống và thường xuyên vận dụng;

Phải được bôi đưởng, phát huy toàn bộ năng lực của mỗi cá nhân

trong quá trình phân tích, đánh giá, giải quyết các vấn để vì sự tốt đẹp

của cuộc sống

c _ Đối với cộng đồng

-~ Hệ thống giáo dục quốc dân phải nhằm "Máng cao dân trí, đảo

tạo nhân lực, bôi dưỡng nhân tài" để đáp ứng yêu câu xây dựng có cấu

lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu của khoa học, công nghệ, của việc

dịch chuyển cơ cấu kinh tế trong xã hội

~ Mọi hoạt động xoá mù chữ đều phãi hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

~ Giáo dục và phát triển: Ở đây phải giải quyết van dé dan sé, van

dé tao ra năng lực sáng tạo, khuyến khích nhân tài

~ Giáo dục, nghiên cứu khoa học tạo ra các trị thức mới tăng cường năng lực cho từng người và cả dân tộc có đủ sức sống trong xã hội quốc

tế ngày càng tăng tính toàn cầu,

~ Giáo dục là quyển cơ bản của con người và cũng là giá trị chung nhat cha nhan loai (UNESCO)

Tom lai, giáo dục là giáo dục cơn người, chứ không phải dạy một

mớ tri thức và vốn kĩ năng nào đó Con người là nhân vật trung Lâm của

giáo dục Mục Liêu của giáo dục trước hết phải xuất phát Lừ yêu cầu của

xã hội, theo đó đặt con người vào vị trí trung tâm của hoạt động đạy và học Mục tiêu giáo dục đã được thể hiện cụ thể ở Điều 2 trong Luật Giáo

duc — 1998:

"Muc tiéu gido dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trì thức, sức khoẻ, thẩm mĩ uà nghề nghiệp, trung

thành nối lí tưởng độc lập dân tộc va chủ nghĩa xa hội, hình thành va

bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất uà năng lực cùa công dân, đáp ứng yêu

cầu xây dựng uè bảo uệ Tổ quốc”

Trang 9

Mục tiêu đào tạo phải đáp ứng năm yêu cầu sau đây:

~ Thích hợp, tức là phù hợp với thực tế, với yêu cầu khách quan của xã hội, đồng thời phải phù hợp với học sinh

— Thực hiện được

— Đo được

~ Đánh giá được (eó chuẩn đánh giả)

~ Mềm hoá, tức là có các mức độ khác nhau eho từng loại học sinh,

thí dụ mức bắt buộc cho tất cả học sinh, mức cho học sinh khá, mức cho

học sinh giỏi

Khi xác định mục tiêu cho môn học, một mặt phải dựa vào yêu câu

của chương trình, mặt khác phải dựa vào tình hình thực tế của học sinh

(tinh hình tâm sinh lí, điều kiện xã hội, văn hoá của từng khu vực địa

phương) Như vậy mới có thể thực hiện được sự cá thể hoá và phân hoá

của dạy học, một yêu cầu mới của dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Cần chuyển từ chỗ chỉ cơi trọng lợi ích xã hội mà coi nhẹ lợi ích của

người học sang coi trọng hơn lợi ích của người học, đồng thời không quên

lợi ích xã hội Như vậy, trong quá trình dạy học vừa phải xã hội hoá vừa

phải hướng tới cá thể hoá

Sau đây là một số yêu cầu đối với mục tiêu đảo tạo trung hoc:

~ Học sinh tiếp tục học lên ở trường, chuẩn bị năng lực xử lí những

tình huống của đời sống thực tế eá nhân và xã

~ Khuyến khích phát triển năng lực lập luận lôgie, năng lực trừu tượng hoá và chiếm lĩnh vững chắc những nội dung giáo dục cần thiết

cho việc hoe tap tiếp theo (từ trung họe eở sử, hoặs trung học phổ thông

lên trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học)

~ Phát triển những thái độ tích cực và năng lực sáng tạo, liên quan

đến những loại hoạt động văn hoá trong môi trường xã hội, bao gồm cả

những hoạt động văn nghệ và thẩm mĩ

~ Hướng trí tuệ và sự sẵn sàng của Luổi trẻ vào thực tiễn xã hội

ngày nay, nhìn đưới các khía cạnh lịch sử, xã hội và kinh tế

~— Cho học sinh những cơ hội được học lập và thấu hiểu vai trò quan

trọng của công nghệ trong cuộc sống hiện đại, nắm vững không chỉ những

kĩ năng sử dụng các quá trình kĩ thuật giản đơn mà còn rẻn luyện được

thái độ tích cực đối với lao động sản xuất, định hướng nghề nghiệp

Trang 10

1.2,2 Về nội dung

Nội dung đạy học là chất liệu biến đầu vào thành đầu ra Cơ sẻ để

xác định nội đụng day hoc là bối cảnh văn hoá, trong đó có yêu cầu của người sử dụng nhân lực được đào tạo, của phụ huynh học sinh, môi trường, các nguồn lực, các môn khoa học Việc xác định nội dung dạy học

luôn e6 khó khăn vì sự bùng nổ thông tìn Người ta đã chứng minh rằng

khối kiến thức của loài người tăng lên cùng với thời gian theo quy luật

hàm số mũ, cứ 10 năm khối lượng đó tăng lên gấp đôi Người ta không

thể để cho nội dung dạy học bất biến trong một thời gian dài, mà luôn

được cải tiến, tỉnh giản, hiện đại hoá

Nói chung nội dung giáo dục được hiện đại hoá cho phù hợp với yêu

cầu mới của thời đại, đồng thời được mềm hoá cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện của học sinh Ngoài ra còn đảm bảo sự cân bằng hợp lí các yếu

tố nhân loại và đân tộc, truyền thống và hiện đại, quốc tế và khu vực Nên quán triệt các nội dung sau đây vào các môn học:

Chung cho nhân loại 5M, 4P và 4 trụ

1- Man (nhân bản) 1 Peace (hoà bình)

2- Money (vốn vật chất, tiền) 2 Production (năng suất)

3- Machine (kĩ thuật) 3 Population (dan số)

4~ Marketing (tiếp thị) 4 Pollution (ô nhiễm môi trưởng)

Cho khu oực: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

Cho Việt Nam: nhân nghĩa, hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển

Nội dung dạy học của môn học phải đảm bảo các yêu cầu: cơ bản,

hiện đại, sát thực Liễn Việt Nam Trong quá trình giảng dạy, ngoài việc

quán triệt các yêu cầu trên vào nội dung môn học của mình, giáo viên

còn cẩn cố gắng giáo đục những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và

Trang 11

những yêu cầu mới của đất nước, của thời đại đối với con người cho học sinh như truyền thống yêu nước, nhân ái, tình nghĩa, các vấn đề về nhát

triển, hoà bình, bảo vệ môi trường, giáo dục dân số v.v "Nội dung giáo

dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại uà có hệ

thống; coi trọng giáo dục tư tưởng oè ý thức công đân; bảo tần uà phát

huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc uän hoá dân tộc, tiếp thu tỉnh hoa van

hoá nhân loại; phù hợp uôi sự phát triển uễ tâm sinh lí lứa tuổi của

người học"

Cần chú ý những nội dung dạy học bổ sung cho phù hợp với những

học sinh giỏi cũng như những học sinh kém và những nội dung dạy học

phù hợp với địa phương

Nội dung đào tạo được hiện đại hoá và mềm hoá, chứa đựng nhiều

yếu tố mới Về nội dung đào tạo có một số luận điểm sau đây:

a Nội đung đào tạo phản ánh những thành tựu của văn hoá, khoa

học kĩ thuật, những vấn để có tác dụng đưa lại hiệu quả cao nhất, phù

hợp nhất với sự phát triển của thực tế xã hội, tiến kịp với những biến

chuyển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật Chương

trình đào tạo có phần cứng và phần mềm, phần dành cho bộ môn tự

chon, tao điểu kiện thuận lợi cho sự cá thể haá và phân hoá việc dạy học,

b Tính hiện đại của nội dung đào tạo thể hiện ở sự liên kết hợp lí

những thông tin khoa học vào những cấu trúc mới - lôgie, tạo nên sự tối

uu của nội dung, giúp cho việc hình thành tính năng động trong tư duy,

dan đất học sinh ra khỏi phạm vi kiến thức đã xác định, thúc đẩy học sinh tìm kiếm kiến thức mới cao và rộng hơn cái đã có

e Đưa vào mục đích giáo đục - đào tạo việc tích hợp nhiều môn

khoa học và các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của nó, tạo ra một

nội dung đào Lạo, trong đó những kiến thức đơn vị, những hành động

đơn vị được tổng quát hoá đưới dạng các hệ thong Cau trac logic cha nội

dung đào tạo tạo ra những mối tương quan chặt chẽ liên môn, dẫn đến

sự giảm nhẹ gánh nặng tự liên kết kiến thức cho người học, tạo tiền để cho việc thích nghi nhanh với thực tiễn sản xuất và công tác

đ Nội dung đào tạo được phân nhỏ để thiết lập một cấu trúc vừa

mức, gọn và hướng vào một mục tiêu hoạt động xác định, nhờ đó tạo ra

na

Trang 12

mức phấn đấu cụ thể, qua đó hình thành những động lực thúc đẩy quá

trình tự phấn đấu học tập của học sinh

e Đổi mới nội dung chương trình mãn học sát với tình hình thực

tiễn của nhà Lrường, của đất nước, khu vực và thế giới

~ Cắt bỏ một số nội dung quá lạc hậu, không sát thực tế, đồng thời

“hổ sung những tri thức mới của khoa học có liên quan và tương ứng với môn học Luôn cập nhật hoá trì thức mới

Phải tính đến đặc điểm, nhu cầu, hứng thú của người học Có

như vậy mới kích thích tính tích eực của học sinh

~ Tính đến quỹ thời gian của môn học, tránh tình trạng quá tải

= Nội dung chương trình môn học được trình bày một cách khoa học, logic:

+ Từ đơn giản đến phức tạp

+ Từ dễ đến khó

+ Từ cãi đã biết đến cái chưa biết

+ Từ cái đơn lẻ đến tổng hợp, khái quát hay ngược lại

~ Phân chia theo nhiều mức độ, phù bợp với khả năng, nhu cầu của học sinh

~ Không đốt cháy giai đoạn, nhảy cóc

— Hướng đẫn phương pháp tự học, tự nghiên cứu của học sinh, chỉ

cho các em biết phải đọc tham khảo những tài liệu nào, và tìm nguồn tài liệu đó ở đâu

~ Việc đưa khái niệm mới, hiện đại hoá nội dung phải theo phương châm: cơ bản, hiện đại, toàn điện và Việt Nam, có khả năng áp dụng

trong thực tiễn ở Việt Nam, tránh xa rời thực tế, xa vời với nghề nghiệp

tương lai của học sinh

~ Sự bùng nổ kiến thức kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng

chương trình Một trong những đặc điểm của sự bùng nổ đó là sự phụ thuộc lẫn nhau của những môn khoa học khác nhau, đo đó cần thiết tăng cường nội dung liên môn, liên ngành

1.2.3 Về phương pháp dạy học

Chúng ta có thể nêu lên các định nghĩa sau đây về các phương

74

Trang 13

pháp đạy học: phương pháp đạy học là tổng hợp các cách thức làm việc

phối hợp thống nhất của thầy và trò (trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo,

trò đóng vai trò tích cực chủ động) nhằm thực hiện các nhiệm vụ đạy

học Như vậy phương pháp dạy học bao gồm cả phương pháp day va

phương pháp học

Phương pháp dạy là cách thức giáo viên trình bày trì thức, tổ chức

và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của học sinh nhằm đạt

được các nhiệm vụ đạy học Theo quan điểm công nghệ dạy học, phương

pháp dạy học là phương pháp thiết kế và góp phần thi công quá trình

dạy học của người giáo viên

Phương pháp học là cách thức tiếp thu, tự Lổ chức và kiểm tra

hoạt động nhận thức và thực tiễn của học sinh nhằm đạt được các

nhiệm vụ dạy học Cũng có thể nói phương pháp học là cách thức tự

thiết kế và thi công quá trình học Lập của học sinh nhằm dạt dược các

nhiệm vụ đạy học

Mỗi phương pháp thường gồm các yếu tố sau đây:

~ Mục đích định trước;

~ Hệ thống những hành động liên tiếp tương ứng;

~ Phương pháp hành động (ngôn ngữ, thao tác );

Quá trình biến đổi của đối tượng bị tác động;

~ Kết quả thực tế đạt được

Bên cạnh những điểm chung nói trên, phương pháp dạy học có

những điểm riêng đo tính chất đặc thù của dạy học Phương pháp dạy

học bao gầm phương pháp đạy, phương pháp học có quan hệ chặt chẽ với

phương pháp khoa học và tâm lí học của sự lĩnh hội

"Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ

động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dường năng lực tự học của

người học, lòng say mê học tập uà ý chí uươn lên"

1.2.4 Mối quan hệ mục tiêu - nội dung - phương pháp

Nền kinh tế nước ta đang chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường với sự quản lí của Nhà nước theo định

hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất

nước Công cuộc đổi mới này đòi hỏi hệ thống giáo đục - đào tạo phải

Trang 14

“xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung,

phương pháp giáo dục và đào tạo” (Nghị quyết TW 4 về tiếp tục đổi mới

sự nghiệp giáo dục và đào Lao)

Mục tiêu đào tạo mới phải hướng vào đào tạo những người “lao động, tự chủ, sáng tạo”, có năng lực thích ứng với kinh tế thị trường, có

năng lực giải quyết được những vấn để thường gặp, tìm được việc làm,

lập nghiệp và thăng Liến trong cuộc sống, qua đồ góp phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là “đân giàu, nước mạnh, xã hội công

bằng, đân chủ và văn minh”

Mục tiêu giáo dục trên đòi hỏi nội dung giáo dục cũng được Lhay

đổi, trong Luật Giáo dục chương I điều 4 có ghi: “Nội dung giáo dục phải

bảo đảm tính cơ bản, toàn điện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi

trong giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; bảo tổn và phát huy truyền

thống tốt đẹp, bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tỉnh hoa văn hoá nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh Ii lita tudi người học”

Sự đổi mới mục tiêu, nội dung đạy học, đòi hỏi có những đổi mới về

phương pháp dạy học

Mọi nhà trường đều đứng trước bài toán khó là dạy và học cái gì? Dạy và học theo cách nào? Giữa "cái" và “cách” có mối quan hệ chặt chẽ

Nhiều nhà sư phạm đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của

“sách” là phương pháp dạy học Nếu tìm được phương pháp tốt thì người học tiếp thu và làm chủ nội dung sẽ nhanh chóng và vững chắc hơn, đi

sâu vào bản chất hơn, đạt hiệu quả cao hơn, đồng thời có thể chủ động

tự mình tìm kiếm học những nội dung mới, đặc biệt còn có thể vận dụng

những nội dung đã nắm được vào việc "Giải quyết những vấn để” đặt ra

C6 phương pháp tốt thì như ông cha ta đã nói “Học một biết mười”, *Đi

một ngày đàng, học một sàng khôn”

Nếu muốn học sinh khi vào đời là con người tự chủ, năng động, sáng tạo thì phương pháp giáo dục - đào tạo cũng phải hướng vào việc

khơi đậy, phát triển khả năng nghĩ và làm một cách Lự chủ, năng động,

sáng tạo trong lao động học tập của các em ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Vì vậy, Nghị quyết TW 4 khoá VII đã ghi rõ: “Đổi mới phương pháp đạy và học ở tất cả cấp học, bậc học Kết hợp tốt học với hành, học tập

Trang 15

với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học; gan nhà

trường với xã hội Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi

dưỡng cho học sinh nang lực tư đuy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn để”

Nghị quyết TW 2 khoá VITI cũng đã nhận định: “Phương pháp giáo

dục đào tạo chậm được đổi mới, chưa phát huy được tính chủ động, sáng

tạo của người học” Do đó, đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu

cấp thiết hiện nay trong nhà trường phổ thông, cao đẳng và đại học ở

nước La

Mục tiêu, nội dung, phương pháp có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau Mối quan hệ giữa mục tiêu (M), nội dung (N) và phương

pháp (P), theo sơ đề tuyến tính: M~— N - P, người thầy chọn nội dung tuỳ

thuộc mục tiêu, rồi chọn phương pháp tuỷ thuộc nội dung Đây là trường

hợp kinh điển đối với những môn học đã có nội dung ổn định, đi đôi với

một kiểu phương pháp ổn định Nổi lên quan hệ trực tiếp từ mục tiêu

đến phương pháp (theo sd đồ tam giác)

“Theo sơ đổ tam giác: Người thầy chọn phương pháp không chỉ từ nội

dung (như theo sơ đỗ tuyến tính) mà còn Lrực tiếp từ mục tiêu (sơ đổ tam

giác) Đây là trường hợp mà nội dung khá mới mẻ, chưa đủ chín (thí dụ:

dung có tính tích hợp, liên môn nội dung có tính chủ để, vấn dé ) dé quy

định một kiểu phương pháp định hình rõ, khi đó, người thấy căn cứ mục Liêu

và thực trạng của người học để chọn phương pháp thích hợp Mô hình tam

giác MNP sẽ trở thành phổ biến, do yếu tổ: “trỏ” ngày nay trội lên mạnh mẽ

so với trước đây, thay thế mô hình tuyến tính ngày càng nhiều

can rất chú ý đến đặc điểm của người học, nhất là năng lực tự học, tự thể hiện

của người học để bổi dưỡng cho họ những năng lực cơ bản này.

Trang 16

Mặt khác, trong mỗi phương pháp dạy học thường gồm các yếu tế:

(các thao tac hành đông tổ chức hoạt đồng nhân thức

(Hoạt động của GV) (Hoạt đông của HS)

Thầy chỉ đạo

Trỏ chủ động PPDH: Cách thức hoạt động của GV trong việc chỉ đạo, tổ chức hoạt động

học tập của HS nhằm đạt mục tiêu dạy học

1.3 Các phương hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào Lạo cho phà hợp với những

yêu cầu mới của thời đại, hiện nay trên thế giới có một số phương hưởng cải Liến phương pháp đạy học chủ yếu sau đây:

— Tích cực hoá quá trình đạy học

— Ca thé hoa viée day học

— Công nghiệp hoá giáo dục và thực hiện công nghệ đào tạo (xuất

hiện vào khoảng giữa thế kỉ XX)

~ Dạy học lấy học sinh làm trung tâm (xuất hiện vào cuối thé ki XX)

Trang 17

Để có thể hiểu rõ phương hướng 4, chúng ta cần lần lượt xem xét

từng phương hướng 1, 2 3

1.3.1 TÍch cực hoá quả trình dạy học

a Lich sit van dé

Ngay từ thời cổ đại, vấn đề phát huy tính tích cực của người học đã

được các nhà giáo đục quan tâm, Điển hình là Xôerat với phương pháp

vấn đáp Oristie

Đến thế kỉ XVII, J.A Kômenxki trong tác phẩm nổi tiếng "Lý luận

dạy bọc", lần đầu Liên trong lịch sử đã nêu tính tự giác, tính tích cực là

một trong những nguyên tắc dạy học Sau đó, J.J.Ruxô chủ trương phải

làm cho trẻ em tích cực Lự mình giành lấy trí thức bằng con đường khám

phá ra nó Đistervee đã nêu lên một câu bất hủ: "Người giáo vién tôi là

người cung cấp cho học sinh chân lí; còn người giáo uiên giỏi là người

day cho hoc sink tim ra chan lt" K.D.Usinxki cho rang, tinh tích cực,

độc lập của học sinh trong qua trinh day hoe dude coi 1A "cd sd vitng chac

cho một sự học tập có hiệu quả"

Cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, nhờ sự thành công của phong

trào nhà trường mới tích cực (chủ động) vấn để này đã được nhiều nhà

giáo dục học và tâm lí học chú ý nghiên cứu, vận dụng 3J Dewey đã

thành lập "nhà trường tích cực" (chủ động) và đã phát triển cách học tập

nhóm của học sinh Theo ông, vào thời kì đó đã điễn ra ba cuộc cách

mạng: sự tiến bộ khoa học, sự phát triển các ngành sản xuất kĩ thuật và

sự phát triển tỉnh thần dân chủ Ba tiến bộ đó lật đổ toàn diện nền tảng

của eơ cấu xã hội, sự tiến bộ của học đường phải đi theo chiều hướng của

các cuộc cách mạng đó Nhưng sự thích ứng đang tiến hành không day

đủ nên cần phải có một sự thay đổi toàn điện và đo đó, phải có một cuộc

cách mạng trong nhà trường Chịu ảnh hưởng triết học của William

James, tim li học trễ em của Stanly Hall và hoàn cảnh chính trị lúc bấy

giờ J Dewey đã xây dựng triết học thực dụng mà ông gọi là chủ nghĩa

công cụ "ehính từ triết học này ông đã xây dựng một khoa học sự phạm

rất tích cực (chủ động) uề sự làm uiệc chung của học sinh" Theo ông

môi trưởng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của trẻ do đó

phải tạo cho trẻ mộL môi trường càng gắn với đời sống càng tốt Hơn

Trang 18

nữa, chỉ có tạo nên môi trường làm việc chung mới giúp cho trẻ có thói

quen trao đổi kinh nghiệm thực hành, có cơ hội phát triển lí luận và

những khả năng trữu tượng hoá

Nhóm học tập của ông được xây dựng trong nhà trường tích cực

(chủ động) dựa trên tư tưởng đó

Sau này Kersehensteiner, cũng giống như J.Dewey cố gắng thực

hiện những nguyên tắc của "nhà trường tích cực” trong việc cải cách các trường trung học và tiểu học Ngaài phương pháp dạy học, ông còn muốn

thông qua hình thức tự quản của học sinh mà làm phát triển cá tính của

họ Ông chỉ ra rằng những hoạt động chung chẳng những khơi đậy tỉnh thần trách nhiệm cá nhân trong lương tâm của mỗi người, mà còn loại

bỏ được tất cả những hành động gây ra bởi những động cơ có tính chất,

ích kỉ, đồng thời hình thành cho học sinh thói quen tốt là tỉnh thần xã hội Ngoài ra, Kerschensteiner cũng chỉ ra nếu sử dụng không đúng, đôi khi hình thức học tập nhóm có thể dẫn tới một hình thức đặc thủ của sự ích ki, d6 1a “ich bỉ cộng đồng" Sau một thời gian làm việc chung, nhóm

đã trở thành một cá thể và lại vì quyền lợi, vì ganh dua, cá thể đó trở

thành ích kỉ

6 Pháp, vào năm 1920 đã hình thành những nhà trường mới, đặt vấn để phát triển năng lực trí tuệ của trẻ, khuyến khích các hoạt động

do chính học sinh tự quản Xu hướng này đã có ảnh hưởng sang Mĩ và

nhiều nước châu Âu

Õ Pháp, ngay sau đại chiến II đã ra đời những "1đp học mới” tại

một số trường trung học thí điểm Điểm xuất phát của mỗi hoạt động

đểu tuỷ thuộc vào sáng kiến, hứng thú, lợi ích, nhu cầu của học sinh Giáo viên là người giúp đỡ, phối hợp các hoạt động của học sinh, hưởng

vào sự phát triển nhân cách của học sinh Tiée rằng thí điểm này chỉ

duy trì được 7 năm, tuy đã có những gợi ý rất hay Các thông tư, chỉ thị

của Bộ Giáo dục Pháp suốt trong những năm 70, 80 đều khuyến khích tăng cường vai trò chủ động tích cực của học sinh, chỉ đạo áp dụng

phương pháp tích cực từ bậc Sơ họe, Tiểu học lên Trung học

Ở Nga, người ta càng quan tâm đến vấn để phát huy tính tích cực

nhận thức của học sinh Nhiều tác giả (Aristova, Iu.K.Babanxki,

Trang 19

M.A.Đanhilov, B.P Exipov, T.A.Hina, Kharlamoy, Lla.Leene, Makhumlov,

MN, Xeatkin, v.v ) đã nghiên cứu những con đường phát huy tính tích

cực nhận thức của học sinh:

~ Hoàn thiện nội dung dạy học;

~ Hoàn thiện các phương pháp dạy học;

~ Hoàn thiện những hình thức tổ chức dạy học Ở đây một số xu

hướng mới trong dạy học cũng được dé cập tới: dạy học chương trình hoá,

đạy học nêu vấn để, đạy học algorit hoá

Trong những thập kỉ gần đây, phương pháp tích cực tiếp tục phát triển với những hình thức mới

Người ta đặt mục đích giáo dục không chỉ là đạy học vấn mà cồn là

đào tạo Từ đó xuất hiện phương pháp giáo dục theo mục tiêu, với

chương trình được thiết kế mềm theo khả năng của cá nhân người học

với sự nhấn mạnh đào tạo về mặt phương pháp, được coi như một mục

đích dạy học Học sinh được trang bị một cách hệ thống khả năng và

công cụ trí tuệ cho phép giải quyết thành công những vấn để, hoàn

thành những mục tiêu để ra Để đào tạo năng lực thích nghị, tự chủ,

người ta giảo dục ý chí hành động, ý thức trách nhiệm với tiền trắc

nghiệm, quan tâm cả hai mặt những điểm đạt được và những điểm chưa

đạt được để đảm bảo cho mỗi học sinh đạt kết quả theo mục tiêu trước

khi bước vào một giai doạn đào tạo mới

Ở nước ta, phương hướng tích cực hoá quá trình học cũng đã được

quan tâm từ những nâm 1960 thể hiện qua các chủ trương "biển qué

trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo", qua nhiều sách báo, luận văn,

luận án để cập về phát huy tích cực của học sinh, sinh viên v.v đặc

biệt, phương pháp tích cực đã được thử nghiệm từ năm 1993 và được giới

thiệu cụ thể qua: “Một sế vấn dé về phương pháp giáo dục" (Nguyễn Kì

và Dương Xuân Nghiên, Vụ Giáo viên, 1993), "Phương pháp giáo dục

tích cực", Nguyễn Kì, Nhà xuất bản Giáo dục, 1994), v.v

b Bản chất

Phương hướng tích cực hoá quá trình đạy học dựa trên cø sở tâm lí

học cho rằng nhân cách của trẻ được hình thành thông qua các hoạt

động chủ động và sáng tạo, thông qua các hành động có ý thức A.Binê

Trang 20

phân biệt thích ứng mãy móc với thích ứng thông minh, xem tri thang

mình là hoạt động có chủ định được diều khiển từ nội tâm, bằng cách

xắc lập những mối liên hệ giữa chủ thể với hành động, J.Piagiê cũng

quan niệm trí thông minh của trẻ phát triển và mở rộng trường hoạt

động của nó nhờ sự "đối thoại" giữa chủ thể hành động với đối tượng và

môi trường, Tác giả viết "suy nghĩ tức là hành động", cũng tương tự như

trước kia Kan đã từng viết: "Cứch tốt nhất để hiểu là làm”

Tích cực là một nết quan trọng của nhãn cách, là một đức tính rất quý của con người Theo Kharlamốp: "Tính tích cực là trạng thái hoạt

động của chủ thể, nghĩa là người hành động Vậy tính tích cực nhận

thức là trạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bùi khát uọng học

tập cố gắng trí tuệ va nghỉ lực eao trong quá trình nắm oững biển thức"

“Tick cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành mội cách chủ động,

tự giác, có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có súng hiến uà đẩy hào hứng,

những hành động trí óc uở chân try nhằm nẳm uững biến thức, Rĩ năng

ua ki xdo, van dụng chúng nào trong học tập va thite ti

Tính tích cựe rất cần thiết cho mọi khâu của quá trình học tập Nó

cẩn thiết ngay cả khi học sinh chỉ ngổi "lặng lẽ" nghe giảng Bể ngoài

trông học sinh có vẻ thụ động theo đối giáo viên, nhưng thực

những ý đang được

diễn tả và có giải pháp trong óe mình về những vấn đề đang nảy sinh,

đưa ra những Lhắc mắc (eho bản thân hoặc cho giáo viên) về nội dung bài giảng Nói cách khác, Lư duy của người học lúc này dang hoạt động

một cách mãnh liệt Chỉ có người nào giác ngộ sâu sắc mục đích công

việc của mình mới có thải độ tích cực, chủ động trong học tập Chính vì vậy, muốn tích cực học tập, trước hết phải tự giác học tập, xem học tập

là nhiệm vụ của bản thân mình

Trong học tập, thực hiện những nhiệm vụ của việc học tập thì vai

trò chủ động tích cực phải thuộc về người học Không ai học thay cha

học sinh được

Tính chủ động biểu lộ trong kĩ năng hoàn thành những nhiệm vụ

nhận thức và thực tiễn, xác lập mối quan hệ của mình với tập thể dựa vào sức mình là chính Tính chủ động cũng như tính tích cực là những

nét của ý chí con người, là biểu hiện rõ nét của tính tự nguyện tự giác

Trang 21

Người học sinh ch dong trong hoe tập là người có kĩ năng tự giác nhận lấy công việc, hoàn thành công việc đó bằng chính sức của bản thân, do

những động cơ và nguyên tắc mà chính bản thân tự dé ra, không chờ đợi

Người dó thường phấn khỏi, có hoài bão vươn lên

những đỉnh cao của học tập, có nghị lực để giải quyết các vấn để trong

ệc dạy học chỉ có thể có hiệu quả và chất lượng cao khi có sự cộng

tác hết sức chặt chẽ, hợp lí giữa thầy và trò, trong đó thầy giữ vai trò chỉ đạo, trò giữ vai trò tích cực, tự lựe, làm sao quá trình đạy học là sự hoạt

động tương đồng và phối hợp của cả thầy và trò về mat trí tuệ và thực

hành một cách mãnh liệt, đầy lôi cuốn

Trong tác phẩm: "Hướng dẫn đào tạo giáo uiên Đức" A.Đistervoc

đã viết: "Không thể ban cho hoặc truyền đạt đến bất kì một người nào sự phat trién va giáo dục Bất cứ ai muốn được phát triển oà giáo đục cũng phải phấn đấu bằng sự hoạ! động của bản thân, bằng sức lực của chính mình, bằng sự cố gắng của bản thân Anh ta chỉ có thể nhận được từ bên

ngoài sự bích thích mà thôi Vì tự hoại động tự lực là phương tiện

0á đồng thời là kết quả của sự giáo dục"

Theo quy luật phát triển của sự vật, ngoại lực, đù quan trọng đến đầu

cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện, còn nội lực mới là nhân

tố chính giúp người được giáo dục trở thành người tự giáo dục, là nhân vật

tự nguyện, chủ động, có ý thức về giáo dục của bản thân mình

Theo Jean Vial (1963), phương pháp tích cực có ba tiêu chuẩn chủ

yếu: hoạt động, tự do, tự giáo dục Để có được kiến thức mới, học sinh

phải được hoạt động, được quan sát thao tác trên các đối tượng, nhất là học sinh tiểu học Học sinh phải được tự đo phát huy sáng kiến, được lựa

chọn con đường đi tới kiển thức Hoạt động giáo dục phải hướng tới sự

đấp ứng nhu cầu của trẻ, thúc đẩy nhu cầu đó Phương pháp tích cực

hướng tới sự phát huy tính chủ động, tăng cường tính tự chủ, sự phát

triển và hoàn thiện nhân cách của học sinh

Phương pháp tích cực yêu cầu tỉnh giản phần trình bày của giáo viên,

tăng cường công tác độc lập của học sinh, chuẩn bị cho học sinh dan dan lam

chủ quá trình đào tạo mình ở bậc Đại học và trong giáo đục thường xuyên,

Trang 22

Tuy nhiên, không phải mọi loại kiến thức đều có thể cho học sinh

tự chiếm lĩnh bằng hoạt động tích cực, dù có đủ phương tiện học tập Phương pháp tích cực đòi hỏi nhiều thời gian, không thể vận dụng ở mọi nơi, mọi lúc Cũng không phải mọi học sinh đểu sẵn sàng tự giác tự

nguyện, trong giáo dục đôi khi phải bất buộc Trong phương pháp tích

cực có lúc những học sinh giỏi bị thiệt thời vì phải chờ đợi những bạn

chậm chạp trong việc hoàn thành công Lác độc lập

Phương pháp tích cực không hể giảm nhẹ vai trò của giáo viên

Trái lại, nó đồi hỏi ở giáo viên trình độ lành nghề, óe sáng tạo, tính độc

đáo để đóng vai trò người khởi xướng, động viên, xúc tác, trợ giúp, hướng

dẫn, cố vấn

Phương pháp tích cực còn yêu cầu có đủ các tài liệu, các phương

tiên, thiết bị học tập cần thiết để học sinh được thao tác trực tiếp Hình thức tổ chức lớp học thay đổi linh hoạt Không khí yên lặng, trật tự của

lớp học truyền thống sẽ được thay thố bằng những tiếng thì thẩm trao

đổi, bằng những tranh luận sôi nổi, bằng những hoạt động cuốn hút của

các nhóm tìm tòi nghiên cứu

c _ Đặc trưng cơ bản của phương pháp tích cực

~ Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

~ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

~ Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

~ Kết hợp dánh giá của thầy với tự đánh giá của trỏ

1.3.2 Cá thể hoá việc dạy học

Cá thể hoá việc dạy học xuất hiện vào khoảng những năm 50 của

thế kỉ XX, nhưng nó có mầm mống từ xa xưa

a Lịch sửvấn để

Ở thời cổ Trung Quốc người ta chủ yếu sử dụng hình thức tổ chức

dạy học cá nhân Thầy giáo dạy từng cá nhân hoc sinh Trò tiến lên theo con đường và nhịp độ thích hợp với đặc điểm của bản thân Nhìn chung, hình thức dạy học cá nhân có đặc điểm sau:

~ Học sinh không học theo năm học nhất định (có thể nhận học trò

bất kì lúc nào trong năm)

Trang 23

~ Không có lớp học với số học sinh ổn định có cùng lứa tuổi và cùng

trình độ nhận thức như nhau

~ Học sinh không cùng học một nội dung thấng nhất, đối với mỗi

học sinh, thầy có thể có những nội dung và phương pháp đạy riêng

Hình thức dạy học theo cá nhân có nhiều nhược điểm và hạn chế

như không có tính tổ chức và kế hoạch, lãng phí sức lao động của giáo

viên, số lượng học trò đào tạo quá ít v.v Tuy nhiên, hình thức dạy học

cá nhân cũng có những ưu điểm cơ bản như có sự tiếp xúc trực tiếp giữa

thầy và trò, giáo viên thường xuyên thu được những liên hệ ngược, tạo điều kiện cho việc điều chỉnh hoạt động dạy và học của giáo viên và học

sinh Mặt khác, dạy học theo cá nhân đồi hỏi người học phải học tập tích

cực theo yêu cầu của giáo viên và nó tạo điểu kiện cho người học được học tập với nội dung và phương pháp vừa sức, phù hợp với yêu cầu cho từng đối tượng người học

Đến cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVIH ở châu Âu, nền công thương

nghiệp phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi nhà trường phải cung cấp cho xã hội

hàng loạt người có trình độ văn hoá nhất định, phù hợp với yêu cầu của

nền sẵn xuất xã hội Vì vậy, với hình thức dạy học cá thể, nhà trường

không thể đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội mà phải tìm ra những

hình thức tổ chức đạy học khác có hiệu quả hơn

Gitta thé ki XVII, J.A Kômenxki (1592 — 1670), đanh nhân thế giới, nhà giáo dục nổi tiếng của See-Xlôvakia đã gia công nghiên cứu

tổng kết kinh nghiệm giáo dục đương thời Ông là người đầu tiên trong

lịch sử giáo dục và nhà trường đã xây dựng cơ sở lí luận cho hình thức lên lớp (hình thức lớp - bài): Học sinh được học theo lớp với số lượng ổn

định, với lứa tuổi trình độ nhận thức như nhau, với thời khoá biểu nhất

định và được nghe giảng đồng thời với nhau từng bài, với những mục

đích và nhiệm vụ học tập nhất định Có thể nói rang, lúc bấy giờ thì đây

là một phát mình to lớn về mặt sư phạm, J.A Kômenxki xứng đáng được

công nhận là "Ông tổ của nền giáo ‹:ục cận đại, người cha của hệ thống

lớp - bài" Hệ thống này có bốn đặc điểm cơ bản: có bài, có lớp, cô giờ

học, có thầy Nhờ đó việc dạy học có hiệu quả hơn hẳn hình thức tổ chức

hạc cá nhân trước dây

6 day giáo viên có thể tổ chức, điểu khiển đồng thời đối với mọi học

Trang 24

sinh trong việc lĩnh hội tri thức mới, ôn tập củng cố và kiểm tra, đánh

giá kết quả học tập của họ Song nó có nhược điểm cơ bản là giáo viên

khó chú ý đến những đặc điểm hoạt động nhận thức của cá nhân, đặc

biệt là khả năng tư duy tích cực của họ, học sinh dé thu dong va phải

tuân theo một cách duy nhất của thầy

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ dẫn tới việc táng không

ngừng khối lượng tri thức khoa học, đã làm xuất niện những khái niệm

eø bản mới và những ngành khoa học đã làm cho mỗi thập kỉ là mật

bước ngoặt trong lịch sử nhân loại Vì vậy, điểu đó dẫn tới khối lượng tài

liệu học tập trong các chương trình giáo dục phổ thông và đại học không

ngừng được tăng lên Khối lượng tri thức mà học sinh phải nắm vững

trong thời kì học tập ở trường phổ thông bây giờ lớn đến mức họ không

đủ thời gian nghiên cứu được nó Vì vậy học sinh phải chịu sự quá tải

trong hoe tập là điều hiển nhiên Để giải quyết tình hình trên giáo viên

giảm tốc độ và độ sâu trong việc trình bày tài liệu Điều đó chỉ có lợi cho những học sinh trung bình mà lại không phù hựp với khả nắng nhận thức của cả học sinh học yếu, cã học sinh học khá, khi học tập nghiên

cứu một môn học nào đó Vì vậy, sự thiếu phù hợp giữa khối lượng tri thức và thời gian đành cho việc nghiên cứu chúng với thành phần học

sinh không đồng nhất cuối cùng sẽ dẫn tới việc tổ chức quá trình đạy

học đồ không đạt kết quả tối ưu Chi bang su tổ chức dạy học có tính

chất cá thể hoá mới giải quyết được tĩnh hình trên

Ngoài ra, như mọi người đểu nhận thấy, trẻ em rất khác nhau về

năng lực, khí chất, hứng thú, nguyện vọng, mơ ước, con đường lập nghiệp

Họ cũng khác nhau về tư chất được di truyền, về trình độ phát triển,

Do đó, việc cá thể hoá dạy học, nghĩa là đòi hỏi phải có một sự tổ

chức đặc biệt quá trình dạy học nhằm thực hiện những yêu cầu của sự

chỉ dạo cá biệt Không biết rõ thái độ, năng lực, nhủ cầu của học sinh thì

không thể cá

thế hoá quá trình giáo dục

b Ban chat

Bản chất của cá thể hoá việc đạy học la chién luge phuong phap,

thủ pháp đạy phải phù hợp với chiến lược phương pháp, thủ pháp học

của từng học sinh Việc đạy phải xuất phát từ người học, vì người học,

Trang 25

đáp ứng được những yêu sầu, hứng thú, sở thích, khả năng, đặc điểm

tâm sinh lí cấu trúc tư duy, vốn tri thức, cảm xúc, động cơ học Lập điều

kiện của người học v.v

O day nên phân biệt hai cấp độ của cá thể hoá

1~ Phân hoá là tổ chức cho học sinh được xếp vào các lớp hay nhồm

học tập phân hoá đặc biệt theo khả năng đặc điểm cá biệt của học sinh

(như là trung học chuyên nghiệp)

3- Cá nhân hoá đề cập đến sự chú ý của giáo viên đối với những đặc

điểm của từng học sỉnh trong những điều kiện của lớp học bình thường,

Điểm trọng yếu trong phương pháp này là mỗi cá nhân tiến hành các bước học tập bằng hành động của chính mình chứ không phải là giáo

viên tiến hành cho Lất cả mọi người hoặc là lối học tập thể hình thức

„không biết đến cá nhân làm gì trong tập thể nhóm

ẤT thuật được sử dụng bao gi eũng là những kĩ thuật có thể giúp

cho cá nhân thực hiện được chương trình từng bước theo một trình tự nhất định và theo nhịp độ eá nhân

sẵn phẩm: Người học tự mình làm ra sản phẩm học tập

dan dần, từng bước, trong tiến hành xử lí chương trình, song thật ra là

làm lại sản phẩm, vì người học chỉ có việc di theo lệ trình có sẵn từ

trước, với cách riêng của cá nhân mình

Về mặt quản lí cũng tương tự như vậy: Đối với người học thì như là

tự quản lí, vì đây là làm việc cá nhân, theo nhịp độ cá nhân song thực

chất là lệ thuộc chặt chẽ vào bản chất của chương trình (như là trường hợp đạy học chương trình hoá bằng máy tính)

Về mặt điểu chỉnh: Điều chỉnh trở thành thứ yếu, vì nó là kết quả

của các mối quan hệ trong học tập (ít được chú ý trong phương pháp này)

Ngoài ra còn có dạng học cá nhân Đó là dạng học tập trong đó, mỗi

học sinh độc lập hoàn thành các nhiệm vụ học tập theo trình độ và khả

năng riêng của mình, không có sự tác động của người khác, Hình thức

học tập này có ưu điểm là mỗi cá nhân có thể phát huy hết tiểm năng

của mình, rèn luyện được năng lực làm việc độc lập Mặt khác, về giảng đạy, giáo viên có thể cá biệt hoá hoạt động nhận thức của học sinh Tuy

nhiên, đạy học cá nhân để làm mất nhiều thời gian, giáo viên mất nhiều

Trang 26

công sức, không có sự tác động qua lại, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhãn học sinh

Day hoe ed thé hod doi hai giáo viên làm chủ được các năng lực sau đây:

~ Năng lực cần thiết để nhận dạng đặc tính của học sinh làm cơ sở

cho sự phân hoá: Đó là năng lực cần cho giai đoạn chẩn đoán có phần

tương đối đễ (như là trình độ học sinh theo kết quả học tập) có phần tế nhị, phức tạp hơn nhiều (như là những gì liên quan đến cách học, phong

cách điểu hành trí lực của học sinh)

~ Năng lực cần thiết để xác định các dạng hoạt động có thể khai thác tiểm năng của mỗi học sinh song không phải vì mà làm cho học sinh khép kín đặc thù của mình: nếu ngôn ngữ bẩm sinh của một học

sinh thuộc đạng "nhìn", song cần phải mở rộng tiểm năng của học sinh

đó bằng cách giúp cho nó làm chủ được ngôn ngữ thứ hai, ngôn ngữ

"nghe" Nếu học sinh gặp khó khăn trong một môn học, cần phải ra cho

các em những bài tập vừa sức đồng thời phải đìu đắt nó giải được những

bài tập khó hơn "rên sức một ít"

~ Năng lực cần thiết cho việc điểu hành đồng thời các hoạt động

đạy học phân hóa, như là điểu hành lớp ghép ở trường tiểu học miền núi, điều hành các nhóm học sinh thực hành nghề ở xưởng thự

cơ Đặc điểm

~ Mục tiêu dạy học phù hợp với điểu kiện, đặc điểm của từng học sinh

~ Nội dung đạy học phù hợp với nhu cầu, hứng thú của từng học sinh

“Trong quá trình đạy học, việc quán triệt tính vừa sức của học sinh

là cẩn thiết Nguyên tắc này đời hỏi khi giảng dạy phải lựa chọn nội

dung, van dụng phối hợp với các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với trình độ phát triển chung cita tap thé hoe sinh,

đồng thời cũng phải phù hợp với trình độ phat triển của từng đối Lượng

học sinh, đảm bảo cho mọi học sinh đều có thể phát triển ở mức độ tối đa

so với khả năng của mình

Thue tiễn đạy học chứng tô rằng hoạt động giảng đạy và học tap vừa sức với học sinh sẽ thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ năng lực và phẩm chất trí tuệ nói riêng, phát triển toàn bộ nhân cách nói chung của

học sinh: học sinh sẽ hứng thú học tập hơn nếu có thái độ học tập đúng

Trang 27

đấn, có niềm tin vào năng lực của bản thân v.v Ngược lại, nếu giảng

dạy và học tập ở mức độ đễ quá, hay khó quá, nội dung nghèo nàn, lạc

hậu đều mang lại hậu quả là kìm hãm sự phát triển trí tuệ và nhân

cách của học sinh

Phương pháp đạy phải phù hợp với phương pháp học của từng học

sinh Phương pháp dạy phải phong phú, đa dạng nhiều cách nhằm phù

hợp với cấu trúc tư duy, tiếp thu của mỗi học sinh Để có được một

phương pháp, thủ thuật dạy học thích hợp với mỗi thành viên của lớp,

khi triển khai giảng đạy, giáo viên cần nắm vững đặc điểm đối tượng

(học sinh), nhất là năng lực nhận thức, năng lực nghiên cứu khoa học,

động cơ, hứng thú, lí tưởng, nghề nghiệp v.v

Giáo viên cũng cần hiểu rõ trạng thái tâm lí, tâm tư tĩnh cảm của

học sinh ở thời điểm lên lớp để có được những thủ pháp phù hợp

Điều kiện dạy học phù hợp với mục tiêu nội đung phương pháp

Chúng ta sử dụng phương tiện đạy học này hay khác phụ thuộc vào đặc

điểm tâm lí của học sinh, giai đoạn dạy học, lứa tuổi, điểu kiện v.v

Giáo viên cần sử dụng các phương tiện dạy học sao cho hợp lí nhất, đáp

ứng được nhu cầu, sở thích của học sình

1.3.3 Công nghệ đào tạo

a, Lich st van dé

“Trước đây trong nền giáo dục cũ, việc đạy học chủ yếu dựa vào lời

nói và chữ viết, đó là dạy học cổ truyền

Vào đầu những năm 40 của thế kỉ XX, người ta bắt đầu sử dụng

phim ảnh Cuối những năm 40 và đầu nam 50, 6 khắp chấu Âu, châu Mĩ

Latinh việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học, đạy học chương

trình hoá và các máy dạy học được sự hưởng ứng rộng rãi của các nhà

giáo, các nhà khoa học giáo dục Ủ Tây Âu, ở MH, ở Liên Xô (cũ)

Đến khoảng cuối những năm 60, việc ứng dụng rộng rãi các phương tiện kĩ thuật vào rong giáo dục đã làm xuất hiện các thuật ngữ

Công nghệ giáo dục, Công nghệ dạy học Công nghệ đào tạo Khái niệm

Công nghệ đào tạo qua quá trình phát triển từ những ngày đầu (khoảng

những năm 50) cho đến nay có thể chia làm hai nhóm

~ Khái niệm Công nghệ đào tạo theo nghĩa hẹp

~ Khái niệm Công nghệ đào tạo theo nghĩa rộng

Trang 28

«Khai niệm Công nghệ đào tạo theo nghĩa hẹp

Về cơ bản, những định nghĩa thuộc nhóm này đồng nhất công nghệ

đào tạo với việc sử dụng vào giáo dục các nhất minh, các sản phẩm công nghệ hiện đại và các phương tiện kĩ thuật dạy học Theo Collier và cäc

cộng tác viên: "Công nghệ đào tạo có nghĩa là áp dụng các hệ thống ki

thuật va phương tiện hỗ trụ để cải tiến quá trình học tap eka con người"

® Khát niệm Cộng nghệ đào tạo theo nghĩa rộng

Cùng với sự phát triển của việc áp dụng các phương tiện kĩ thuật

day học và thành tựu của khoa học vào quá trình giáo dục, khái niệm Công nghệ đào tạo ngày càng hoàn thiện, mở rộng và có chiều sâu Sau

đây là một vài dịnh nghĩa khái niệm Công nghệ đào tạo

- Tổ chức giáo dục UNESCO tại cuộc hội thảo ở Gidnevd (tháng

ñ/1870) đã đưa ra đỉnh nghĩa sau:

"Công nghệ giáo dục là khoa học uề giáo đục, nó xác lập cúc nguyên

tắc hợp lí của công tác dạy học uà những điều kiện thuận lợi nhất để tiến

hành đào tạo cũng như xác lập các phương pháp uà phương tiện có kết

quả nhất để đạt mục tiêu đảo tạo đề ra, đồng thời tiết biệm được sức lực

của thay va tro”

= David G.Hawkridge, giáo sư khoa học ứng dụng, Giám đốc

trường Đại học Mở Anh (Open University) viết:

"Công nghệ giáo dục bao hàm một phạm uì rất rộng: Nó bao gồm

hầu hết các phương diện của giáo dục từ oiệc soạn thảo các chương trình

cho dén uiệc học tập của học sinh, từ các bảng đen dùng ở nhà trường

nông thôn đến việc thiết lập thời khoá biểu bằng máy tính điện tử"

~ Theo Janskieviz (Ba Lan, 1971): "Công nghệ dạy học là hệ thống

các chỉ dẫn sử dụng các phương tiện, phương phúp hoạt động, mà kết quả

là phải đào tạo được những người tốt nghiệp theo mong muốn trong thời gian ngân nhất có thể được, vdi sit chỉ phí phương tiện một cách tối wu"

— Terami Nakano (Nhật Bản) trong bài viết về "Công nghệ giáo dục và đào lạo giáo viên” đọc tại Hội nghị Công nghệ giáo dục châu Á lần thứ ba tại Tôkiô đã nêu: "Công nghệ giáo đục là một phương thức tu duy có tính khoa học oà hệ thống đổi uới giáo dục, chứ không chỉ đơn thuần là giải thiệu cde phudng tiện giảng dạy hay công nghệ phần cứng"

Trang 29

b _ Bản chất của Công nghệ đảo tạo

Công nghệ đào tạo là sự áp dung những thành tựu của khoa học kĩ

thuật và công nghệ vàa quá trình dạy học, nhằm thực hiện mục đích

giáo dục với hiệu quả kinh tế cao hoặc Công nghệ đào tạo là sự công

nghệ hoá quá trình đạy học Nói một cách đầy đủ hơn: Công nghệ giáo

dục là khoa học về giáo dục con người, dựa trên cỡ sở tổng hợp những

thành tựu của nhân loại từ trước tới nay, đặc biệt là những thành tựu

hiện dại của các khoa học giáo dục và các khoa học có liên quan như

sinh học, tâm lí học, điều khiển học, lí thuyết tổ chức, lôgie học, kinh tế

giáo dục học Công nghệ giáo dục tổ chức một cách khoa học quá trình

đão tạo con người bằng cách xác định một cách chính xác và sử dụng một

cách tối ưu đầu ra (mục tiêu giáo dục), đầu vào (họe sinh), ndi dung day

học, các điểu kiện và phương tiện kĩ thuật dạy học, các tiêu chuẩn đánh

giá, hệ phương pháp tích cực hoá chương trình hoá, quy trình hoá và cá

thể hoá quá trình dạy học, nhằm đại được mục đích giáo dục với sự chỉ

phí tối ưu thời gian, sức lực, tiển của của giáo viên, học sinh, nhân đân và

Nhà nước, nhằm đáp ứng được kịp thời những yêu cầu của thời đại

Một số điểm cần chú ý

~ Công nghệ giáo dục kế thừa tất cả những thành tựu, những tỉnh

thoa của nhân loại về giáo dục, chứ không phủ định sạch trơn như một sổ

người lầm tưởng

~ Công nghệ giáo đục xem quá trình giáo dục như là một quá trình

công nghệ đặc biệt, nhằm sản xuất ra những sản phẩm cao cấp, những

con người, những bộ khoa học kĩ thuật Với tính chất là quá trình

công nghệ phải chú ý đầy đủ đến các yếu tố trong sơ để dưới đây:

+ Đầu ra, tức sản phẩm cụ thể cần sản xuất, ở đây là mục tiêu giáo dục

+ Đầu vào, tức nguyên vật liệu và các điểu kiện, ở đây là học sinh,

nội dung đạy học, các điều kiện và cơ sở vật chất, thiết bị và phương tiện

Trang 30

Thánh tưu hiện | Lại ele Đạt được mục |

\dai của các khoa phương tiện đích giáo dục với

¡_ học liên quan: Quá | KTDH sự chỉ phí tổi ưu

sinh hoc, thong trinh dao E = thời gian, sức

[tin điều khiển + tạo (xác jj NðId0M lực, tiền của của hoc, tổ chức lao| — ¡ đính sử | (dao tao) giáo viên, học

| đông khoa học dung tối L sinh, nhân dân,

là wu) Ly Hetống Nhà nước

Bản chất của Công nghệ giáo dục

Công nghệ dạy học là một quá trình công nghệ đặc biệt (không

phải là "Một công nghệ đào tạo theo nghĩa đẩy đủ như công nghệ làm lạnh, công nghệ làm giấy") mà ở đó nguyên vật liệu là người học sinh, là

một chủ thể có ý thức Trong quá trình dạy học theo quan điểm công

nghệ giáo dục, giáo viên vừa là người thiết kế, vừa là người góp phần thi công; còn học sinh vừa là người thỉ công vừa là người thiết kế quá trình học tập của mình Trong quá trình này, học sinh không chỉ đi theo

đường thẳng mà còn đi theo con đường phân nhánh: vừa đi theo đường

algorit, vừa đi theo con đường øristic Như vậy, các quan niệm quá cứng

nhắc, máy móc về quá trình đạy học theo quan điểm Công nghệ giáo dục

đều là sai lầm

Trang 32

CAC YEU TO VA CAC THANH PHAN

CUA CONG NGHE DAY HOC

~KITHUAT SAN PHẨM

TRINH DO ~ CON NGƯỜI ,KÉT QUẢ

CÔNG NGHỆ HOÀN CHỈNH

= eee

Trang 33

e Đặc điểm của Công nghệ đào tạo

Công nghệ đào tạo như đã trình bày là khoa học tổ chức một cách

tối ưu quá trình đào tạo nhằm đạt hiệu quả giáo duc cao nhất về số

lương cũng như chất lượng với sự chi phí ít nhất về thời gian sức lực,

tiền của của thầy, trò, nhân đân và Nhà nước, nhằm đáp ứng có hiệu

quả và kịp thời những yêu cầu của nền kinh tế xã hội thời dại ngày nay

Công nghệ đào tạo có các đặc điểm cơ bản sau đây (theo một công trình

nghiên cứu nhiều năm của các nhà khoa học giáo dục Ba Lan)

~ Tính hiện đại được hiểu là thường xuyên áp dụng vào thực tiễn

giáo dục những đổi mới về giáo dục có căn cứ khoa học và được kiểm tra

bằng thực nghiệm

T6i ưu hoá tức chi phí ít nhất về thời gian, sức lực, tiền của, nhưng đạt kết quả cao nhất trong quá trình đào tạo

'Tính tích hợp: Việc sử dụng tổng hợp nhuần nhuyễn những

thành tựu của nhiều khoa học vào việc đào tạo giáo dục học hiện đại

phải đưa vào những thành tựu của nhiều khoa bọc hiện đại khác

- Tính khoa học: Phải xây dựng một hệ thống khái niệm, phạm

trù, quy luật, tính quy luật để điều khiển quá trình đào tạo

‘Tinh lap lai két quả: Cùng một quá trình đào tạo phải đạt được

những kết quả mong muốn giống nhau (hoặc gần giống nhau)

~ Chương (trình hoá hành động tức là từ lúc thăm đỏ nhu cầu của

xã hội đến lúc tuyển sinh, cho đến quá trình cụ thể như học tập, nghiên

cứu khoa học đều được tiến hành theo những quy trình vĩ mô và vi mô

nhất định,

~ Sử dụng các phương tiện kĩ thuật day hoe:

Đánh giá kết quả đào tạo một cách khách quan, kịp thời về định

lượng và dịnh tính | i

Tóm lại, Công nghệ đào tạo với bản chất và các đặc điểm như đã

trình bày rõ ràng là một phương hướng quan trọng để nâng cao chất

lượng và hiệu quả của quá trình đào Lạo và theo ý chúng tôi, đó cũng là

một phương thức quan trọng để thực hiện quan điểm đạy học lấy học

sinh làm trung tâm mà chúng ta sẽ nghiên cứu trong chương sau.

Trang 34

1.4 Định hướng đổi mới Phương pháp dạy học địa lí

NQTW4 kaoá VII đã xác định “Khuyến khích tự học” phải “Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh

nang lực tư đuy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn để”

NQTW2 khoá VIII tiếp tục khẳng định phải “Đổi mới phương pháp

giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dung các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình đạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên

đại học”

Định hướng trên đây đã dược pháp chế hoá trong Luật Giáo dục,

điều 24.2, có ghỉ “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm

của từng lớp họe, môn hoe; béi đưỡng phương pháp tự học, rên luyện kĩ

năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Những năm gần đây, trong thập kỉ cuối cùng của thế kỉ XX, các tài

liệu giáo đục và dạy học ở nước ngoài và trong nước — kể cả một số văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo - thường nói tới việc cần thiết chuyển

từ dạy học lấy giáo viên lâm trung tâm (GVTT) sang dạy học lấy học

sinh làm trung tâm (HSTT)

€6 thể xem “đạy học lấy học sinh làm trung tâm” là một tư tưởng, một quan điểm, một cách tiếp cận mới về hoạt động dạy học Người ta còn dùng một số thuật ngữ khác, tương đương, như dạy học tập trung

vào người học, dạy học tích cực hoá hoạt động người học Các thuật ngữ này đều có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò

của người học trong quá trình dạy học, khác với tư tưởng, quan điểm, cách tiếp cận truyền thống là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của

người đạy

Chuyển từ dạy học GVTT sang dạy học HSTT là một xu hướng tất

yếu, theo lịch sử phát triển của phương pháp giáo dục và dạy học trong

nhà trường

Dạy học lấy học sinh làm trung Lâm là một tư tưởng, một quan

Trang 35

điểm thể hiện một định hướng bao gồm nhiều phương pháp cụ thể

Trong cuốn Lịch sử uà thời sự vé các nhương pháp sự phạm tác gia Jean

Vial đã nêu: Các phương pháp dù đa dạng dến như thế nào, cũng đều có

hai nét đặc trưng:

— Đặc trưng thứ nhất là sự gấn kết với một tư tưởng cơ bản, sự

định hướng và tổ chức thực hiện theo tư tưởng đó

~ Đặc trưng thứ hai là một phương pháp cụ thể nhằm đạt một mục tiêu xác định

Căn cứ vào “tam giác dạy học” có ba đỉnh: tác nhân (Thầy), chủ thể (Trò), khách thể (Mục tiêu), Jean Vial đã coi lịch sử các phương pháp

giáo dục có bẩn hướng chính:

(1) Phương pháp giáo điểu: Khách thể (mục tiêu học đường) được xác

định một lần cho mãi mãi (khách thể lặp di lặp lại); thầy giữ vai trò ưu thế tuyệt đấi là người nắm vững quyển lực và tri thức; trò thụ động, mở nhạt

(3) Phương pháp cổ truyền: Khách thể tái hiện; thầy giữ vai trò gợi

mở đối với học sinh; trà được định hướng

(3) Phương pháp tích cực: Khách thể tái sáng tạo; thầy giữ vai trò

trọng tài; trò chủ động vào cuộc

(4) Phương pháp tự giáo dục: Khách thể được sáng tạo; thầy mờ nhạt;

trò được giải phóng.

Trang 36

T1: Thầy quyền lực - Tri thức

Sơ đồ chung về các phương pháp giáo duc (Jean Vial, 1986)

1.5 Sự phân loại các phương pháp dạy học địa lí 1.5.1 Khải niệm về phương pháp dạy học

Phương pháp hiểu theo nghĩa chung và rộng nhất là hành vi có

mục dích nhất định Đó cũng là những cách thức, những con đường mà

người ta cấn đi theo để đạt được mục đích Theo cách hiểu như vậy thì

phương pháp dạy học là những cách thức tương tác giữa giáo viên và học sinh e6 liên quan đến các hoạt động dạy và học, nhằm mục đích giáo dục

và trau đổi học vấn cho thế hệ trễ Trong mấy chục năm gần đây, nhiều

cuộc tranh luận sôi nổi đã nổ ra xung quanh các vấn để: day hoc 1A mot hoạt động duy nhất có hai hoạt động riêng rẽ, hay kết hợp chật chẽ với

Trang 37

nhau? Nếu là hai hoạt động thì hoạt động nào có tính quyết h, hoạt

động học quyết định hoạt động đạy hay hoạt động đạy quyết định? Hoạt

đông học? Nói khác đi, đây là vấn để phương pháp đạy của giáo viên

quyết định phương pháp học của học sinh hay ngược lại Những quan điểm khác nhau về các vấn để này đã được phản ánh khá rõ trong các

dịnh nghĩa về phương pháp dạy học Hiện nay, chúng La thường gặp ba cách định nghĩa sau:

- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của người giáo viên

để truyền thụ kiến thức, rèn luyện kĩ năng và giáo dục hoe sinh theo

mục tiêu của nhà trường

Phương pháp đạy học là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện

làm việc của giáo viên và họe sinh trong quá trình dạy học, nhằm đạt tới

những mục đích giáo đục

~ Phương pháp đạy học là cách thức hướng dẫn và chỉ đạo của giáo

viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học

sinh, dẫn tới việc học sinh lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình

thành thế giới quan và phát triển năng lực nhận thức

Định nghĩa thứ nhất phản ánh một quan niệm cũ về vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học Theo quan niệm này thì giáo viên là nhân vật trung tâm giữ vai trò chỉ đạo, hoạt động tích cực, còn hoe sinh

thi thụ động thực hiện những điều thầy dạy Quan niệm đó cũng dẫn đến chỗ coi các phương pháp dạy học đều là các phương pháp của thầy

Định nghĩa thứ hai dung hoà hơn, coi phương pháp dạy học là một

sự kết hợp, ngang hàng của hai hoạt động đạy và học Nhiệm vụ truyền thụ trị thức của thầy cũng quan trọng như nhiệm vụ lĩnh hội trí thức của trò

Định nghĩa thứ ba thể hiện quan niệm mới, gần đây nhất, sau khi xuất hiện lí thuyết về sự lĩnh hội tri thức Theo quan niệm này thì day

học chính là quá trình tổ chức cho học sinh lĩnh hội trị thức Vai trò của học sinh trong quá trình đạy học là vai trò chủ động Nói khác đi là các

phương pháp học Lập, xuất phát Lừ các quy luật của sự nh hội trí thức

quyết định hoạt động của giáo viên, phương pháp dạy của giáo viên,

Phương pháp bao giờ cũng phụ thuộc vào mục tiêu hành động, vì

vậy mục đích là đặc điểm cơ bản nhất của phương pháp dạy học Phương

Trang 38

pháp đạy học trước hết phải phục vụ cho mục tiêu đào tạo của nhà trường, đào tạo những thế hệ học sinh làm chủ được hoạt động nhận

thức, trở thành những người lao động có học vấn, có đạo đức, tư cách, biết sử đụng vốn tri thức của mình một cách sáng tạo vào công cuộc xây

dựng đất nước

Vậy thì phương pháp đạy học trong nhà trường phải được vận dụng

một cách có ý thức để đạt được mục tiêu đó một cách nhanh nhất, có

hiệu quả nhất

Dựa vào tính mục đích này, trong những năm gắn đây, các nhà lí

luận dạy học đã để ra nhiều xu hướng dạy học mới, nhằm phát huy tính

tích cực, phát triển năng lực tự nhận thức, năng lực độc lập công tác của

học sinh như các phương pháp dạy học nêu vấn để, phương pháp đạy học

chương trình hoá, angorit hoá

Mỗi phương pháp đều muốn vạch ra một con đường tối ưu để đạt

được mục tiêu Các phương pháp này có thể vận dụng để dạy tất cả các

môn học trong nhà trường Vì vậy chúng cũng là những phương pháp

chung về mặt lí luận dạy học

Ngoài tính mục dích, một đặc điểm quan trọng nữa của phương

pháp dạy học là nó còn phụ thuộc vào nội đung Một mặt, phương pháp

day học bao giờ cũng là phương pháp dạy những trí thức nhất định hoặc những cách thức hoạt động trí óc và thực hành nhất định Mặt khác, phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn liền với một hoặc nhiều phương

tiện dạy học xác định Vì vậy, mỗi môn học do có nôi dung và các phương

tiện dạy học riêng, nên cũng có những phương pháp dạy học riêng Đó là

các phương pháp đạy học bộ môn

Trong môn Địa lí lại có nhiều nội dung khác nhau như địa lí tự

nhiên, địa lí kinh tế - xã hội, thành thử phương pháp dạy học địa lí cùng

lại có thể phân hoá ra: phương pháp dạy địa lí tự nhiên, phương pháp

day hoe địa lí kinh tế - xã hội

Ngoài ra, do đặc điểm riêng của nội đung môn Địa lí là luôn luôn phải gắn với bản đổ, với việc quan sát trên thực địa, cho nên phương

pháp đạy học địa If cũng có sự khác biệt khá rõ rệt so với phương pháp

dạy học các môn khoa học khác Đó chính là nguyên nhân làm nảy sinh

ra những phương pháp dạy học đặc trưng của mên Địa lí, như: phương

Trang 39

pháp bản đồ, phương pháp phân tích các số liệu thống kê kinh tế theo

lãnh thể, phương pháp thực địa v.v

1.5.2 Sự phân loại các phương pháp dạy học

Các phương pháp dạy học hiện nay rất phong phú và đa đạng Trải

qua một thời gian dài trong quá trình phát triển giáo dục, người ta đã

tích luỹ được nhiều phương pháp dạy học, vì vậy việc phân loại chúng là

một vấn để phức Lạp và cực kì khó khăn Từ giữa những năm 50 đến

nay, đã có nhiều cuộc thảo luận sôi nổi về phương pháp dạy học và

những cơ sở phân loại chúng Một số người vẫn chấp nhận những

phương pháp cũ nhưng lại đặt yêu cầu bổ sung, cải tiến và phân loại

chúng trên những cơ sở luận chứng khác nhau v.v

Để có được khái niệm đúng đắn về sự phân loại các phương pháp

day hoe, trước hết chúng ta cần nhớ một điều là khái niệm đạy học có

thể hiểu theo nhiều cách rộng, hẹp với những cấp độ khác nhau Chẳng

hạn, phương pháp có thể hiểu theo nghĩa hẹp là một phương pháp cụ thể

có tính chất như một biện pháp về mặt kĩ thuật dạy học, thí dụ: phương

pháp mô tả, phương pháp đầm thoại v.v Nhưng cũng có thể hiểu nó

theo nghĩa rộng như một hệ hay nhóm phương pháp dạy học bao gồm

nhiều phương pháp dạy học cụ thể, phục vụ cho một mục dích nhất định

như phương pháp đạy học nắm kiến thức mới, phương pháp dạy học

phát huy tính tích cực của học sinh

Từ trước đến nay việc phân loại các phương pháp dạy học ở cấp độ

khái quát đã có nhiều cách khác nhau Luỳ theo những căn cứ để phần

loại Thí dụ: Nếu căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ dạy học thì eó nhóm

các phương pháp bồi dưỡng và tự bổi dưỡng động cơ học tập, nhóm các

phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức, nhóm sáo phương pháp kiểm

tra kết quả học tập, Nếu căn cứ vào nội dung đạy học thì có nhóm các

phương pháp dạy kiến thức, nhóm các phương pháp rèn luyện kĩ năng,

nhóm các phương pháp dạy địa lí tự nhiên, địa lí kinh tế - xã hội

Khoảng vài chục nam gan đây, người ta cũng nói nhiều đến cách

phân loại căn cứ vào mức độ nhận thức ra năm nhóm của I.la.],een:

nhóm các phương pháp giải thích minh hoạ, nhóm các phương pháp L

hiện, nhóm các phương phán nêu vấn để, nhóm các phương pháp tìm tồi

bộ phận và nhóm các phương pháp nghiên cứu

Trang 40

Tuy nhiên, tất cả các cách phân loại mới này mới chỉ có ý nghĩa về mặt lí luận đạy học chung Việc vận dụng chúng vào việc dạy học bộ

môn còn chưa cụ thể

Hiện nay, người ta sử dụng khá phổ biến cách phân loại phương pháp đạy học ra hai nhóm: nhóm các phương pháp lấy giáo viên làm

trung tâm và nhóm các phương pháp lấy học sinh làm trung tâm

Nhóm các phương pháp lấy giáo viên làm trung tâm bao gồm toàn

bộ các phương pháp, trong đó giáo viên dùng lời nói để trình bày, giải

thích tri thức là chính Với nhóm phương pháp này, nhiệm vụ chủ yếu

của giáo viên là cung cấp thông tin làm sẵn Việc phát triển tư duy cho học sinh chưa phải là nhiệm vụ số một Nhiệm vụ chính của học sinh là

ghi nhớ và tái hiện thông tin Như vậy, học sinh tiếp thu trí thức một cách thụ động Sự tham gia của học sinh trong quá trình đạy học chỉ giới hạn ở việc trả lời những vấn đề mà giáo viên da giảng Các câu hỏi do

giáo viên đặt ra để bắt học sinh suy nghĩ thường vụn vật và không có tác

dụng lần trong việc kích thích tư duy, trí săng tao của học sinh,

Nhóm các phương pháp lấy học sinh làm trung tâm bao gồm các

phương pháp coi toàn bộ quá trình dạy học đều hướng vào như cầu, khả năng hứng thú học tập của học sinh Mục đích chính là nhằm phát triển

ở học sinh năng lực tư duy, khả năng độc lập tìm cách giải quyết những

khó khăn trong quá trình lĩnh hội tri thức Với các phương pháp này, không khí lớp học sẽ linh hoạt, cởi mở về mật tâm lí Giáo viên có nhiệm

vụ giúp đỡ học sỉnh tìm tòi những trí thức mới, huống và hướng dẫn học sinh cách giải quyết vấn để như: cung cấp tài

liệu cẩn thiết, giúp các em nhận thức, lập giả thiết và thử nghiệ

giả thiết để rút ra kết luận Theo cách phân loại này thì hầu hết các

phương pháp dạy học truyền thống đều thuộc nhóm các phương pháp lấy giáo viên làm trung tâm,

phương pháp đạy học địa lí, việc làm cho học sinh có được trì thức đẩy

đủ về các đối tượng học tập là một vấn để hết sức quan Lrọng

Ngày đăng: 08/12/2022, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w