Đề tài Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng công chứng tại Văn phòng Công chứng Mai Lan thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về Văn phòng công chứng Mai Lan; đồng thời phân tích thực trạng hoạt động Văn phòng công chứng Mai Lan, giai đoạn từ 2016 đến 6 tháng đầu năm 2019, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công chứng đối với khách hàng của Văn phòng công chứng Mai Lan, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Trang 1NGUYEN MAI LAN
THYC TIEN AP DUNG PHAP LUAT VE HOP DONG CONG CHUNG TAI VAN PHONG CONG CHUNG MAI LAN THANH PHO TUYEN QUANG,
TINH TUYEN QUANG
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
2020 | PDF | 88 Pages buihuuhanh@gmail.com
Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS TRÀN VĂN NAM
HÀ NỘI, NĂM 2020
Trang 2
cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày — tháng _ năm 2020
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Mai Lan
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô Viện đào tạo Sau dai học - Trường
Đại học Kinh tế quốc dân đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình tôi học tập ở trường Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn
PGS.TS Trần Văn Nam đã tận tình hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận van na
T
nghiệp Văn phòng công chứng Mai Lan, hội công chứng viên tỉnh Tuyên Quang đã
xin cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện của Ban lãnh đạo và các đồng
tạo điều kiện, giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng - năm 2020
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Mai Lan
Trang 4PHAN I: KHAI QUAT CHUNG VE HQP DONG:
1 Một số điều kiện cơ bản
3 Nội dung chính của hợp đồng:
4 Phân loại các loại hợp đồng:
PHAN II KHAI NIEM CONG CHUNG VA VAN BAN CONG CHUN
1 Khái niệm công chứng:
2 Hoạt động của văn phòng công chứng:
3 Vai trò của công chứng đối với hợp đồng giao di
4 Sự cần thiết mở rộng và nâng cao chất lượng công chứng:
PHAN III: HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
2 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng:
PHAN IV: THỰC TIỀN ÁP DỤNG TẠI VĂN PH
LAN
G CÔNG CHỨNG MAI
36
2 Quy định về đạo đức hành nghề công chứng: 37
PHAN V CO CAU TO CHUC CUA VAN PHONG CONG CHUNG MAI
38
38
Trang 5
2 Chế độ tài chính của Văn phòng công chứng Mai Lan:
3 Về thực hiện các nghĩa vụ của Văn phòng công chứng Mai Lan theo quy
43
4 Thực tiễn hoạt động Công chứng Hợp đồng của doanh nghiệp tại Văn
44
5 định tại Điều 33 của Luật Công chứng:
Phòng Công chứng Mai Lan thành phố Tuyên Quang
PHAN V: BAI HỌC KINH NGHIỆ
“Thực trạng về tình trạng
ịnh những kĩ
mạo giấy từ trong hoạt động công chứng, từ
đó xác ăng cần thiết của công chứng viên 55
Trang 6NGUYEN MAI LAN
THYC TIEN AP DUNG PHAP LUAT VE HOP DONG CONG CHUNG TAI VAN PHONG CONG CHUNG MAI LAN THANH PHO TUYEN QUANG,
TINH TUYEN QUANG
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
TOM TAT LUAN VAN THAC SĨ
HANOI, NAM 2020
Trang 7
càng được mở rộng, do đó nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các nước ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách Nền kinh tế của mỗi nước cũng phải hoà nhập với nền kinh tế quốc tế.Văn phòng công chứng cùng các hoạt động
kinh doanh của mình đã đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này Ở nước ta trong những năm qua hoạt động công chứng đã đóng góp phần không nhỏ vào việc lập lại trật tự trong lĩnh vực giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại, đã đi vào cuộc sống và có ý nghĩa thiết thực Thông
qua hoạt động công chứng các hợp đồng giao dịch dân sự đã góp phần đây
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về Văn phòng,
công chứng Mai Lan; đồng thời phân tích thực trạng hoạt động Văn phòng
công chứng Mai Lan, giai đoạn từ 2016 đến 6 tháng đầu năm 2019, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công chứng đối với khách hàng
của Văn phòng công chứng Mai Lan Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Trang 8NGUYEN MAI LAN
THYC TIEN AP DUNG PHAP LUAT VE HOP DONG CONG CHUNG TAI VAN PHONG CONG CHUNG MAI LAN THANH PHO TUYEN QUANG,
TINH TUYEN QUANG
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRÀN VĂN NAM
HÀ NỘI, NĂM 2020
Trang 9
DONG CHO DOANH NGHIEP PHAN I: KHAI QUAT CHUNG VE HOP DONG:
1 Một số điều kiện cơ ban
1.1 Khái niệm của hợp đồng:
Hợp đồng là một giao dịch mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với
nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa
vụ nhất định Dưới góc độ pháp lý thì hợp đồng dân sự được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Vậy các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng là gì? Điều kiện
để một hợp đồng có hiệu lực là gì?
Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên,
Theo Điều 121 Bộ luật Dân sự thì giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc
hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và
nghĩa vụ dân sự Hành vi pháp lý đơn phương chỉ thể hiện ý chí của một bên
chủ thể thì hợp đồng dân sự là sự thẻ hiện ý chí đa phương (ít nhất là hai bên chủ thể) thông qua sự thoả thuận, hay nói cách khác các bên phải thông nhất ý chí với nhau để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ
1.2 Đặc điểm của hợp đồng:
Tính thỏa thuận:
Thứ nhất: Hợp đồng dân sự trước hết phải là một thỏa thuận có nghĩa là hợp đồng phải chứa đựng yếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng
Trang 10Yéu tố thỏa thuận đã bao hàm trong nó yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sự thống nhất về mặt ý chí Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng của hợp đồng so với các giao dịch dân sự khác, đây cũng là yếu tố làm nên bản chất của Luật dân sự so với các ngành luật khác
Thứ hai: Thỏa thuận theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là: Đi tới sự đồng
ý sau khi cân nhắc, thảo luận được thể hiện ở chỗ không có một ý kiến đối
lập của bất cứ một bộ phận nào trong số các bên liên quan đối với những vấn
đề quan trọng và thể hiện thông qua một quá trình mà mọi quan điểm của các
bên liên quan đều phải được xem xét và dung hoà được tắt cả các tranh chấp;
là việc các bên (cá nhân hay tổ chức) có ý định chung tự nguyện cùng nhau
hợp đồng hay hiệp định; vd: hiệp định mua bán, hợp đồng đại lí
- Về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự: Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng là một giao dịch pháp lý Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự )
- Mục đích: Hướng tới của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác
lập, thay đồi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Quyền và nghĩa vụ dân
Trang 11các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một hoặc
không làm công việc, dịch vụ hoặc các thỏa thỏa thuận khác mà trong đó có
một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động tiêu dùng
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì không liệt kê cụ thể các
quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể đó tuy nhiên về bản chất thì các quyền và
nghĩa vụ mà các bên hướng tới khi giao kết, thực hiện hợp đồng là những
quyền và nghĩa vụ để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng,
đó cũng chính là một trong những đặc điểm cơ bản để phân biệt giữa hợp
đồng dân sự và các hợp đồng kinh tế, thương mại Yếu tố này giúp phân biệt
hợp giữa các hợp đồng với nhau
~ Chủ thể tham gia: Hợp đồng phải là các thương nhân, các công ty, đơn vị kinh doanh (nếu chủ thể là cá nhân thì phải có đăng ký kinh doanh)
2 Hình thức của hợp đồng:
Hình thức của hợp đồng dân sự là cách thức biểu hiện ra bên ngoài của những nội dung của nó dưới một dạng vật chất hữu hình nhất định Theo đó, những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thê hiện ra bên
ngoài dưới một hình thức nhất định, hay nói cách khác hình thức của hợp
đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thẻ đã xác định Tùy thuộc vào nội dung và tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào uy tín, độ tin cậy lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng tùy từng trường hợp cụ thẻ Hình thức của hợp đồng dân sự rất đa dạng, phong phú, tựu trung lại thì có mấy dạng sau đây:
Trang 12tưởng lẫn nhau hoặc các đối tác lâu năm hoặc là những hợp đồng mà sau khi
giao kết, thực hiện sẽ chấm dứt Ví dụ bạn thân cho mượn tiền, hay đi mua đồ
ở chợ
® Hình thức viết (bằng văn bản): Các cam kết của các bên trong hợp
đồng sẽ được ghi nhận lại bằng một văn bản Trong văn bản đó các bên phải
ghỉ đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng ký tên xác nhận vào
văn bản, thông thường hợp đồng được lập thành nhiều bản và mỗi bên giữ một bản
Căn cứ vào văn bản hợp đồng các bên dễ dàng thực hiện quyền của mình và thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia vì vậy bản hợp đồng đó coi như là một bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình Khi
có tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng
cứ pháp lý vững chắc hơn so với hình thức miệng vì vậy trong thực tế những
giao dịch quan trọng, có giá trị lớn hoặc những giao dịch có tính "nhạy cảm”
đối với những đối tượng và người giao kết "nhạy cảm" thì nên thực hiện bằng hình thức văn bản và tốt nhất là nên có công chứng nếu có điều kiện
« Hình thức có công chứng, chứng thực: Hình thức này áp dụng cho
những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và đối tượng của hợp đồng là những tài sản mà nhà nước quản lý, kiểm soát thì khi giao kết các
bên phải lập thành văn bản có Công chứng hoặc chứng thực của Cơ quan
quản lý hành chính có thâm quyền trong lĩnh vực này Hợp đồng được lập ra theo hình thức này có giá trị chứng cứ (để chứng minh) cao nhất Hợp đồng
Trang 13Ví dụ: Hợp đồng tặng cho bất động sản (Điều 459 Luật Dân sự 2015 có
quy định “1 7ặng cho bắt động sản phải được lập thành văn bản có công
chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, néu bắt động sản phải đăng ký quyển
sở hữu theo quy định của luật: 2 Hợp đồng tăng cho bắt động sản có hiệu lực
kế từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu
thì hợp đông tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản ”
© Hình thức khác: ngoài những hình thức nói trên, hợp đồng có thé thực hiện bằng các hình thức khác như bằng các hành vi (ra hiệu, ra giấu bằng
cử chỉ cơ thể ) miễn là những hành vi đó phải chứa đựng thông tin cho bên
kia hiểu và thoả thuận giao kết trên thực tế
Cần lưu ý là đối với những hợp đồng dân sự mà pháp luật bắt buộc phải giao kết theo một hình thức nhất định (thông thường là hình thức văn bản có
Công chứng, chứng thực) thì các bên phải tuân theo những hình thức đó,
ngoài ra thì các bên có thể tự do lựa chọn một trong các hình thức nói trên để giao kết, tuy nhiên đối với những hợp đồng mà pháp luật không yêu cầu phải
lập theo hình thức văn bản có công chứng nhưng để quyền lợi của mình được
bảo đảm thì các bên vẫn có thể chọn hình thức này để giao kết hợp đồng
3 Nội dung chính của hợp đồng:
Nội dung cơ bản của hợp đồng dân sự là tổng hợp những điều khoản
mà các chủ thể tham gia hợp đồng đã thỏa thuận Các điều khoản đó xác định
những quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thê của các bên trong hợp đồng Đây cũng
chính là điều khoản cần phải có trong một hợp đồng Điều 398 Luật Dân sự
Trang 14b) Số lượng, chất lượng;
©) Giá, phương thức thanh toán;
4) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đẳng;
đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên;
©) Trách nhiệm do vi phạm hop dong;
g) Phương thức giải quyết tranh chắp ”
Trong tất cả các điều khoản nói trên, có những điều khoản mà trong hợp đồng này các bên không cần phải thỏa thuận nhưng trong một hợp đồng khác các bên buộc phải thỏa thuận thì hợp đồng mới được coi là giao kết Mặt khác, ngoài những nội dung cụ thể này các bên còn có thể thỏa thuận xác định với nhau thêm một số nội dung khác Vì vậy có thể phân chia các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thành ba loại sau đây:
Những điều khoản cơ bản: Là những điều khoản xác định nội dung
chủ yếu của hợp đồng, là những điều khoản không thể thiếu được đối với
từng loại hợp đồng Nếu không thê thỏa thuận được về những điều khoản
đó thì xem như hợp đồng không thể giao kết được Ví dụ: điều khoản về
đối tượng của hợp đồng, giá cả, địa điểm, cách thức thanh toán hay thực
hiện nghĩa vụ Ngoài ra có những điều khoản vốn dĩ không phải là điều
khoản cơ bản nhưng các bên thấy cần phải thỏa thuận được những điều
khoản đó mới giao kết hợp đồng thì những điều khoản này cũng là những
điều khoản cơ bản của hợp đồng sẽ giao kết
Trang 15nhiên thỏa thuận và được thực hiện như pháp luật đã quy định Ví dụ: địa
m giao tài sản là động sản trong hợp đồng mua bán tài sản là tại nơi cư trú của người mua nếu trong hợp đồng các bên không thỏa thuận về địa
m giao tài sản nếu như trong hợp đồng có thỏa thuận thì thực hiện theo
thỏa thuận),
Những điều khoản tùy nghỉ: Là những điều khoản mà các bên tham
gia giao kết hợp đồng tự ý lựa chọn và thỏa thuận với nhau dé xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên
Có một nội dung hay gây nhằm lẫn là việc phân biệt giữa điều của hợp đồng và điều khoản của hợp đồng Điều khoản của hợp đồng khác với
từng điều của hợp đồng vì điều khoản của hợp đồng là những nội dung các bên đã cam kết thỏa thuận, còn từng điều của hợp đồng là hình thức thể hiện những điều khoản đó Vì vậy, có thê trong một điều của hợp đồng có thê chứa đựng nhiều điều khoản nhưng cũng có trường hợp một điều khoản được ghi nhận trong nhiều điều tùy vào sự thỏa thuận của các bên nhưng nhìn chung, Trong hợp đồng thì mỗi điều khoản thường được thể hiện bing
một điều
Các loại điều khoản trong hợp đồng có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy
từng trường hợp và một điều khoản trong hợp đồng có thể là điều khoản cơ
bản, có thể là điều khoản thông thường nhưng cũng có thể là điều khoản
tùy nghỉ Ví dụ: điều khoản về địa điểm giao hàng sẽ là điều khoản cơ bản
của hợp đồng nếu khi giao kết các bên có thỏa thuận cụ thể về nơi giao
hàng nhưng nó sẽ là điều khoản thông thường nếu các bên không có thỏa
Trang 16
trong nhiều nơi để thực hiện nghĩa vụ giao hàng
Ngoài ra trong hợp đồng dân sự còn có thể có phụ lục của hợp đồng Điều 403 của Bộ Luật dân sự của Việt Nam quy định về phụ lục hợp đồng như sau:
“1 Hợp đồng có thể có phụ lục kèm theo để quy định chỉ tiết một số điều khoản của hợp đồng Phụ lục hợp đông có hiệu lực như hợp đông Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đông
2 Trường hợp phụ lục hợp đông có điều khoản trái với nội dung của điều
khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường
hop có thỏa thuận khác Trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đông
có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản
đó trong hợp đông đã được sửa đối ”
4 Phân loại các loại hợp đồng:
Có nhiều cách thức đẻ phân loại một hợp đồng dân sự tùy theo các tiêu
chí khác nhau Pháp luật Việt Nam hiện hành đã phân chia các loại hợp đồng
dân sự chủ yếu theo Điều 402 Bộ luật dân sự hợp đồng gồm các loại chủ yếu
sau đây:
“1 Hợp đồng song vụ là hợp đông mà môi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau
2 Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ
3 Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng
phụ.
Trang 17đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó
6 Hợp đằng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc
phát sinh, thay đổi hoặc chắm dứt một sự kiện nhất định ”
Ngoài ra còn có thể có Hợp đồng dân sự theo mẫu (Điều 405): Hop
đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo
mâu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả
lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đằng theo mẫu mà
bên đề nghị đã đưa ra
Bộ luật dân sự Việt Nam cũng quy định các loại hợp đồng dân sự thông
dụng sau đây: hợp đồng mua bán tài sản (phổ biến là hợp đồng mua bán nhà),
hợp đồng trao đôi tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng vay tài sản,
hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng
vận chuyên, hợp đồng gia công, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng bảo hiểm,
hợp đồng uỷ quyền, hứa thưởng và thi có giải
Dưới góc độ khoa học pháp lý và trên thực tế hợp đồng dân sự rất đa
dạng và phong phú và có nhiều cách phân loại khác nhau theo từng tiêu chí nhất định:
Căn cứ vào hình thức cña hợp đông thì hợp đồng dân sự có thê được
phân thành hợp đồng miệng, hợp đồng văn bản, hợp đồng có công chứng, hợp
đồng mẫu
Căn cứ vào sự phụ thuộc về hiệu lực giữa các loại hợp đồng: thì ta có thê chia hợp đồng dân sự thành hai loại là hợp đồng chính và hợp đồng phụ
Trang 18© Hop déng chính: là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hiệu lực của các hợp đồng khác và khi hợp đồng chính đã tuân thủ đầy đủ các điều
kiện mà pháp luật quy định thì đương nhiên phát sinh hiệu lực và có hiệu lực
bắt buộc đối với các bên kế từ thời điểm giao kết
« Hợp đồng phụ: là hợp đồng có hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng
chính Để một hợp đồng phụ có hiệu lực thì phải tuân thủ các điều kiện sau
đây: Trước hết, hợp đồng phụ phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực
của một hợp đồng như điều kiện về chủ thể; nội dung; hình thức Thứ hai,
hợp đồng chính của hợp đồng phụ đó phải có hiệu lực Sau khi tuân thủ các
điều kiện có hiệu lực nói trên thì hợp đồng phụ còn phải tùy thuộc vào hiệu
lực của hợp đồng chính Ví dụ: đối với hợp đồng cằm có, thế chấp tài sản thì
hợp đồng phụ chỉ có hiệu lực khi hợp đồng cho vay tài sản tức là hợp đồng
chính có hiệu lực
Căn cứ vào mối liên kết giữa quyền và nghĩa vụ của 2 bên chủ thễ:
thì hợp đồng dân sự có thể được phân thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ:
© Hop dong song vụ là hợp đồng mà các bên đều thực hiện nghĩa vụ
với nhau Ví dụ hợp đồng thuê tài sản
‘© Hop dong đơn vụ là hợp đồng mà một bên có nghĩa vụ Ví dụ hợp
đồng tặng cho tài sản Bên tặng cho có nghĩa vụ, bên nhận tặng cho không có
nghĩa vụ
Căn cứ vào thời điểm phát sinh hiệu lực hợp đồng:
se Hợp đồng ưng thuận: là những hợp đồng theo quy định của pháp
luật, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ phát sinh ngay sau khi các bên đã thỏa
thuận xong với nhau về những nội dung chủ yếu của hợp đồng Ví dụ: hợp
Trang 19đồng mua bán tài sản Trong trường hợp này, dù rằng các bên chưa trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết nhưng về mặt pháp lý đã phát sinh quyền yêu cầu của bên này đối với bên kia trong việc thực hiện hợp đồng, nói theo cách khác hợp đồng ưng thuận là những hợp đồng mà thời điểm có hiệu lực của nó được xác định tại thời điểm giao kết
© Hop dong thực tế là những hợp đồng mà sau khi các bên thỏa thuận
xong nhưng hiệu lực của nó chỉ phát sinh khi các bên chuyển giao cho nhau
đối tượng của hợp đồng Ví dụ: hợp đồng cho mượn tài sản Đối với loại hợp
đồng này hiệu lực của nó phụ thuộc vào thời điểm thực tế mà hai bên thực
hiện nghĩa vụ với nhau Trở lại hợp đồng cho mượn tài sản, ta thấy mặc dù
hai bên đã thỏa thuận bên A sẽ cho bên B mượn tài sản và hợp đồng đã thành
lập nhưng thực chất quyền và nghĩa vụ của hai bên chỉ phát sinh khi bên A đã
chuyển giao trên thực tế tài sản cho mượn cho bên B
Căn cứ vào tính chất có đi có lại về lợi ích giữa các bên chủ thế:
© Hop déng có đền bù: là hợp đồng mà trong đó mỗi bên sau khi thực
hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên bên kia một lợi ích tương
ứng Lợi ích tương ứng ở đây không đồng nghĩa với lợi ích ngang bằng vì các
lợi ích các bên dành cho nhau không phải lúc nào cũng cùng một tính chất
hay chủng loại Ví dụ: hợp đồng thuê biểu diễn ca nhạc- trong đó một bên sẽ
nhận được một lợi ích vật chất là tiền thù lao biểu diễn, catxê và một bên sẽ
đạt được lợi ích về mặt tỉnh thần — đáp ứng nhu cầu giải trí, thưởng thức âm
nhạc
© Hop dong không có đền bù: là những hợp đồng trong đó một bên
nhận được một lợi ích nhưng không phải giao lại cho bên kia một lợi ích nào
(ví dụ: hợp đồng tặng cho tài sản)
Trang 20Căn cứ vào đối trợng của hợp đồng:
© Hop dong có đối tượng là tài sản: Bao gồm hợp đồng chuyên quyền
sở hữu như hợp đồng vay tài sản, hợp đồng giữ tài sản và hợp đồng chuyển quyền sử dụng như hợp đồng thuê, hợp đồng mượn tài sản
« Hợp đồng có đối tượng là công việc phải thực hiện, ví dụ như hợp
đồng dịch vụ, gia công, bảo hiểm, ủy quyền
© Hop dong dân sự hỗn hợp: là hợp đồng khi ký kết, cùng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ là nội dung của hai hay nhiều hợp đồng khác
5 Phân biệt hợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế
Khái niệm | Dược gọi là hợp đồng thương mại | Là sự thỏa thuận giữa
Là thỏa thuận giữa thương nhân với | các bên về việc xác lập, thương nhân hoặc thương nhân với | thay đổi hoặc chấm dứt
các bên có liên quan, nhằm xác lập, | quyền và nghĩa vụ dân
thay đổi hoặc chấm dứt quyền và | sự
nghĩa vụ của các bên trong hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ thương mại và xúc tiến
Trang 21riêng thì có thê tự mình
ký kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự
Ban chat Mang mục đích kinh doanh lợi
nhuận, kiểm soát quyền và nghĩa vụ các bên trong mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ thương mại và xúc
tiền thương mại
Đối với hợp đồng thương mại có các
hình thức như fax, telex và thư điện
tử vẫn được xem là hình thức văn
hợp đồng - Ngày, tháng, năm ký hợp đông
kinh tế; tên, địa chỉ, số tài khoản và ngân hàng giao dịch của các bên, họ, tên người đại diện, người đứng tên đăng ký kinh doanh
- Đối tượng của hợp đồng kinh tế
tính bằng số lượng, khối lượng hoặc
giá trị quy ước đã thoả thuận - Đổi tượng của hợp
đồng
- Số lượng, chất lượng
- Giá, phương thức thanh toán
- Thời hạn, địa điểm,
phương thức thực hiện
hợp đồng
Trang 22
~ Chất lượng, chủng loại, quy sách,
tính đồng bộ của sản phẩm, hàng hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật của công
việc
- Giá cả
- Bảo hành
- Điều kiện nghiệm thu, giao nhận
- Phương thức thanh toán
- Bảo lưu quyền sở hữu hữu
- Cầm giữ tài sản ~ Tín chấp
~ Cầm giữ tài sản
Thủ tục giải | - Trọng tai - Toa an
Trang 23
Công ty A mua nông sản từ hộ gia | Anh C mua tô phở tại
Ví dụ _ | đình B để xuất khẩu sang Mỹ gánh hàng của chị D
Giao kết hợp đồng giữa công ty A và
hộ gia đình B là giao kết hợp đồng
anh C và chị D bằng lời nói là giao kết hợp đồng dân sự
Trang 24
PHAN II KHAI NIEM CONG CHUNG VA VAN BAN
CONG CHUNG
1 Khái niệm công chứng:
Tại khoản 1, Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Công chứng là việc công chứng viên của một 16 chức hành nghề công chứng chứng
nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn
bản (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch) tính chính xác, hợp pháp, không trái
đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước
ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Liệt (sau đây gọi là bản dịch) mà
theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự
nguyện, yêu cầu công chứng ”
- Về văn bản công chứng:
Tại Khoản 4, Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định:
“Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công
chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật này”
Một là, khác biệt với hành vi chứng thực của người đại diện cơ quan
Trang 252 Hoạt động của văn phòng công chứng:
Phòng công chứng của Nhà nước do Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương thành lập; phòng Công chứng là đơn vị sự
nghiệp, do các Sở Tư pháp trực tiếp quản lý Về tô chức và hoạt động của các
phòng Công chứng, thực hiện theo Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), đến ngày 18/5/1996 Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 31/CP về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà
nước thay thế cho Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng Bộ
trưởng về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước tiếp theo đó là Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ quy định về công chứng, chứng thực
Bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, để các hoạt động tư pháp và bỗ trợ
tư pháp phù hợp với luật pháp quốc tế và xu thế phát triển toàn diện của đất nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020 và tại kỳ họp thứ 10 của Quốc
khoá XI, ngày 29/11/2006 Quốc hội đã ban hành Luật Công chứng, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007, theo đó các Văn phòng công chứng của
tư nhân được thành lập, bước đầu chỉ tập trung phát triển ở các thành phó lớn,
iều tỉnh và cả huyện, thành phó thuộc tỉnh cũng đã thành lập được văn phòng công chứng
đến nay nÏ
Theo Luật Công chứng năm 2006, về điều kiện số lượng công chứng
viên thì các Văn phòng công chứng chỉ cần có 01 công chứng viên là đủ điều
kiện để thành lập; về tên gọi, Văn phòng công chứng không bắt buộc phải có
họ tên của một trong các công chứng viên của Văn phòng (Khoản 1, Khoản 3
Điêu 26) Hiện tại Luật Công chứng năm 2014 quy định về điều kiện số lượng,
công chứng viên, thì các Văn phòng công chứng phải có từ đủ 02 công chứng
Trang 26viên trở lên; về tên gọi của Văn phòng công chứng, Luật quy định rõ, bên
cạnh cụm từ Văn phòng công chứng, bắt buộc phải kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của 'Văn phòng công chứng của mình (Khoán!, Khoản 3 Điêu 22)
Các văn phòng công chứng có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, được hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ kinh phí đóng góp của công chứng viên, phần để lại từ phí công chứng, phí dịch vụ và các nguồn thu hợp pháp khác
Luật Công chứng đã quy định hình thức bảo hiểm nghề nghiệp đối với hoạt động công chứng là hình thức bảo hiểm bắt buộc Theo đó các tổ chức hành nghề công chứng bắt buộc phải mua bảo hiểm cho công chứng viên nhằm hạn chế và chia sẻ rủi ro khi gây thiệt hại
3 Vai trò của công chứng đối với hợp đồng giao dịch:
Công chứng có vai trò rất to lớn đối với đời sống xã hội và phát triền kinh tế Công chứng là một hoạt động quan trọng, một thế chế không thẻ thiếu
được của Nhà nước pháp quyền Thông qua hoạt động công chứng và các quy
định hướng dẫn, điều chinh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời
sống xã hội, thành hành vi sir xy theo đúng pháp luật
Do đó, xét trên bình điện công dân thì văn bản công chứng là một công
cụ hữu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, phòng ngừa tranh chấp,
tao ra sự én định của quan hệ giao dịch dân sự, tài sản, bảo đảm trật tự, kỷ cương Mặt khác, về phương diện Nhà nước thì văn bản công chứng tạo ra một bằng chứng xác thực, kịp thời không ai có thể phản bác, chối cãi, trừ
trường hợp có ý kiến của người thứ ba và được quá trình tố tụng cho là không
đúng.
Trang 27Về giá trị pháp lý, văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các
bên liên quan, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ
của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của
pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng có thoả thuận khác Văn bản công chứng có tác dụng chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố
là vô hiệu
Trong phát triển kinh tế, các văn bản pháp lý được công chứng tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức tiện lợi trong giao dịch hơn Đồng thời, đây là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp khi buộc các bên tham gia
giao dịch phải xác nhận tính xác thực của hợp đồng, cũng như địa vị, trách nhiệm pháp lý trong tham gia giao dịch Vì vậy, việc bắt buộc công chứng các loại hợp đồng trong giao dịch liên quan đến kinh tế sẽ tránh được nhiều rắc
rối, kiện cáo phát sinh
Sự ra đời của các văn phòng công chứng theo Luật công chứng năm
2006 đã đáp ứng tốt các nhu cầu của người dân, doanh nghiệp trong các gia dịch dân sự Tác phong làm việc, lề lối làm việc cũng tốt hơn Bớt đi tình trạng cửa quyên, gây khó khăn của các phòng công chứng trước đây Nhưng bên cạnh đó những điểm tích cực vẫn còn rất nhiều bất cập, lỗ hồng trong hoạt động công chứng
Tinh dén nay cả nước đã có hàng trăm tô chức được cấp giấy phép hoạt động và có hàng nghìn công chứng viên hành nghề trong lĩnh vực này
Sau gần 5 năm triển khai thí điểm xã hội hóa công chứng, không phải đến bây
giờ lỗ hồng trong vận hành và quản lý hoạt động của công chứng tư mới bộc
lộ Chính ngay từ khi Luật Công chứng có hiệu lực (ngày 1/7/2007), việc phát
triển quá “nóng” với hàng loạt văn phòng được thành lập đã khiến cho các
Trang 28nhà quản lý giật minh, thậm chí có nơi phải tạm ngừng cấp phép Tăng mạnh
về số lượng với một loại hình mới nhưng thiếu sự điều chỉnh kịp thời từ phía
các cơ quan quản lý nhà nước nên hoạt động của nhiều văn phòng công chứng bộc lộ khá nhiễt
sat cp
Biểu hiện cạnh tranh là điều dễ nhận thấy ở các văn phòng công chứng Nhưng cũng chính vì cạnh tranh không lành mạnh mà nhiều bắt ôn phát sinh
Như chuyện thu phí dịch vụ theo thỏa thuận, vì cạnh tranh nên có chỗ cao
ngất ngưởng, chỗ khác lại thấp đến bất ngờ, làm méo mó sự thống nhất và
minh bạch cần phải có của hoạt động này Đáng chú ý hơn là chất lượng công
chứng thấp do trình độ thâm định, nghiệp vụ của một số công chứng viên yếu
kém và không đồng đều Sự dễ dãi trong thảm định hồ sơ dẫn tới tình trạng
công chứng ẩu, công chứng sai Thiệt thòi cuối cùng vẫn là người dân, doanh
nghiệp phải chịu, ngoài việc chấp nhận móc túi trả phí cao thì có khi còn đở
mếu đở cười khi hồ sơ bị từ chối ở văn phòng này lại được chấp nhận ở văn
phòng khác, hoặc khi bản công chứng bị cơ quan chức năng phủ nhận
4 Sự cần thiết mở rộng và nâng cao chất lượng công chứng:
* Nâng cao chất lượng tín dụng là đòi hỏi bức thiết đối với sự phát
triển của nền kinh tế - xã hội:
Ngày nay, cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín dụng cũng ngày càng phát triển nhằm cung cắp thêm các phương tiện giao dịch tiện ích để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong xã hội Trong điều kiện
đó, chất lượng tín dụng ngày càng được quan tâm, bởi lẽ:
~ Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò
chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân: Khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn tín dụng, với một khối lượng tiền
Trang 29như cũ, có thể thực hiện giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong
của các Ngân hàng thương mại thông qua cho vay chuyển khoản, thực hiện
thanh toán không dùng tiền mặt
~ Tín dụng là công cụ thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước
về phát triển kinh tế - xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực: Chất lượng tín dụng được nâng cao sẽ góp phân tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng, các ngành trong nước, ôn định và phát triển kinh tế ngành
- Chất lượng tín dụng góp phần lành mạnh quan hệ tín dụng: Hoạt động
tín dụng được mở rộng với các thủ tục đơn giản hoá, thuận tiện nhưng vẫn
tuân thủ các nguyên tắc tín dụng sẽ góp phần cho vay đúng các đối tượng cần
thiết, giảm thiểu, đi đến xoá bỏ thị trường “Tin dụng đen” cho vay nặng lãi
chủ yếu hiện nay đang hoành hành ở nhiều nơi
* Nâng cao chất lượng tín dụng quyết định sự tần tại và phát triễn
của các Ngân hàng thương mại:
Chất lượng tín dụng làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các Ngân
hàng thương mại, giảm được chỉ phí nghiệp vụ, chỉ phí quản lý, chỉ phí thiệt hại do không thu hồi được vốn đã cho vay, tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng,
vòng quay vốn tín dụng và thu hút được nhiều khách hàng bởi các sản phẩm,
Trang 30dich vụ tạo ra một hình ảnh tốt về biểu tượng, uy tín của ngân hàng và sự
trung thành của khách hàng
Chất lượng tín dụng cải thiện được tình hình tài chính, tạo thuận lợi cho
sự tồn tại lâu dài của ngân hàng Vì chất lượng tín dụng cho phép ngân hàng
có những khách hàng trung thành và khoản lợi nhuận để bổ sung vốn đầu tư Đồng thời, chất lượng tín dụng tốt sẽ củng cố mối quan hệ xã hội tạo thế mạnh cho Ngân hàng trong cạnh tranh
PHAN III: HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
Theo quy định tại Điều 122 thì một giao dịch dân sự (gồm cả hợp đồng) được
pháp luật thừa nhận có hiệu lực pháp lý khi đảm bảo các điều kiện sau:
Điều kiện 1: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự:
Thuật ngữ “người” ở đây được hiểu là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự :cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tô hợp tác Các chủ thể này phải có đủ tư cách chủ thể theo quy định của pháp luật dân sự
Xác định tư cách chủ thể thực chất là xác định ý chí (mong muốn) đích thực của các chủ thể tham gia vào giao dịch dân sự, nếu không đảm bảo tư cách chủ thẻ thì không thể hiện hết yếu tố ý chí nên giao dịch dân sự có thể bị
coi là vô hiệu Do vậy, năng lực hành vi dân sự của từng chủ thể được xem
xét như sau:
« Đối với cá nhân giao địch dân sự có hiệu lực khi phù hợp với mức độ
hành vi dân sự của cá nhân bởi lẽ, bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia vào giao dị:
h đó Trong xã hội những cá nhân khác nhau có những nhận thức khác nhau về hành vi và
Trang 31hậu quả của hành vi do họ thực hiện Việc nhận thức và làm chủ hành vi của
cá nhân dựa vào ý chí - lý trí - độ tuổi nghĩa là “khả năng hiểu và làm chủ của
chính họ” Như vậy, xem xét tư cách của chủ thể của cá nhân có ý nghĩa quan
trọng trong việc xác định yếu tố ý chí, nên Bộ luật Dân sự qui định năng lực hành vi của cá nhân với nhiều mức độ khác nhau tương ứng với mức độ thể hiện mong muốn của họ
œ Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên có khả năng nhận thức và điều
chỉnh hành vi của mình có quyền tự mình tham gia mọi giao dịch dân sự, bởi
lẽ những người này khi tham gia các giao dịch dân sự họ có khả năng tự mình
thể hiện mong muốn đầy đủ, toàn diện
© Déi với người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 1§ tuổi có quyền tự mình tham gia giao dịch dân sự nhỏ phục vụ nhu cầu hàng ngày Đối với những
giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị nhỏ họ có đủ khả năng nhận thức mà
không cần thông qua người đại điện như học sinh (13 tuổi) mua đồ dùng học tập có thê nhận thức được giá cả, chất lượng, đối với những giao dịch dân sự
có giá trị lớn thì phải thông qua người đại diện theo pháp luật mới coi là hợp
pháp, nếu không thì giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệu
œ Đối với người mắt năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành
vi dân sự thì trong một số trường hợp họ có thẻ thực hiện những hành vi
nhưng pháp luật không cho phép họ tự mình tham gia giao dịch dân sự mà phải thông qua người đại diện theo pháp luật Đối với những người này do họ không có hoặc chưa có khả năng nhận thức để xác lập giao dịch dân sự, do vậy ý chí của hộ trong giao dịch dân sự chính là ý chí của người đại diện theo pháp luật Pháp luật quy định người đại diện phải có đủ tư cách mới được đại diện cho người mắt năng lực hành vi dân sự, người không có năng lực hành vi
dân sự trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
Trang 32« Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ vẫn có khả
năng nhận thức và điều khiển được hành vi nhưng khi có những căn cứ tuyên
bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và có yêu cầu thì Toà án tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản
của người này phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý mới có hiệu
lực pháp luật, nếu không có sự đồng ý thì giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu Quy định của pháp luật dân sự nhằm đảm bảo sự kiểm soát của người đại diện theo pháp luật, hạn chế việc tẩu tán tài sản để hút sách hoặc xác lập hợp đồng trong tình trạng lên cơn nghiện nên không thẻ nhận thức được toàn diện được
Đối với trường hợp xác lập các giao dịch dân sự vào đúng thời điểm
không thê nhận thức, điều khiên được hành vi của mình, thì có thể yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
Trong các giao dịch dân sự có đối tượng là tài sản thuộc sở hữu
chung, hợp nhất của nhiều người thì việc xác lập giao dịch dân sự ngoài đảm bảo tư cách chủ thể của mình còn phải có đủ tư cách đại diện cho các đồng
sở hữu chủ khác Chẳng hạn: bán nhà thuộc sở hữu chung hợp nhất phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các chủ sở hữu, việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn phải được vợ, chồng bàn bạc thoả thuận (Điều 28, khoản 3 Luật Hôn nhân - gia đình) Trong trường hợp này nếu chỉ có một người đứng ra xác lập thực hiện giao dịch dân sự thì phải được sự uỷ quyền hoặc đồng ý của các chủ đồng sở hữu khác Nếu không được sự đồng ý mà tự mình định đoạt toàn bộ tài sản chung hợp nhất thì phần giao dịch dân sự có thể vô hiệu (toàn bộ hoặc một phan)
œ Đối với các chủ thể khác như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì
phải bảo đảm tư cách chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Khi tham gia
Trang 33giao dịch dân sự các chủ thể này thông qua người đại diện (đại diện theo
pháp luật hoặc đại diện theo uỷ quyền) Ý chí của các chủ thể này trong giao
dịch dân sự chính là ý chí của người đại diện hợp pháp phù hợp với phạm vi, mục đích hoạt động do pháp luật quy định Trong trường hợp giao dịch dân
sự do người không có thâm quyền xác lập, thực hiện hoặc do người đại diện xác lập vượt quá thẩm quyền thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối
với người được đại diện mà đây chính là trách nhiệm của cá nhân đã xác lập,
trừ trường hợp người được đại diện chấp thuận Đối với hộ gia đình thì
người đại diện theo pháp luật là chủ hộ, nhưng pháp luật chỉ cho phép chủ
hộ đại diện hợp pháp trong một số quan hệ liên quan đến quyền sử dụng đất, sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, vay vốn, còn đối với các giao dịch dân
sự liên quan đến tài sản khác không coi là người đại diện theo pháp luật
Như vậy, việc xác định tư cách chủ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định ý chí đích thực của các chủ thẻ, đây là cơ sở xác định giá trị
pháp lý của giao dịch dân sự
Điều kiện 2: Mục đích và nội dung giao dịch không vỉ phạm điều
cắm cuä pháp luật, không trái đạo đức xã hội:
Mục đích của hợp đồng là yếu tố không thể thiếu trong hợp đồng, là cơ
sở xác định việc xác lập, thực hiện hợp đồng đó có hiệu lực pháp lí hay không
Mục đích của hợp đồng khác với động cơ xác lập hợp đồng Động cơ của hợp đồng là nguyên nhân thúc đẩy các bên tham gia hợp đồng không được coi là yếu tố đương nhiên phải có trong hợp đồng Nếu động cơ không đạt được không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng nhưng hợp đồng
không có mục đích hoặc mục đích không đạt được sẽ làm hợp đồng vô hiệu
Mục đích luôn luôn được xác định cụ thể còn động cơ có thể được xác định
Trang 34hoặc không Ví dụ hợp đồng mua ban nhà mục đích của hợp đồng là mua nhà
để có quyền sở hữu nhà nhưng động co cé thé dé ở, cho thuê hay bán lại cho người khác Động cơ của hợp đồng có thẻ được các bên thoả thuận trở thành một điều khoản của hợp đồng, một bộ phận cấu thành của hợp đồng
Mục đích của hợp đồng và nội dung của hợp đồng có múi liên hệ chặt chẽ với nhau Con người xác lập, thực hiện hợp đồng luôn nhằm một mục đích nhất định Muốn đạt được mục đích đó họ phải cam kết, thoả thuận về các điều khoản trong hợp đồng hay chính là nội dung của hợp đồng Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thoả thuận
ích của Nhà nuớc, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của nguời khác đã được
khẳng định là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự
Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho
nước thì đạo đức xã hội góp phần điều chỉnh hành vi của con người theo đúng
chuẩn mực xã hội.
Trang 35Nhu vậy, để hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giao dịch không được vi phạm điều cắm của pháp luật, không trái đạo đức
xã hội
Nội dung của hợp đồng, các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
phải hợp pháp, có thể thực hiện được và không được phép xác lập, thực hiện
những hợp đồng mà pháp luật cắm hoặc trái đạo đức xã hội (mua bán vũ khí, súng đạn ) Đối tượng của hợp đồng phải là vật, quyền tài sản được phép giao
dịch, phải tuân thủ những điều kiện, trình tự, thủ tục, nội dung của từng loại
hợp đồng cụ thể Nếu pháp luật không quy định cụ thẻ thì các bên có quyền xác lập, thực hiện những hợp đồng không trái với những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự Các hợp đồng có mục đích, nội dung không hợp pháp sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự Nói cách khác hợp đồng đó bị
coi là vô hiệu
Trong trường hợp giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm quy định của pháp luật dân sự nói riêng, pháp luật nói chung hoặc trái đạo đức xã hội thì không được thừa nhận, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên: (mua bán tài sản pháp luật cám (mua bán đất đai, ma tuý), cho vay
tiền để đánh bạc, đòi các khoản tiền do việc bán dâm, đánh bạc mang lại )
Thực tế : Vẫn có những hợp đồng vi phạm điều cám pháp luật và trái đạo đức
xã hội, tuy nhiên đây là những hợp đồng nhằm chống lại chế độ pháp luật nước
ta, hay những hợp đồng bị ép buộc ký kết nhằm gây thiệt hại cho danh dự nhân phẩm, hoặc vì lợi cá nhân Song loại hợp đồng này cũng không nhiều, phần lớn
họ đề vì mục đích của họ thì mới giao kết hợp đồng
Điều kiện 3: Người tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện:
Ban chất của quan hệ dân sự mang yếu tố ý chí, đó là sự thống nhất ý
chí của các chủ thể tham gia Do vậy, muốn xác định các chủ thể có tự
Trang 36nguyện hay không cần dựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai yếu tố: ý
chí và bày tỏ ý chí Đây là hai mặt của một vấn đề có quan hệ khăng khít với
nhau Sự tự nguyện hoàn toàn đó chính là sự thống nhất ý chí bên trong và
sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài; chỉ khi sự biểu lộ ý chí ra bên ngoài phản ánh
khách quan, trung thực những mong muốn bên trong của các chủ thể mới coi
là tự nguyện Nếu thiếu sự tự nguyện thì trái với bản chất của giao dịch dân
sự và giao dịch dân sự có thẻ bị coi là vô hiệu trong trường hợp sau:
Giao dịch dân sự giả tạo: là giao dịch dân sự nhằm che dấu một giao
dịch dân sự khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che dấu vẫn
có hiệu lực nếu giao dịch đó tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực được
qui định tại Điều 121, trừ trường hợp giao dịch đó không nhằm làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ của các bên thì cũng vô hiệu Chẳng hạn: hai bên xác
lập hợp đồng mua bán tài sản, nhưng thực chất là tặng cho (còn gọi là hợp
đồng giả cách) thì hợp đồng tặng cho vẫn có giá trị pháp lý hoặc trường hợp
để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hai bên xác lập hợp động mua bán tài sản
nhưng thực chất bên kia chỉ giữ hộ tài sản mà không làm phát sinh quyền và
nghĩavụ theo hợp đồng mua bán (còn gọi là hợp đồng tưởng tượng) Như
vậy, giả tạo còn được hiểu là không có sự thoả thuận và thống nhất ý chí của
các bên nhằm làm phát sinh một quan hệ hợp đồng thực tế mà những loại giao dịch này thường nhằm mục đích che dấu, trốn tránh pháp luật
Giao dịch dân sự được xác lập do nhằm lẫn là trường hợp các bên
hình dung sai về chủ thể hoặc nội dung của giao dịch mà tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia Do nhằm lẫn mà làm mắt di tính chất thoả thuận không phải là mong muốn đạt tới Nhằm lẫn có thể dưới
những dạng sau:
~_ Nhằm lẫn chủ thể.
Trang 37~_ Nhằm lẫn nội dung của giao dịch do hình dung sai về chất lượng, nhằm lẫn về đối tượng, giá cả
Nguyên nhân của sự nhằm lẫn thường do các bên thiếu sự rõ ràng về
các điều khoản của hợp đồng hoặc do kém hiểu biết về đối tượng của giao dịch nhất là đối tượng liên quan kỹ thuật
~_ Giao dịch dân sự được xác lập do bi lira déi, de doa
Tuy nhiên, việc xác định lừa dối trong thực tiễn hết sức khó khăn, thông thường dựa vào các căn cứ sau
© Theo quy định của Luật Dân sự các nước thì phân thành lừa dối trực diện (giao dịch vô hiệu) và lừa dối không trực diện (giao dịch có thể bị
vô hiệu) (theo Luật dân sự Pháp)
«_ Giao dịch dân sự được xác lập do bi de doa
Điều kiện 4: Hợp đồng tuân thủ các quy định pháp luật chuyên
ngành:
“Trong từng trường hợp cụ thể hợp đồng phải tuân theo quy định pháp luật mà nó chịu điều chỉnh ví dụ: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc phải công chứng nên các bên tham gia giao dịch phải đảm bảo quy định này về hình thức hợp đồng; Hợp đồng hợp tác kinh doanh với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư lần đầu tại Việt Nam bắt buộc phải thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Điều kiện 5: Điều kiện về hình thức của hợp đằng:
Hợp đồng bằng lời nói:
Đây là hình thức được các bên trao đổi và xác lập bằng miệng Các nhà
làm luật ghi nhận hình thức lời nói là một trong những phương tiện ghi nhận
Trang 38nội dung thoả thuận về quyền, nghĩa vụ của các bên Bởi với việc chuyển tải
thông tin bằng lời nói, bao gồm cả việc thể hiện tâm lí tình cảm, cách suy xét,
đánh giá sự vật, hiện tượng không chỉ chính xác mà còn có khả năng truyền
đạt tới đối tượng tiếp nhận một cách nhanh chóng nhát, với dung lượng lớn nhất, tác động trực tiếp đến tâm lí, tình cảm, suy nghĩ của đối tượng tiếp nhận
Lời nói chính là cách thức biểu hiện ý chí của một cá nhân và hình thức hợp
đồng bằng lời nói là phương thức thể hiện sự thống nhất ý chí của các chủ thể trong hợp đồng
Hợp đồng bằng lời nói được xác lập bằng một hành động cụ thể chứ
không thể dưới dạng không hành động Im lặng không được coi là sự chấp nhận giao kết hợp đồng bởi con người không thể hiện ý chí của mình một
cách rõ ràng thông qua trạng thái này Tuy nhiên, luật cũng quy định im lặng
là sự chấp nhận giao kết nếu như hết có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết
Hình thức bằng lời nói được các bên lựa chọn trong một số trường hợp nhất định bởi hình thức này chứa đựng những yếu tố bắt lợi Hình thức này chỉ áp dụng trong các hợp đồng có đặc điểm:
Có giá trị nhỏ, phục vụ cuộc sống hàng ngày;
Giữa các bên có độ tin cậy nhất định;
Hợp đồng được thực hiện ngay lập tức và hoàn thành ngay sau thời điểm giao kết trong thời gian tương đối ngắn;
Nội dung các quyền, nghĩa vụ hợp đồng có tính đơn giản, thực hiện
một cách nhanh chóng, thuận tiện, không cần thiết có sự cẫn trong quá mức
bằng văn bản
Hợp đồng miệng có hiệu lực tại thời điểm các bên đã trực tiếp thoả thuận với nhau về những nội dung chủ yếu của hợp đồng,
Trang 39Thực tiễn: Trong thực tế loại hợp đồng này được sử dụng tương đối
nhiều nhưng chỉ với những mục đích có giá trị nhỏ, phục vụ cho sinh hoạt
hàng ngày, giữa các bên có sự tin cậy nhất định Song một hiện tượng cũng hay gặp là vì sự tin cậy mà dẫn đến lợi dụng sự tin cậy gây lừa đảo chiếm
đoạt tài sản
Hop dong bing vin bản:
Nội dung của hợp đồng là tổng thể quyền, nghĩa vụ mà các bên phải
thực hiện Hình thức văn bản là dạng thức chứa đựng quyền, nghĩa vụ của các
dữ liệu cũng được coi là giao dịch bằng văn bản Hợp đồng bằng văn bản
được các bên lựa chọn trong các trường hợp:
~ Hợp đồng có giá trị lớn;
- Hợp đồng có nội dung quyền, nghĩa vụ phức tạp, phản ánh các quan
hệ dân sự phong phú, đa dạng;
~ Hợp đồng được thực hiện trong một thời gian dài;
~ Giữa các chủ thể trong hợp đồng không có độ tin tưởng
'Hình thức bằng văn bản là hình thức duy nhất mà Nhà nước can thiệp vào
bằng những quy định cụ thê Đối với một số loại hợp đồng nhất định, Nhà nước
can thiệp vào sự tự do ý chí bằng những quy định có tính chất bắt buộc đối với
hình thức hợp đồng bằng văn bản Căn cứ vào mức độ can thiệp của Nhà nước
vào nguyên tắc tự do thể hiện ý chí của các bên trong hợp đồng mà hợp đồng
bằng văn bản được chia thành các loại:
Thứ nhắt
, hợp đồng bằng văn bản thông thường: hợp đồng loại này chỉ
cần lập bằng văn bản thông thường trong đó ghi nhận quyền, nghĩa vụ của các
Trang 40bên là đủ Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản hợp đồng;
Thứ hai, hợp đồng bằng văn bản có chứng nhận, chứng thực, đăng kí
Hợp đồng dạng này cần có sự quản lí của Nhà nước bởi nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt, sản xuất kinh doanh của các chủ thể mà còn ảnh hưởng lớn đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba, tác động đến cuộc sống của cộng đồng dân cư, trật tự xã hội
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm văn bản hợp đồng
được chứng nhận, chứng thực, đăng kí hoặc cho phép
Thực tiễn: Trong thực tiễn đây là loại hợp đồng được sử dụng nhiều nhất, vì bó đảm bảo tính pháp lý cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng
Xong cũng do nhiều quy định của pháp luật mà gây khó khăn cho người thực hiện nên rất dễ các chủ thê thực hiện hợp đồng không biết điều kiện như thế
nào thì hợp đồng mới có hiệu lực, nhiều trường hợp mua bán đất chỉ có chữ
ký của các bên, mà không được chứng thực, thì lúc đó có mâu thuẫn xảy ra, đưa hợp đồng ra tranh chấp, thì bị tuyên là hợp đồng vô hiệu như vậy trong
thực tế có nhiều trường hợp xảy ra
Hợp đồng thể hiện bằng hành vỉ:
Hợp đồng có thể được xác lập thông qua hành vi nhất định theo quy
ước đã định trước.Ví dụ như mua nước bằng máy tự động, gọi điện thoại tự
động Hợp đồng có thể được xác lập thông qua hình thức này mà không
nhất thiết phải có sự hiện diện đồng thời của tất cả các bên tại nơi giao kết