1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức

187 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức
Tác giả Nguyễn Thị Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Thị Hoa
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Early Childhood Education
Thể loại Thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 3,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức(Luận văn thạc sĩ) Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ tại Trường Mầm non Vành Khuyên, Quận Thủ Đức

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 10 năm 2017

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

Nguyễn Thị Hằng

Trang 2

CẢM TẠ

Sau thời gian tham gia học tập và nghiên cứu tại trường, nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Để đạt được thành quả này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể và cá nhân trong và ngoài trường

Trước tiên, tôi xin gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, quý thầy cô Viện Sư phạm Kỹ thuật và Phòng Đào tạo sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập

và nghiên cứu

Tôi xin được gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến cô PGS.TS Lê Thị Hoa đã tận

tình chỉ bảo và định hướng cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu,thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới Ban giám hiệu, giáo viên và phụ huynh học sinh Trường Mầm non Vành Khuyên đã hỗ trợ tôi trong thời gian thực hiện nghiên cứu

Đồng thời, tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp xa gần đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn một cách thuận lợi nhất

Dù bản thân đã rất cố gắng nhưng chắc chắn vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được những góp ý quý báu từ phía thầy cô để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cám ơn!

Tp HCM, ngày 28 tháng 10 năm 2017

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Hằng

Trang 3

TÓM TẮT

Trẻ em ở độ tuổi đang lớn rất hiếu động nhưng lại chưa có khả năng lường trước những điều không hay sẽ xảy ra với mình Giáo dục trẻ ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ chính là trang bị kiến thức để trẻ có thể tự bảo vệ mình mọi lúc mọi nơi, điều này rất cần thiết cho mỗi đứa trẻ vì không phải lúc nào cha mẹ cũng có thể ở bên cạnh con cái

Ngày nay, trẻ em phải đối diện với nhiều tình huống nguy hiểm trong cuộc sống Trong khi đó, trẻ mẫu giáo chưa có khả năng tự bảo vệ mình Xuất phát từ

tình hình trên, tác giả xin chọn đề tài: “Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ

trường Mầm non Vành Khuyên, quận Thủ Đức” để thực hiện nghiên cứu

Luận văn gồm có:

Phần mở đầu, gồm: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, kế hoạch và đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận văn, cấu trúc luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo gồm một

số nghiên cứu về lý luận giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo trên thế giới và Việt Nam; Các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu; Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo; Con đường giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo; Phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ bản cho trẻ mẫu giáo; Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo

Chương 2: Thực trạng giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo tại Trường Mầm non Vành Khuyên, quận Thủ Đức, gồm: Giới thiệu về Trường Mầm non Vành Khuyên; Khảo sát thực trạng của giáo viên và trẻ Trường Mầm non Vành Khuyên về giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nâng cao giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo Trường Mầm non Vành Khuyên, quận Thủ Đức Đề xuất các biện pháp và đánh giá hiệu quả của phương pháp đề xuất

Kết luận, gồm: kết luận và kiến nghị

Trang 4

ABSTRACT

Growing children are very active but unable to foresee what will happen to them Educating the awareness of self-protection for children is to equip them with the knowledge so that they can protect themselves at all times, which is essential for every child, as it is not always possible for parents to stay by the children’s side

Nowadays, children face a lot of dangerous situations in life Meanwhile, preschoolers have not been able to protect themselves Resulting from that situation, the author chooses the topic: "Educating self-protection awareness for children in Vanh Khuyen Kindergarten, Thu Duc District" for conducting research.The thesis includes:

Introduction: Rationales for choosing the topic, research objectives, research plans and subjects, research tasks, research hypothesis, research scope, research methods, contributions of the thesis , thesis structure

Chapter 1: Theoretical background for educating the awareness of protection for preschool children includes some theoretical study on educating the awareness of self-protection for preschoolers in the world and in Vietnam; concepts related to research topics; educational contents of self-protection awareness for preschoolers; the path to educate self-protection awareness for preschoolers; methods of educating self-protection awareness for preschoolers; characteristics of preschoolers’ cognitive development

self-Chapter 2: Current status of educating self-protection awareness for preschoolers in Vanh Khuyen Kindergarten in Thu Duc district includes: Introduction of Vanh Khuyen Kindergarten; Teacher and children survey in Vanh Khuyen Kindergarten on the current status of self-protection awareness education for preschoolers

Chapter 3: Recommendations on a number of measures to improve the protection awareness education for preschoolers in Vanh Khuyen Kindergarten, Thu

Trang 5

self-Duc District: Recommending a number of measures and evaluating the effectiveness of the proposed method

Conclusion includes: Conclusions and recommendations

Trang 6

MỤC LỤC

Quyết định giao đề tài

Xác nhận của cán bộ hướng dẫn

LÝ LỊCH KHOA HỌC i

LỜI CAM ĐOAN ii

CẢM TẠ iii

TÓM TẮT iv

ABSTRACT v

MỤC LỤC vii

DANH SÁCH CÁC BẢNG xii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Giả thuyết nghiên cứu 5

6 Phạm vi nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 6

8 Đóng góp của luận văn 6

9 Cấu trúc của Luận văn 7

Chương 1: 8

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ BẢN THÂN CHO TRẺ MẪU GIÁO 8

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo 8

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 14

1.2.1 Khái niệm giáo dục 14

1.2.2 Khái niệm ý thức 15

Trang 7

1.2.3 Khái niệm bảo vệ bản thân 15

1.2.4 Khái niệm trẻ mẫu giáo 16

1.3 Một số vấn đề lý luận về ý thức 17

1.3.1 Cấu trúc của ý thức 17

1.3.2 Cấp độ ý thức, tự ý thức 19

1.3.3 Sự hình thành và phát triển ý thức cá nhân 19

1.4 Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo 20

1.4.1 Đặc điểm phát triển trí nhớ của trẻ mẫu giáo: 20

1.4.2 Đặc điểm chung của sự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo 21

1.4.3 Đặc điểm phát triển tưởng tượng của trẻ mẫu giáo 22

1.4.4 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ: 22

1.5 Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo 24

1.5.1 Nội dung giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo 24

1.5.2 Con đường giáo dục dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo 24

1.5.3 Phương pháp giáo dục dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo 26

1.5.4 Hình thức giáo dục dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo 27

1.5.5 Nguyên tắc giáo dục dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo 28

1.6 Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo 30 Chương 2: 33

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ BẢN THÂN CHO TRẺ MẪU GIÁO TẠI TRƯỜNG MẦM NON VÀNH KHUYÊN, QUẬN THỦ ĐỨC 33

2.1 Giới thiệu về Trường Mầm non Vành Khuyên, quận Thủ Đức 33

2.2 Khảo sát thực trạng về giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo Trường Mầm non Vành Khuyên 37

2.3 Kết quả nghiên cứu thực tiễn về ý thức BVBT của trẻ mẫu giáo Trường Mầm non Vành Khuyên 38

2.3.1 Thực trạng nhận thức của trẻ 3 – 4 tuổi về ý thức BVBT (lớp Mầm 1, 37 bé) 38

2.3.2 Thực trạng nhận thức của trẻ 4 - 5 tuổi về ý thức BVBT (lớp Chồi 1, 40 bé) 43

2.3.3 Thực trạng nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi về ý thức BVBT (lớp Lá 4, 38 bé) 46

2.4 Kết quả nghiên cứu thực tiễn về GD ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo Trường Mầm non Vành Khuyên 50

2.4.1 Thực trạng chỉ đạo của BGH và đánh giá của trường về GD ý thức BVBT cho trẻ 50

Trang 8

2.4.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo

Trường Mầm non Vành Khuyên 52

2.4.3 Thực trạng giáo dục ý thức BVBT cho trẻ lớp Mầm 54

2.4.3.1 Thực trạng về nội dung GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Mầm 54

2.4.3.2 Thực trạng con đường GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Mầm 55

2.4.3.3 Thực trạng phương pháp GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Mầm 56

2.4.3.4 Thực trạng hình thức GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Mầm 57

2.4.4 Thực trạng giáo dục ý thức BVBT cho trẻ lớp Chồi 58

2.4.4.1.Thực trạng về nội dung GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Chồi 58

2.4.4.2 Thực trạng về con đường GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Chồi 59

2.4.4.3 Thực trạng về phương pháp GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Chồi 60

2.4.4.4 Thực trạng về hình thức GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Chồi 62

2.4.5 Thực trạng giáo dục ý thức BVBT cho trẻ lớp Lá: 63

2.4.5.1 Thực trạng về nội dung GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Lá 63

2.4.5.2 Thực trạng về con đường GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Lá 63

2.4.5.3 Thực trạng về phương pháp GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Lá 64

2.4.5.4 Thực trạng về hình thức GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Lá 65

2.4.6 Một số khó khăn trong việc GD ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo tại Trường Mầm non Vành Khuyên 66

Chương 3: 72

BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ BẢN THÂN CHO TRẺ MẪU GIÁO TẠI TRƯỜNG MẦM NON VÀNH KHUYÊN, QUẬN THỦ ĐỨC 72

3.1 Cơ sở khoa học đề xuất các biện pháp giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo 72

3.2 Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả GD ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo Trường Mầm non Vành Khuyên 74

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của GVMN, phụ huynh về sự cần thiết của GD ý thức BVBT cho trẻ 74

3.2.2 Biện pháp 2: Chỉ đạo để thống nhất trong toàn trường thời gian cụ thể trong kế hoạch tuần để thực hiện các nội dung GD ý thức BVBT cho trẻ 75

3.2.3 Biện pháp 3: Phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình trong việc GD ý thức BVBT cho trẻ 76

Trang 9

3.2.4 Biện pháp 4: Đưa nội dung GD giới tính vào chương trình GD của trường nhằm GD

ý thức BVBT cho trẻ 79

3.3 Đánh giá về các biện pháp đã đề xuất của BGH và GV Trường Mầm non Vành Khuyên 80

3.4 Khảo sát kết quả trước khi thử nghiệm 85

3.5 Thử nghiệm biện pháp “Đưa nội dung GD giới tính vào chương trình GD của trường nhằm GD ý thức BVBT cho trẻ” 87

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3: 93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

1 Kết luận: 94

2 Kiến nghị: 95

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả khảo sát nhận thức của trẻ lớp Mầm 1 về ý thức BVBT 39

Bảng 2.2: Kết quả khảo sát nhận thức của trẻ lớp Chồi 1 về ý thức BVBT 44

Bảng 2.3: Kết quả khảo sát nhận thức của trẻ lớp Lá 4 về ý thức BVBT 48

Bảng 2.4: Bảng tổng hợp kết quả trò chuyện về thực trạng chỉ đạo của BGH về GD ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo Trường Mầm non Vành Khuyên 51

Bảng 2.5: Thực trạng nhận thức của BGH và GV về GD ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo 53

Bảng 2.6: Thực trạng con đường GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Mầm 56

Bảng 2.7: Thực trạng phương pháp GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Mầm 58

Bảng 2.8: Thực trạng hình thức GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Mầm 59

Bảng 2.9: Thực trạng con đường GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Chồi 61

Bảng 2.10: Thực trạng phương pháp GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Chồi 62

Bảng 2.11: Thực trạng hình thức GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Chồi 63

Bảng 2.12: Thực trạng con đường GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Lá 65

Bảng 2.13: Thực trạng phương pháp GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Lá 66

Bảng 2.14: Thực trạng hình thức GD ý thức BVBT cho trẻ lớp Lá 67

Trang 12

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1: Kế hoạch tuần lớp Mầm 1 56

Hình 2.2: Kế hoạch tuần lớp Chồi 1 56

Hình 2.3: Kế hoạch tuần lớp Lá 4 57

Hình 2.4: Trẻ tham gia thi an toàn giao thông do trường tổ chức 57

Hình 2.5: Bộ công cụ đánh giá trẻ (dành cho bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi) 58

Hình 3.1: GV trò chuyện để tìm hiểu thực trạng GD giới tính của trẻ lớp Lá 1 trước khi thử nghiệm 58

Hình 3.2: GV đang tổ chức cho trẻ xem video GD giới tính 59

Hình 3.3: Trẻ làm bài tập sau khi được học GD giới tính 59

Hình 3.4: Sau khi được GD giới tính, trẻ tự nghĩ ra cách đứng sát nhau che cho bạn thay đồ khi không có chỗ kín 60

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em ở độ tuổi đang lớn rất hiếu động nhưng lại chưa có khả năng lường trước những điều không hay sẽ xảy ra với mình Vì vậy trẻ dễ phải đối diện với nhiều tình huống khó lường mỗi khi các em rời xa vòng tay của cha mẹ Giáo dục trẻ ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ chính là trang bị kiến thức để trẻ có thể tự bảo vệ mình mọi lúc mọi nơi, điều này rất cần thiết vì không phải lúc nào cha mẹ cũng có thể ở bên cạnh con cái Việc giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ nhỏ không chỉ giúp trẻ sớm có ý thức giữ gìn bản thân, mà còn là cách giúp trẻ tồn tại một cách an toàn trong tương lai Đây cũng là một nhu cầu sinh tồn của con người, là một phần của kỹ năng sống

Theo Maslow [29], về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (Basic needs) và nhu cầu bậc cao (Meta needs) Ông nghiên cứu cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng: Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc “thể lý” (Physiological) bao gồm: thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (Safety) – cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo Qua đó cho thấy nhu cầu tự vệ và giữ an toàn cũng là một trong năm nhu cầu cơ bản bậc thấp của tất cả mọi người đặc biệt là trẻ em

Ở Việt Nam cũng có một số quy định về quyền, bổn phận để bảo vệ bản thân cho trẻ Trong kỳ họp Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05 tháng 4 năm 2016, Điều 41 quy định rõ về bổn phận của trẻ em [16]: “Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân” Trong Chương IV (bảo vệ trẻ em), Mục

1 (Quyền của trẻ em), Điều 85 (Bộ Giáo dục và Đào tạo) có ghi: “Bảo đảm việc

thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác; xây dựng chương trình, nội dung giáo dục phù hợp với từng độ tuổi trẻ em và bảo đảm

Trang 14

chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện của trẻ em; bảo đảm trẻ em được hoàn thành chương trình giáo dục phổ cập và tạo điều kiện học ở trình độ cao hơn” Thông tư số: 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo [13] cũng đã xác định: “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học suốt đời”

Trong thời gian vừa qua, các vụ bạo lực, xâm hại trẻ em, nhất là xâm hại tình dục trẻ em có chiều hướng diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội Ngày 16/5/2017, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 18/CT-TTg về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em [15] Theo

đó, Sở GDĐT và Ủy ban nhân dân quận Thủ Đức cũng đã có những văn bản triển khai chỉ thị tới các trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở như văn bản số 2904/GDĐT-CTTT (của Sở GDĐT Thành phố Hồ Chí Minh), Văn bản 626/GDĐT-CTTT (của Ủy ban nhân dân quận Thủ Đức)

Đặc biệt Chương trình Giáo dục mầm non 2009 đã đưa ra nội dung giáo dục

an toàn cho trẻ mẫu giáo các độ tuổi Năm 2010 Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam

đã ban hành Bộ Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi [14] Trong đó, Chuẩn 6 đã đưa ra chỉ số đánh giá “Trẻ có hiểu biết và thực hành an toàn cá nhân”

Trong thực tế, tình trạng trẻ em thụ động ngày càng nhiều, nhất là trẻ em ở các thành phố lớn như thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội,… Lý do là phụ huynh nhận thấy được môi trường xã hội thật sự nguy hiểm, bản thân họ cũng không biết rằng khi nào con mình có thể gặp nguy hiểm nên để chắc chắn, họ bao bọc trẻ thật kỹ và một trong hai lựa chọn an toàn là ở nhà hoặc gửi ở trường Khi ở nhà, trong bốn bức tường, trẻ thường bị cuốn hút với các bộ phim hoạt hình, không giao tiếp, không va chạm nên không có nguy hiểm nào xảy ra để trẻ phát huy khả năng tự vệ, không có ý thức bảo vệ bản thân Vì vậy, trẻ em ngày càng mất dần khả

Trang 15

năng tự vệ Trẻ sẽ không biết ứng xử khi đối mặt với các tình huống để bảo vệ mình, không biết tìm sự giúp đỡ khi gặp nguy hiểm

Trong khi đó, tình trạng bạo hành và lạm dụng tình dục trẻ em ở Việt Nam đang diễn ra hàng ngày và có chiều hướng tăng Theo báo cáo của Tổng cục Cảnh sát Phòng, chống tội phạm, Bộ Công an [24], mỗi năm có 1.600 - 1.800 vụ xâm hại trẻ em 65% là số vụ xâm hại tình dục mà trẻ em là nạn nhân Đa số nạn nhân từ 12 đến 15 tuổi 13,2% số vụ xâm hại tình dục có nạn nhân là trẻ em dưới 6 tuổi

Số liệu từ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTB-XH) [30] cho thấy, trong 5 năm (2011-2015), cả nước có 5.300 vụ xâm hại tình dục trẻ em trong đó tình trạng xâm hại tình dục trẻ em nam có xu hướng gia tăng Theo thống kê của Hiệp hội Quốc gia Phòng Chống Bạo hành trẻ em (NSPCC), cứ 4 bé gái thì có 1 bé

bị xâm hại tình dục, 6 bé trai thì có 1 bé bị xâm hại tình dục Hàng ngày trên thế giới có 720 hình ảnh trẻ em bị lạm dụng, đây là số liệu được đưa ra trong buổi hội thảo chính sách về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) tổ chức tại

Hà Nội ngày 30 tháng 3 năm 2016 Tại Việt Nam, tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục liên tục gia tăng với mức độ ngày càng phức tạp Nếu trước đây trẻ bị xâm hại thường là 13 - 18 tuổi thì nay xuất hiện nhiều vụ việc ở lứa tuổi 5 - 13 tuổi Đáng nói hơn, 93% nạn nhân quen kẻ xâm hại mình, trong đó có 47% kẻ xâm hại đến từ

họ hàng, gia đình Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng số vụ xâm hại tình dục trẻ em được ghi nhận tại Việt Nam trong những năm qua thực tế chỉ là "phần nổi của tảng băng chìm"

Bên cạnh nguy cơ bị lạm dụng từ người thân, trẻ em còn là đối tượng của nạn bạo hành Trong những năm gần đây, nhiều vụ việc đánh đập, hành hạ, bạo hành trẻ

em trong gia đình, trường mầm non, tiểu học, nơi giữ trẻ… diễn ra thường xuyên đến mức phải báo động Thống kê của UNICEF [31] chỉ ra, trung bình cứ 5 phút trôi qua, một đứa bé trên thế giới chết vì bạo lực Năm 2012, thế giới có 223 triệu trẻ em là nạn nhân của bạo hành và ngược đãi Theo báo cáo Liên Hiệp Quốc công

bố vào tháng 11/2016, có 246 triệu trẻ trên thế giới là nạn nhân của bạo lực học

Trang 16

đường Có vô vàn cách thức man rợ mà người lớn vô tình hay cố ý làm tổn thương con trẻ, vô vàn đối tượng có thể gây ra bạo hành với trẻ và người gây tội ác và cũng chính là những người thân thiết, gần gũi với nạn nhân Nhiều trường hợp bạo hành lại xảy ra ở những nơi lẽ ra phải đảm bảo an toàn cho trẻ Điều này đồng nghĩa với việc trẻ có thể gặp nguy hiểm bất kỳ ai, khi nào và bất kỳ nơi đâu

Trẻ em thật sự phải đối diện với ngày càng nhiều nguy hiểm từ bên ngoài trong khi việc giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non nói chung và Trường Mầm non Vành Khuyên nói riêng chưa được nhà trường và giáo viên quan tâm nhiều (chưa có chuyên đề nào về bảo vệ bản thân, không có trong nội dung kiểm tra đánh giá, không đưa nội dung vào giờ học) Mặc dù trường nhà trường luôn trang bị đồ dùng đồ chơi có tính an toàn để hạn chế tối đa nguy hiểm đến trong khi hoạt động nhưng trẻ vẫn gặp rủi ro từ những đồ chơi đó trong quá trình chơi vì thực tế là đồ chơi không tạo ra nguy hiểm nếu trẻ chơi đúng cách Dạy trẻ biết cách sử dụng an toàn các loại đồ vật đồ chơi là một cách bảo vệ bản thân hiệu quả vì trong khi trẻ khám phá nhiều cách chơi, nguy hiểm đến với trẻ từ bất kỳ tình huống và thời điểm nào

Việc giáo dục ý thức nói chung và ý thức tự bảo vệ nói riêng đòi hỏi một quá trình giáo dục lâu dài, bền bỉ và có kế hoạch rõ ràng, hợp lý của giáo viên Hơn nữa, lứa tuổi mầm non - đặc biệt là giai đoạn tuổi mẫu giáo (3 - 6 tuổi) là giai đoạn học hỏi, tiếp thu, lĩnh hội những giá trị sống để phát triển nhân cách và chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa trường phổ thông, do đó cần sớm giáo dục ý thức, đặc biệt là ý thức

tự bảo vệ mình để trẻ có nhận thức đúng, có hành vi ứng xử phù hợp với bản thân ngay từ độ tuổi mầm non

Xuất phát từ tình hình trên, bản thân là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy, nhận thấy được tính cần thiết của việc trang bị kiến thức về tự bảo vệ mình cho trẻ ngay từ tuổi mẫu giáo, tác giả xin chọn đề tài: “Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ trường Mầm non Vành Khuyên, quận Thủ Đức” để thực hiện nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo tại

Trang 17

Trường Mầm non Vành Khuyên Từ đó đề xuất biện pháp giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo tại Trường Mầm non Vành Khuyên, quận Thủ Đức

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Giáo dục trẻ mẫu giáo Trường Mầm non Vành Khuyên, quận Thủ Đức

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mầm

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Ý thức bảo vệ bản thân của trẻ ở Trường Mầm Vành Khuyên còn ở mức độ thấp

- Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ chưa được giáo viên và nhà trường quan tâm đúng mức

6 Phạm vi nghiên cứu

+ Phân loại nghiên cứu: đề tài thuộc loại nghiên cứu mô tả

+ Đề tài nghiên cứu trẻ mẫu giáo tại Trường Mầm non Vành Khuyên, gồm 3 độ tuổi:

- Lớp mẫu giáo 3 - 4 tuổi: một lớp

- Lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi: một lớp

- Lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi: một lớp

+ Nghiên cứu GD ý thức BVBT cho trẻ trong tất cả 4 hoạt động GD hàng ngày tại Trường Mầm non

Trang 18

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các nguồn tài liệu khác nhau có liên quan

đến đề tài giáo dục ý thức bảo vệ bản thân: sách, báo, luận án, tạp chí…

- Nghiên cứu các công trình khoa học, các văn kiện, thông tư, Chương trình Giáo dục mầm non

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Do đối tượng khảo sát là trẻ mẫu giáo, và số lượng giáo viên ít nên đề tài sử dụng các phương pháp sau:

7.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát các hoạt động của cô và trẻ ở trường mầm non (giờ học, hoạt động vui chơi trong lớp, ngoài trời, hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh) để tìm hiểu thực trạng ý thức BVBT của trẻ và giáo dục ý thức BVBT cho trẻ

7.2.2 Phương pháp trò chuyện

Trò chuyện với giáo viên, với trẻ để tìm hiểu các thông tin liên quan tới thực trạng ý thức bảo vệ bản thân của trẻ, giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ và nguyên nhân của thực trạng đó

7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Nghiên cứu kế hoạch năm, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần, biên bản dự giờ, biên bản họp chuyên môn, tổng kết năm học… của cán bộ quản lý và giáo án của giáo viên để tìm hiểu về sự chỉ đạo và thực hiện giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ trong các hoạt động giáo dục tại trường

8 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã tổng kết được một số nghiên cứu liên quan đến GD ý thức BVBT cho trẻ của một số quốc gia trên thế giới Qua kinh nghiệm của các nước trên thế giới luận văn đã rút ra một số bài học kinh nghiệm có ích phục vụ cho việc giáo dục trẻ ý thức BVBT ở Trường Mầm non Vành Khuyên Trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu một cách khoa học, luận văn đã phân tích thực trạng ý thức BVBT của trẻ mẫu giáo tại Trường Mầm non Vành Khuyên trong giai đoạn

Trang 19

vừa qua Luận văn cũng đã tiến hành đánh giá việc thực hiện các nội dung BVBT để

từ đó nêu rõ những kết quả đã đạt được, các tồn tại yếu kém và nguyên nhân của chúng và đề xuất 4 biện pháp nâng cao hiệu quả GD ý thức BVBT tại Trường Mầm non Vành Khuyên Mặc dù đề tài không thuộc nghiên cứu giải pháp nhưng có tổ chức thử nghiệm một phần trong biện pháp 4

9 Cấu trúc của Luận văn

- Phần mở đầu gồm: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, kế hoạch và đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận văn, cấu trúc luận văn

- Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo gồm một số nghiên cứu về lý luận giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo trên thế giới

và Việt Nam; Các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu; Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo; Con đường giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo; Phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ bản cho trẻ mẫu giáo; Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo

- Chương 2: Thực trạng giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo tại Trường Mầm non Vành Khuyên, quận Thủ Đức gồm: Sơ lược về Trường Mầm non Vành Khuyên; Khảo sát thực trạng của giáo viên và trẻ Trường Mầm non Vành Khuyên

về giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo

- Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nâng cao giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo tại Trường Mầm non Vành Khuyên, quận Thủ Đức Đề xuất các biện pháp

và đánh giá hiệu quả của phương pháp đề xuất

- Kết luận gồm kết luận và kiến nghị

- Tài liệu tham khảo

- Phụ lục

Trang 20

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ

BẢN THÂN CHO TRẺ MẪU GIÁO

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo

Ở các nước trên thế giới, việc nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm giáo dục các

kỹ năng cơ bản rất được quan tâm trong đó có giáo dục, trang bị kiến thức về tự bảo

vệ chính mình

Một số nước coi việc giáo dục giới tính sớm (từ 4 tuổi) như một phần trong việc giáo dục trẻ ý thức BVBT [32] Ở cấp tiểu học, trẻ em Mỹ được thầy cô giới thiệu sơ lược về những bộ phận nhạy cảm và sự khác nhau giữa đàn ông và phụ nữ

Từ cấp trung học cơ sở, học sinh được tìm hiểu về tình dục, các bệnh truyền nhiễm, việc mang thai… Ở Anh, trẻ em bắt đầu được giáo dục giới tính khi còn học Mầm non Pháp luật Anh quy định rất rõ rằng trẻ khi đủ 5 tuổi sẽ bắt đầu học về giới tính một cách bắt buộc Chương trình với tên gọi “Khóa học Nhà nước yêu cầu” được áp dụng cho tất cả học sinh tại các trường công lập hay tư thục cho đến khi tốt nghiệp trung học cơ sở Chương trình học được chia làm 4 phần tương ứng với 4 độ tuổi

Ở châu Á, các quốc gia như Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc cũng có những chính sách về giảng dạy giới tính tại trường học nhằm trang bị cho trẻ những kiến thức để bảo vệ chính mình Malaysia, Philippines và Thái Lan thiên về giáo dục chi tiết sức khoẻ sinh sản trong khi Ấn Độ lại có chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ 9 tới 16 tuổi

Thụy Điển là một trong những quốc gia tiên phong trong việc giáo dục giới tính cho trẻ em [26] Những chương trình giáo dục giới tính cho học sinh đã được Thụy Điển triển khai từ năm 1942 Năm 1966, Thụy Điển đã chính thức đưa “Giáo dục phòng tránh thai” và nhiều hoạt động khác về giáo dục giới tính lên truyền hình, phá vỡ sự ngại ngùng cho phụ huynh khi trò chuyện với con em về vấn đề này

Trang 21

“Giáo dục phòng tránh thai” cung cấp đầy đủ kiến thức về phòng tránh thai cho các

em ngay từ khi còn nhỏ Từ đó, các em sẽ biết cách tự bảo vệ mình để không bị lạm dụng về tình dục cũng như mang thai ngoài ý muốn Tại Nhật, một quốc gia thường xuyên xảy ra động đất và các thảm họa thiên nhiên nên việc giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ được tiến hành từ bậc học mầm non với những trải nghiệm thực tế, những bài học tình huống mô phỏng như thực tế giúp trẻ biết cách tự bảo vệ mình Tại Hàn Quốc, học sinh tiểu học được học cách đối phó, thích ứng với các tai nạn như cháy, động đất, thiên tai [34] Ngoài ra còn có những chương trình được tổ chức bởi các doanh nghiệp - thường là các hãng sản xuất ô tô như Hyundai, KIA nhằm mục đích cung cấp cho học sinh các trường tiểu học những kỹ năng cần thiết nhất để tham gia giao thông một cách an toàn Được biết, chỉ trong 4 năm gần đây, ước tính riêng các chương trình của Hyundai đã có tới hơn 90.000 trẻ em tham gia

Và không chỉ vậy, những bài học về an toàn giao thông cũng được thực hiện thường xuyên trong trường

Bên cạnh các chương trình giáo dục bảo vệ bản thân, cũng có nhiều tác phẩm hữu ích hỗ trợ giáo dục trẻ biết BVBT, chẳng hạn: tuyển tập “Những câu chuyện vàng về khả năng tự bảo vệ mình” của tác giả Bạch Băng cùng các đồng tác giả [11] giúp trẻ nhận thức được tầm quan trọng của việc tự bảo vệ mình thông qua các câu chuyện diễn ra trong chính cuộc sống của trẻ nhỏ Với những câu chuyện được lấy

từ thực tế đời sống, bộ sách “Những câu chuyện vàng về khả năng tự bảo vệ mình” giúp các bé ở độ tuổi mầm non học cách tự bảo vệ bản thân trước những tai nạn bất ngờ, đề cập tới 60 tình huống an toàn và được chia thành 6 tập chính gồm các chủ đề: An toàn thân thể, an toàn ngoài xã hội, an toàn khi vui chơi, an toàn ở môi trường bên ngoài, an toàn trong cuộc sống, an toàn khi gặp thiên tai Trong mỗi tập, các bé sẽ thấy những trường hợp có thể xảy ra thường xuyên gây nguy hiểm cho mình như: nghịch lửa, sờ tay vào điện, mở cửa cho người lạ vào nhà, bị kẹt trong thang máy

Hay trong tác phẩm: “45 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình” của tác giả Yoon Yeo Hong [2] được nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông dịch và xuất bản năm 2011

Trang 22

đã trình bày đan xen giữa lý thuyết và thực hành, giúp trẻ nhận biết các mối nguy hiểm, nâng cao cảnh giác và bảo vệ an toàn cho chính mình cũng như hướng dẫn trẻ cách đối phó hoặc thoát khỏi nguy hiểm tạm thời Những tình huống trong sách rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày của trẻ Ngôn từ của sách dễ hiểu, cụ thể, không giáo điều, nhiều hình ảnh minh họa, rất phù hợp với trẻ em

Trong cuốn sách: “Protecting the Gift – Keeping Children and Teenagers Safe (and Parents Sane)” [20] (Giúp trẻ em và thiếu niên an toàn) của tác giả Gavin De Becker thuộc bản quyền của nhà xuất bản Dell, New York Cuốn sách chia sẻ cái nhìn sâu sắc, những giải pháp thiết thực giúp phụ huynh hướng dẫn trẻ biết tự bảo

vệ mình trước những tình huống nguy hiểm: Cha mẹ sẽ làm gì nếu con mình bị lạc nơi công cộng; làm thế nào để nhận diện một kẻ lạm dụng tình dục; làm thế nào để nhận biết con của mình bị lạm dụng tình dục; làm thế nào để cải thiện sự an toàn cho trẻ

Cuốn: “Raising the kids who can protect them self” (Nuôi dạy những đứa trẻ

có thể tự bảo vệ mình) của tác giả Debbie và Mike Gardnert thuộc bản quyền của công ty Mc Graw Hill, Mỹ [19] Hai tác giả đã chia sẻ cho chúng ta phương pháp dạy trẻ xác định và thoát khỏi những tình huống nguy hiểm; cách nhận dạng những đặc điểm vị trí thoát hiểm cụ thể từ sân chơi đến những nơi mua sắm; và trẻ làm thế nào có được những quyết định thông minh về sự bảo vệ an toàn cho bản thân khi không có người lớn bên cạnh Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên thế giới tác phẩm viết về giáo dục bảo vệ bản thân dành cho trẻ khá đa dạng

Như vậy, một số quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến việc giáo dục ý thức bảo vệ cho trẻ bản thân cho trẻ em từ lứa tuổi mầm non Những chương trình giáo dục này nhằm hình thành cho trẻ em ý thức và kỹ năng cơ bản giúp chúng thích ứng

và thành công trong cuộc sống tương lai

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, tự vệ là một trong những thuật ngữ được nhắc đến nhiều trong các câu chuyện giáo dục Với ý nghĩa quan trọng và cần thiết cho mọi người đặc biệt là trẻ em, nó trở thành vấn đề được cả ngành giáo dục

và xã hội quan tâm

Trang 23

Theo kết quả Điều tra Thương tích đa trung tâm của Việt Nam (Viet Nam Multi-Centre Injury Survey, 2001) [27], thương tích là nguyên nhân gây ra gần 75%

số trường hợp tử vong ở trẻ em trên một tuổi Các nguyên nhân chính bao gồm chết đuối, tai nạn giao thông, ngộ độc, thương tích do các vật nhọn, sắc gây ra và bỏng Hậu quả to lớn này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong việc nâng cao tỷ lệ sống ở trẻ em

Nhiều chương trình, dự án giáo dục tự vệ do các Tổ chức phi chính phủ phối hợp với Chính phủ Việt Nam đã được thực hiện như: dự án: “Giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn cho học sinh tiểu học” với mục tiêu tăng cường nhận thức nhằm giảm thiểu rủi ro bom mìn còn sót lại sau chiến tranh gây ra cho hơn 11.500 học sinh và hơn 10.000 người dân bị ảnh hưởng, đồng thời xây dựng năng lực giáo dục nguy cơ bom mìn cho gần 600 giáo viên của 22 trường học trên địa bàn huyện Duy Xuyên được tiến hành với sự phối hợp giữa sở giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Trị với Tổ chức Cứu trợ - phát triển Mỹ Cathilic Relief Services Dự án giúp các trường tiểu học trong khu vực tiếp nhận kỹ năng để thực hành và tuyên truyền các thông điệp giáo dục phòng tránh bom mìn và đối xử thân ái với người khuyết tật đến cộng đồng

Chương trình “Phòng tránh tai nạn thương tích” [28] do Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em phối hợp với Tổ chức UNICEF triển khai UNICEF mong muốn giảm thiểu các trường hợp thương tích ở trẻ em, thanh niên và phòng tránh khuyết tật liên quan tới thương tích bằng cách hỗ trợ Chính phủ trong các lĩnh vực chính sau đây: Nâng cao nhận thức của người dân và vận động sự tham gia của xã hội (bằng cách xây dựng một kế hoạch truyền thông toàn diện nhằm vào rất nhiều đối tượng, như các bậc cha mẹ), Áp dụng các kinh nghiệm, tập quán hay (mô hình này bao gồm các hoạt động như truyền thông thay đổi hành vi, phát triển kỹ năng và cải thiện môi trường nhằm mục tiêu xây dựng ngôi nhà an toàn cho trẻ em, ngôi trường an toàn cho trẻ em và cộng đồng an toàn, xác định các công cụ bảo vệ an toàn cho trẻ em có hiệu quả chi phí và kêu gọi đưa các công cụ này vào luật mới về

an toàn) UNICEF còn hỗ trợ Đoàn Thanh niên tổ chức các hoạt động hè cho trẻ em

Trang 24

và lứa tuổi vị thành niên, khắc phục tình trạng các bậc cha mẹ chưa quan tâm giám sát đầy đủ đối với con em mình Ở một số vùng triển khai dự án, trẻ em còn được học bơi và các kỹ năng cứu hộ - một trong những cách thức ngăn ngừa chết đuối hiệu quả nhất Ở những vùng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi bom mìn và các vật liệu nổ còn sót lại, hiện đang triển khai các hoạt động giáo dục về nguy cơ do bom mìn gây ra

Chương trình “Bạn hữu trẻ em” [27] Nội dung trọng tâm giai đoạn này của

dự án gồm bốn hợp phần: Xây dựng chính sách và quản lý xã hội nhằm thiết lập, thực hiện các biện pháp giám sát quyền của trẻ; bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ dễ bị tổn thương, xây dựng hệ thống tư pháp thân thiện với trẻ em; cung cấp các dịch vụ phát triển (dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh, bà mẹ trẻ em và trẻ sơ sinh); đảm bảo quyền được học tập của trẻ em, nhất là trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhóm trẻ

di cư được thực hiện trong khuôn khổ chương trình hợp tác quốc gia giữa Chính phủ Việt Nam và UNICEF giai đoạn 2010 - 2016 Đây là chương trình kết hợp các chương trình giáo dục, phát triển và sống còn của trẻ em, bảo vệ trẻ em và chính sách xã hội của UNICEF hỗ trợ cung cấp các dịch vụ lồng ghép cho trẻ em ở Đồng Tháp, Kon Tum, Ninh Thuận, Điện Biên, An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ, “Kỹ năng từ chối/ nói không” với những cám dỗ của cuộc sống; trang bị cho trẻ những kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ mình trước những nguy cơ như ma túy, lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao động, biết làm chủ chính mình, kỹ năng nhận thức và quản lý cảm xúc, kỹ năng điều hành sinh hoạt nhóm…

Về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã phối hợp với Ngành Công an, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia đưa ra “Chương trình giảng dạy thí điểm và tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu luật an toàn giao thông” cho trẻ em các trường từ mẫu giáo đến phổ thông trung học để trang bị những kiến thức ban đầu về luật giao thông

Bên cạnh các chương trình của chính phủ còn có một số tác phẩm của một số tác giả trong nước viết về giáo dục an toàn cho trẻ như: tác giả Huyền Linh [4] trong cuốn sách: “Cẩm nang tự vệ an toàn trong nhà” và “Cẩm nang tự vệ an toàn ra

Trang 25

ngoài” của nhà xuất bản Thanh niên, năm 2011 đã hướng dẫn trẻ rất chi tiết cách xử

lý các tình huống thiếu an toàn với bản thân Với những tình huống rất đa dạng và gần gũi với cuộc sống của trẻ nhỏ

Trong tác phẩm: “Cẩm nang tự vệ cho con bạn” và “Cẩm nang an toàn cho con bạn” của tác giả Lâm Trinh [8] do nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành năm 2011 đã đưa ra những cách giúp trẻ biết ứng phó trong những tình huống nguy hiểm, những hoàn cảnh thiếu an toàn

Trong bộ sách: “Tủ sách trường học an toàn” [12] của nhóm tác giả Nam Hồng, Dương Phong, Ngọc Lan của nhà xuất bản Đại học Sư phạm Bộ sách gồm 4 cuốn: Ngôi nhà an toàn cho trẻ, An toàn cho trẻ trên đường phố và nơi thiên nhiên,

An toàn cho trẻ trong cộng đồng xã hội, Sơ cấp cứu các loại tổn thương do tai nạn ở trẻ em Bộ sách giúp trẻ đối mặt có hiệu quả trước những nguy hiểm có thể xảy ra khi tự mình tiếp xúc với môi trường thiên nhiên và bên ngoài xã hội cũng như giúp trẻ biết rõ nguyên nhân của các tai nạn có thể xảy ra đối với trẻ ở nơi công cộng Cuốn sách “Giúp bé có kỹ năng nhận biết và phòng tránh một số nguy cơ không an toàn” của Vũ Thị Ngọc Minh - Nguyễn Thị Nga [5] bao gồm các tình huống nhằm cung cấp cho các bậc phụ huynh và giáo viên kiến thức về đặc điểm phát triển của trẻ trong các tình huống cụ thể Từ đó đưa ra những phương pháp giáo dục hiệu quả giúp bé tự nhận biết những nguy cơ không an toàn đối với bản thân trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày, để bé có ý thức phòng tránh phù hợp đảm bảo an toàn tính mạng

Tóm lại, trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến việc giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ em từ độ tuổi mầm non như: giáo dục giới tính, giáo dục về an toàn giao thông, trang bị các kỹ năng cơ bản về hỏa hoạn, động đất, thiên tai

Ở Việt Nam có khá nhiều chương trình vì sự an toàn của trẻ em Tuy nhiên, các chương trình chỉ dừng ở mức triển khai, chưa có đánh giá về việc thực hiện và tính hiệu quả từ các chương trình Mặt khác, đối tượng chủ yếu của các chương trình, dự án là học sinh tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và chưa thật

Trang 26

sự có nhiều chương trình, dự án dành cho trẻ mẫu giáo Trong chương trình học của bậc học mầm non chưa có nội dung giáo dục giới tính cho trẻ trong khi đó nạn ấu dâm và bạo hành ngày càng tăng

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Khái niệm giáo dục

Do đặc trưng của đề tài dành cho tuổi mẫu giáo nên đề tài sẽ dựa vào quan điểm của giáo dục học mầm non của một số tác giả như: Đinh Văn Vang [10], Phạm Thị Châu [1], Nguyễn Ánh Tuyết [6]

Theo đó, Giáo dục (nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục (nghĩa rộng), là hoạt động giáo dục nhằm hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị đạo đức, thấm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội Theo nghĩa này giáo dục bao gồm các bộ phận: đức dục, mỹ dục, thể dục, giáo dục lao động

Giáo dục (theo nghĩa rộng) là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người

Theo Nguyễn Ánh Tuyết, giáo dục dưới dạng chung nhất là sự chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào đời sống xã hội Có thể nói rằng, giáo dục đó là quá trình mà thế

hệ cha anh truyền lại kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho các thế hệ mới nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống và lao động để bảo đảm sự phát triển hơn nữa của xã hội và của cá nhân Như vậy, theo nghĩa rộng, nói đến giáo dục là nói đến sự tác động tới con người của toàn xã hội và của thực tiễn xung quanh Đối với trẻ thơ, giai đoạn đầu tiên của đời người (từ lọt lòng đến 6 tuổi) giáo dục nhằm phát triển các chức năng tâm lý, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người, chuẩn bị cho những giai đoạn phát triển sau được thuận lợi

Trong đề tài này, khái niệm giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng và được hiểu

theo nghĩa của giáo dục mầm non của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết: Giáo dục (theo

nghĩa rộng) là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách

Trang 27

có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm

xã hội của loài người

1.2.2 Khái niệm ý thức

Từ “ý thức” có thể được dùng với nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp Đề tài tiếp cận ý thức theo nghĩa hẹp dùng để chỉ một cấp độ đặc biệt trong tâm lý con người

Theo Nguyễn Quang Uẩn [9] (tr 76 – 77) “Ý thức là hình thức phản ánh tâm

lý cao nhất chỉ có ở người là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu được trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan”

Có thể ví ý thức như “cặp mắt thứ hai” SOI vào kết quả (các hình ảnh tâm lý) do “cặp mắt thứ nhất” (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, cảm xúc ) mang lại Với ý nghĩa đó ta có thể nói: “Ý thức là tồn tại được nhận thức”

A.G.Xpirkin [18] đưa ra định nghĩa về ý thức như sau: “Ý thức - đó là chức năng cao nhất của bộ óc, nó chỉ có ở con người và có liên quan với ngôn ngữ, chức năng này nằm trong sự phản ánh khái quát và có tính hướng đích rõ ràng đối với hiện thực trong việc xây dựng hành động có tính dự đoán trước những kết quả của

nó, trong sự điều chỉnh hợp lý và tự kiểm tra hành vi của con người”

Ý thức là trạng thái hay đặc tính của sự nhận thức, hoặc của việc nhận thức vật thể bên ngoài hay điều gì đó bên trong nội tại [22]

Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu: Ý thức là quá trình nhận thức của con người về thế giới xung quanh mình thông qua tư duy và ngôn ngữ, giúp con người hình thành hành vi Hành vi đó được con người lựa chọn, điều khiển và kiểm soát nhằm phục vụ bản thân, thể hiện bản thân

1.2.3 Khái niệm bảo vệ bản thân

1.2.3.1 Khái niệm “bảo vệ”

Theo từ điển tiếng Việt [17], bảo vệ là:

- Giữ gìn an toàn cho một cơ quan hay một nhân vật

- Bênh vực lý lẽ xác đáng

- Trình bày luận án của mình trước một hội đồng và giải đáp những lời phản

Trang 28

biện

1.2.3.2 Khái niệm “bản thân”

Bản thân chính là bản thân mình hay sự việc được nói đến [18]

1.2.3.3 Khái niệm bảo vệ bản thân

Nói đến thuật ngữ “bảo vệ bản thân” thông thường người ta thường liên tưởng đến việc một cá nhân nào đó có thể đang gặp nguy hiểm đe dọa đến sự an toàn, sinh mạng và họ phải nghĩ đến việc bảo vệ mình bằng cách thức nào đó chẳng hạn như: kêu cứu, võ thuật,… để chống trả, ứng phó với những tình huống đó

Theo Từ điển tiếng Việt về khái niệm “bảo vệ” và khái niệm “bản thân”, có thể hiểu “bảo vệ bản thân” là: che chở, tự bảo vệ lấy mình, tự mình giữ lấy mình, chống lại sự xâm hại của kẻ khác

Đồng nghĩa với khái niệm “bảo vệ bản thân” là khái niệm “giữ an toàn” Theo tác giả Yayne Dendhire [21], trong bộ sách Healthy Habits của nhà xuất bản giáo dục Macmillan, Úc đã đưa ra khái niệm về giữ an toàn (Safety) như sau: “Giữ an toàn là tránh khỏi những nguy hại, khỏi những mối nguy hiểm như bị tổn thương về thể xác hoặc tinh thần”

Như vậy “bảo vệ vệ bản thân”, “giữ an toàn” hay “tự bảo vệ” đều cùng mục đích là đem lại sự an toàn cho cá nhân nào đó

Vì vậy trong đề tài này, bảo vệ bản thân được hiểu là cách con người vận dụng những kiến thức, kỹ năng của mình để nhận diện các tình huống bất lợi, nguy hiểm có thể xảy ra, ứng phó để giữ cho bản thân được an toàn

Ý thức BVBT là nhận thức về sự an toàn của bản thân Từ đó có thể nhận diện các tình huống nguy hiểm sẽ gây hại cho chính mình trong cuộc sống và có hành vi ứng xử phù hợp giúp bản thân an toàn

1.2.4 Khái niệm trẻ mẫu giáo

Trẻ mẫu giáo là trẻ em trong độ tuổi từ 36 - 72 tháng tuổi (3-6 tuổi) [6] Trong

đề tài này trẻ Mẫu giáo hiểu theo bậc giáo dục mầm non

Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo nghĩa là giáo dục ý thức bảo

vệ bản thân cho trẻ ở giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi

Trang 29

Và như vậy, giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo được hiểu là quá trình giáo dục dưới sự tổ chức, hướng dẫn có mục đích của giáo viên nhằm giúp trẻ (3 - 6 tuổi) hình thành ý thức bảo vệ bản bản thân và dạy trẻ học cách nhận biết các hành động nguy hiểm đối với bản thân để có hành vi ứng xử phù hợp giúp bản thân an toàn

1.3 Một số vấn đề lý luận về ý thức

1.3.1 Cấu trúc của ý thức

Theo quan điểm tâm lý học [9] thì ý thức là một cấu trúc tâm lý phức tạp bao gồm nhiều mặt, là một chỉnh thể mang lại cho thế giới tâm hồn của con người một chất lượng mới Trong ý thức có ba mặt thống nhất hữu cơ với nhau, điều khiển hoạt động có ý thức của con người

ý thức nảy sinh và phát triển trong hoạt động Cấu trúc của hoạt động quy định cấu trúc của ý thức Vì thế nhu cầu, hứng thú, động cơ, ý chí đều có vị trí nhất định trong cấu trúc của ý thức

Theo quan điểm của nhà giáo dục học người Mĩ Bloom B.S (1956) được cải

Trang 30

tiến bởi Pohl, M (2000) thì nhận thức (ý thức) được chia làm 6 mức độ như sau:

1 Nhớ (Remembering)

Bao gồm việc người học có thể nhớ lại các điều đặc biệt hoặc tổng quát, trọn vẹn hoặc một phần các quá trình, các dạng thức, cấu trúc… đã được học Ở cấp độ này người học cần nhớ lại đúng điều được hỏi đến

Người học có khả năng chia các nội dung, các thông tin thành những phần nhỏ

để có thể chỉ ra các yếu tố, các mối liên hệ, các nguyên tắc cấu trúc của chúng

độ nhận thức cao nhất là khả năng đánh giá và khả năng sáng tạo

Như vậy, đề tài sẽ dựa vào 6 mức độ nhận thức: Nhớ, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Đánh giá, Sáng tạo để đánh giá ý thức tự bảo vệ bản thân của trẻ

Trang 31

1.3.2 Cấp độ ý thức, tự ý thức

Ở cấp độ ý thức [9], con người nhận thức, tỏ thái độ có chủ tâm và dự kiến

trước hành vi của mình, từ đó có thể kiểm soát và làm chủ hành vi - hành vi trở nên

Chủ thể nhận thức được về bản thân từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến

vị thế các quan hệ xã hội, trên cơ sở đó tự nhận xét, tự đánh giá

- Có thái độ rõ ràng với bản thân

- Tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác

- Chủ thể có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình

Đề tài này chủ yếu dựa vào cấp độ ý thức, tự ý thức để nghiên cứu ý thức BVBT của trẻ và giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo

1.3.3 Sự hình thành và phát triển ý thức cá nhân

Nhằm phục vụ cho công tác giáo dục con người, tâm lý học quan tâm nghiên cứu nhiều hơn đến sự hình thành ý thức và tự ý thức của cá nhân Việc xác định con đường và điều kiện hình thành và phát triển ý thức cá nhân tạo ra cơ sở khoa học cho công tác giáo dục con người Có 4 con đường hình thành ý thức:

a) Ý thức của cá nhân được hình thành trong hoạt động và thể hiện trong sản phẩm hoạt động của cá nhân

Trang 32

b) Ý thức của cá nhân được hình thành trong sự giao tiếp với người khác, với xã

1.4 Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo

Theo Nguyễn Bích Thủy [7], sự phát triển của trẻ mẫu giáo có những đặc điểm sau:

1.4.1 Đặc điểm phát triển trí nhớ của trẻ mẫu giáo:

Trong lứa tuổi mẫu giáo, trí nhớ trực quan hình tượng là chủ yếu, những tài liệu trực quan (sự vật và hình ảnh của nó) được trẻ ghi nhớ tốt hơn nhiều so với tài liệu ngôn ngữ Sự vật được trẻ nhớ lại, hình dung lại một cách sinh động, sáng tỏ như trẻ được tri giác lại sự vật đó một lần nữa

Đồng thời trí nhớ ngôn ngữ bắt đầu hình thành ở trẻ mẫu giáo Trẻ chỉ nhớ những từ cụ thể, không nhớ được những từ trừu tượng (vì trẻ không hiểu hết ý nghĩa của nó) Trong tài liệu ngôn ngữ, những gì được mô tả hình tượng, đặc biệt là mô tả

có tính chất diễn cảm được giữ lại trong trí nhớ tốt hơn nhiều (so với những lời mô

tả khô khan) Như những sự kiện nào đó trong câu chuyện nghệ thuật được diễn tả một cách sinh động, diễn cảm, đi sâu vào tình cảm trẻ ghi nhớ lâu hơn, nhưng khi

mô tả khô khan về những sự kiện ấy thì sẽ bị trẻ quên ngay lập tức

Trí nhớ vận động, rất quan trọng đối với trẻ nó tạo điều kiện cho trẻ học tập và lao động sau này Ở trẻ 4 - 6 tuổi đã hình thành một số kỹ xảo lao động tự phục vụ,

kỹ xảo thể dục (chạy, nhảy ), kỹ xảo học tập (cầm kéo, cắt dán, cầm bút vẽ)

Tóm lại: Khối lượng ghi nhớ, tính chính xác, tính bền vững, tính hệ thống của trí nhớ được tăng dần qua các độ tuổi và phụ thuộc vào tính chất của tài liệu, tính

Trang 33

tích cực hoạt động và các dạng hoạt động khác nhau Trí nhớ của trẻ được tiếp tục phát triển trong suốt tuổi đi học ở phổ thông Nhờ ảnh hưởng của việc học tập có hệ thống, trí nhớ có chủ định mới chỉ có mầm mống ở tuổi mẫu giáo sẽ được phát triển

ở mức độ cao, đồng thời các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa cũng được hoàn thiện dần

1.4.2 Đặc điểm chung của sự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo

Tư duy trực quan hành động: Đóng vai trò đáng kể, được phát triển và hoàn thiện dần ở mức độ cao hơn Trẻ 3 - 4 tuổi giải quyết nhiệm vụ bằng những hành động thử nghiệm, chỉ nhận ra kết quả sau khi hành động được thực hiện Trẻ 4 - 5 tuổi bắt đầu có suy nghĩ về nhiệm vụ và phương nháp giải quyết nhiệm vụ trong quá trình hành động

Hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp, đã nảy sinh ở trẻ những nhiệm vụ mới

mà kết quả hành động không phải là trực tiếp mà là gián tiếp Muốn đạt được kết quả cần phải tính đến mối liên hệ giữa hai hay nhiều hiện tượng đang diễn ra đồng thời hay liên tiếp nhau Việc giải quyết các nhiệm vụ này đòi hỏi phải chuyển dần từ phép thử bên ngoài sang phép thử thầm trong óc Mặt khác phạm vi hoạt động với hiện thực xung quanh ngày càng mở rộng gắn liền với sự hoàn thiện và phát triển ngôn ngữ, các biểu tượng, các kinh nghiệm khái quát của trẻ ngày càng phong phú Tất cả những điều đó tạo ra ở trẻ hình thức tư duy mới - tư duy trực quan hình tượng

Tư duy trực quan hình tượng: Là loại tư duy cơ bản của trẻ mẫu giáo (đặc biệt

là mẫu giáo nhỡ và lớn) Trẻ dùng những hành động bên trong là những hành động với hình tượng để giải quyết nhiệm vụ trí tuệ Nhờ có tư duy trực quan hình tượng

mà trẻ có khả năng dự kiến kết quả của hành động bên ngoài và lập kế hoạch hành động đó

Cuối tuổi mẫu giáo nhỡ đầu mẫu giáo lớn xuất hiện tư duy trực quan sơ đồ Là loại tư duy với hình ảnh trong óc nhưng hình ảnh này không phải là hình ảnh cụ thể của từng sự vật, hiện tượng mà là ký hiệu của sự vật, hiện tượng Thể hiện là trẻ hiểu được hình vẽ sơ đồ của các vật, biết dùng sơ đồ đường đi vẽ kiểu sơ đồ địa lý

để tìm đúng đường đi trong một hệ thống đường nhiều nhánh Đây là thành tựu lớn

Trang 34

trong sự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo, mở ra cho trẻ khả năng nhìn thấy mặt bản chất của sự vật, hiện tượng mà tư duy trực quan hình tượng không thấy được

Tư duy trừu tượng: Tuổi mẫu giáo xuất hiện tiền đề của tư duy trừu tượng rõ nhất ở mẫu giáo lớn, biểu hiện ở tư duy trực quan sơ đồ xuất hiện và trẻ biết dùng vật thay thế Sự hình thành tư duy trừu tượng là quá trình chuyển biến từ hình thức hành động bên trong với hình tượng sang hình thức hành động bên trong với ký hiệu (từ, số)

1.4.3 Đặc điểm phát triển tưởng tượng của trẻ mẫu giáo

Dưới ảnh hưởng của giáo dục, kinh nghiệm của trẻ được mở rộng, các hứng thú được nảy sinh, hoạt động của trẻ phức tạp hơn, tưởng tượng của trẻ tiếp tục phát triển trong suốt tuổi mẫu giáo cả về số lượng lẫn chất lượng, không chỉ giàu hơn mà còn có những nét mới mà tuổi trước không có

Đầu tuổi mẫu giáo tưởng tượng tái tạo là chủ yếu, trẻ có tính độc lập và tính sáng kiến, tưởng tượng không chủ định là chủ yếu Cái gì trẻ thích hoặc gây trẻ ấn tượng mạnh mẽ thì tưởng tượng cái đó - tức nó trở thành đối tượng của tưởng tượng

Vì vậy, tưởng tượng của trẻ đầu tuổi mẫu giáo thường không ổn định, không bền vững

Cuối tuổi mẫu giáo tưởng tượng sáng tạo bắt đầu hình thành và phát triển, tưởng tượng của trẻ có tính độc lập cao, có sáng kiến, thể hiện ở nội dung tranh vẽ của trẻ: phong phú đa dạng, nhiều vẻ Các câu chuyện tự kể của trẻ phong phú hơn,

đa dạng hơn Tưởng tượng có chủ định của trẻ bắt đầu được hình thành và phát triển trong quá trình phát triển các dạng hoạt động sáng tạo, khi nắm kỹ năng thiết kế và thực hiện ý đồ thiết kế Trẻ biết tưởng tượng theo mục đích, nhiệm vụ đặt ra cho hoạt động

1.4.4 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ:

* Sự phát triển vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp

Do trẻ không biết điều khiển bộ máy phát âm của mình và thính giác ngôn ngữ chưa phát triển đầy đủ, trẻ chưa biết cách phân tích các từ thành những âm

Trang 35

thành phần và xác định trình tự âm nên khả năng phát âm của trẻ còn hạn chế, trẻ 3

- 4 tuổi phát âm chưa thành thạo, nhờ ảnh hưởng của công tác giáo dục trẻ nắm được cách phát âm các âm thanh đúng hơn Trẻ có thể phát âm khá chính xác các nguyên âm đơn, nguyên âm đôi thì đến cuối tuổi mẫu giáo mới phát âm chính xác Trẻ hay thay đổi nguyên âm đôi thành nguyên âm đơn Đến cuối 5 tuổi trẻ mới nắm được đầy đủ cơ bản hệ thống ngữ âm của tiếng mẹ đẻ

- Ngữ pháp: Trẻ mẫu giáo biết nói đúng tiếng mẹ đẻ ở mức phổ thông Cấu trúc ngữ pháp tiến dần tới chỗ hoàn thiện Trẻ 3 - 6 tuổi đã có đủ các loại câu, nhưng chủ yếu là câu đơn (đặc biệt là mẫu giáo bé) Trẻ 4 - 5 tuổi bắt đầu sử dụng câu phức

* Sự phát triển các chức năng ngôn ngữ

Một trong những chức năng cơ bản nhất của ngôn ngữ được phát triển ở tuổi mẫu giáo là chức năng giao lưu, ngôn ngữ trở thành phương tiện giao lưu Trẻ mẫu giáo bé vẫn sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu, ngôn ngữ gắn với tình huống

cụ thể những người giao tiếp với trẻ trong tình huống đó mới hiểu được, những người ngoài cuộc không nắm được tình huống thì không thể hiểu nổi

Ngôn ngữ và tư duy: Ở tuổi mẫu giáo nhờ ngôn ngữ của trẻ đã hòa nhập với

tư duy nên ngôn ngữ của trẻ đã biến thành phương tiện đặt kế hoạch và điều chỉnh hành vi thực tiễn của trẻ

Ở đầu tuổi mẫu giáo ngôn ngữ mình là trung tâm tức là ngôn ngữ xuất hiện trong lúc trẻ hoạt động và nói với chính mình Trong suốt tuổi mẫu giáo ngôn ngữ mình là trung tâm biến đổi dần, ngôn ngữ của trẻ không chỉ xác nhận những điều trẻ đang làm mà còn chuẩn bị và định hướng cho hoạt động thực tiễn của trẻ, nó diễn đạt tư duy hình tượng của trẻ, tư duy này xuất hiện trước hành động thực tiễn Đến tuổi mẫu giáo lớn, ngôn ngữ mình là trung tâm chuyển vào bên trong, biến thành ngôn ngữ bên trong Nếu trong lúc làm việc, trẻ không giao tiếp với ai thì trẻ thường

im lặng làm việc, có nghĩa là ngôn ngữ vẫn giữ chức năng "đặt kế hoạch" thầm ở trong đầu

Trang 36

1.5 Giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo

1.5.1 Nội dung giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo

Theo Chương trình giáo dục mầm non và Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi [13], nội dung giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo bao gồm:

Trẻ từ 3 đến 4 tuổi:

1 Tránh một số vật dụng nguy hiểm (bàn là, bếp đang đun, phích nước nóng…) khi được nhắc nhở

2 Không tự lấy thuốc uống

3 Không leo trèo bàn ghế, lan can

4 Không nghịch các vật sắc nhọn

5 Nhận biết, bảo vệ vùng nhạy cảm trên cơ thể

Trẻ từ 4 – 5 tuổi:

1 Nhận ra chỗ nguy hiểm không chơi gần: lửa, ổ điện, chỗ trơn trượt

2 Biết nhờ người lớn giúp đỡ khi bị lạc

3 Biết bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm hại của người khác, tránh xa người lạ

4 Biết báo với người lớn hoặc kêu cứu khi bị bạo hành

Trẻ từ 5 – 6 tuổi:

1 Không đi theo, không nhận quà của người lạ khi chưa được người thân cho phép

2 Biết kêu cứu và chạy ra khỏi nơi nguy hiểm (bị bạo hành, bị thương, gặp nguy hiểm khác…)

3 Biết một số biển báo giao thông cơ bản và có một số hành vi chấp hành luật giao thông

4 Trẻ biết tránh các hành vi xâm hại cơ bản và báo động cho người khác biết khi bị xâm hại (5 báo động)

5 Biết cách chơi an toàn đối với bản thân

Đề tài dựa vào các nội dung này để nghiên cứu GD ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo tại Trường Mầm non Vành Khuyên, quận Thủ Đức

1.5.2 Con đường giáo dục dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo

Con đường giáo dục là những hoạt động cơ bản được tổ chức với sự tham gia

Trang 37

tự giác, tích cực và sáng tạo của học sinh dưới sự tác động chủ đạo của nhà giáo dục, nhằm hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục đích, nhiệm vụ giáo dục [3]

Đối với lứa tuổi mầm non, con đường giáo dục khác với bậc học phổ thông Theo chương trình giáo dục mầm non (trang 59), giáo dục trẻ mẫu giáo thông qua các hoạt động:

* Hoạt động học: Hoạt động học được tổ chức có chủ định theo kế hoạch dưới

sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Hoạt động học ở mẫu giáo được tổ chức chủ yếu dưới hình thức chơi

Giờ học: thông qua các hoạt động phát triển nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, thẩm mĩ giáo viên giáo dục ý thức bảo vệ bản thân

* Hoạt động chơi: Là hoạt động chủ đạo của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo Thông qua các trò chơi như trò chơi vận động, trò chơi đóng vai, trò chơi học tập, trò chơi khám phá thí nghiệm, trò chơi xây dựng, trò chơi đóng kịch… trẻ được tham gia và thông qua đó giáo viên giáo dục ý thức bảo vệ bản thân trong quá trình thực hiện công việc, ứng phó với những thay đổi và những tình huống nguy hiểm trong hoạt động Trẻ có thể chơi với các trò chơi cơ bản sau:

+ Trò chơi đóng vai theo chủ đề

+ Trò chơi ghép hình, lắp ráp, xây dựng

+ Trò chơi đóng kịch

+ Trò chơi học tập

+ Trò chơi vận động

+ Trò chơi dân gian

+ Trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại

+ Các buổi tham quan, dã ngoại

+ Tổ chức diễn đàn trao đổi giữa giáo viên và phụ huynh

* Hoạt động lao động: Hoạt động lao động đối với trẻ lứa tuổi mẫu giáo không nhằm tạo ra sản phẩm vật chất mà được sử dụng như một phương tiện giáo dục Hoạt động lao động gồm: lao động tự phục vụ, lao động trực nhật, lao động tập thể

Trang 38

* Hoạt động ăn ngủ, vệ sinh cá nhân: Đây là các hoạt động nhằm hình thành một số nề nếp, thói quen trong sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu sinh lý của trẻ, tạo cho trẻ trạng thái thoải mái, vui vẻ

Muốn trẻ có ý thức BVBT thì phải giáo dục bằng các con đường, cách thức, hình thức khác nhau nhưng phải phù hợp với độ tuổi Tuy nhiên, cần phải kết hợp với việc giáo dục ý thức với kỹ năng, giáo dục nhận thức kết hợp luyện tập thường xuyên vì trẻ mầm non thường học các hành vi thông qua việc bắt chước, nhập tâm, qua luyện tập thực hiện hằng ngày, lâu dần trở thành thói quen

1.5.3 Phương pháp giáo dục dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo

Theo chương trình giáo dục mầm non (tr.60) thì phương pháp giáo dục trẻ MG gồm các nhóm phương pháp đặc thù sau:

* Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm

- Phương pháp thực hành thao tác với đồ vật, đồ chơi: Trẻ sử dụng và phối hợp các giác quan, làm theo sự chỉ dẫn của giáo viên, hành động đối với các đồ vật,

đồ chơi (cầm, nắm, sờ, đóng mở, xếp chồng, xếp cạnh nhau, xâu vào nhau, ) để phát triển giác quan và rèn luyện thao tác tư duy

- Phương pháp dùng trò chơi: sử dụng các loại trò chơi với các yếu tố chơi phù hợp để kích thích trẻ tự nguyện, hứng thú hoạt động tích cực giải quyết nhiệm vụ nhận thức, nhiệm vụ giáo dục đặt ra

- Phương pháp nêu tình huống có vấn đề: Đưa ra các tình huống cụ thể nhằm kích thích trẻ tìm tòi, suy nghĩ dựa trên vốn kinh nghiệm để giải quyết vấn đề đặt ra

- Phương pháp luyện tập: Trẻ thực hành lặp đi lặp lại các động tác, lời nói,

cử chỉ, điệu bộ theo yêu cầu của giáo viên nhằm củng cố kiến thức và kỹ năng đã được thu nhận

* Nhóm phương pháp trực quan - minh họa (quan sát, làm mẫu, minh hoạ)

- Phương pháp này cho trẻ quan sát, tiếp xúc, giao tiếp với các đối tượng, phương tiện (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh); hành động mẫu; hình ảnh tự nhiên, mô hình, sơ đồ và phương tiện nghe nhìn (phim vô tuyến, đài, máy ghi âm, điện thoại, máy vi tính) thông qua sử dụng các giác quan kết hợp với lời nói nhằm tăng cường

Trang 39

vốn hiểu biết, phát triển tư duy và ngôn ngữ của trẻ

- Phương pháp dùng lời nói

Là phương pháp sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (đàm thoại, trò chuyện, kể chuyện, giải thích) nhằm truyền đạt và giúp trẻ thu nhận thông tin, kích thích trẻ suy nghĩ, chia sẻ ý tưởng, bộc lộ những cảm xúc, gợi nhớ những hình ảnh và sự kiện bằng lời nói Lời nói, câu hỏi của giáo viên cần ngắn gọn, cụ thể, gần với kinh nghiệm

sống của trẻ

* Nhóm phương pháp giáo dục bằng tình cảm và khích lệ

Phương pháp dùng cử chỉ điệu bộ kết hợp với lời nói thích hợp để khuyến khích

và ủng hộ trẻ hoạt động nhằm khơi gợi niềm vui, tạo niềm tin, cổ vũ sự cố gắng của trẻ trong quá trình hoạt động

* Nhóm phương pháp nêu gương - đánh giá

+ Nêu gương là sử dụng các hình thức khen, chê phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ Biểu dương trẻ là chính, nhưng không lạm dụng

+ Đánh giá thể hiện thái độ đồng tình hoặc chưa đồng tình của người lớn, của bạn bè trước việc làm, hành vi, cử chỉ của trẻ Từ đó đưa ra nhận xét, tự nhận xét trong từng tình huống hoặc hoàn cảnh cụ thể Không sử dụng các hình phạt làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm - sinh lý của trẻ

Qua tìm hiểu các phương pháp giáo dục, đề tài sẽ kết hợp các nhóm phương pháp giáo dục nhưng chủ yếu sử dụng nhóm phương pháp thực hành trải nghiệm và phương pháp trực quan - minh họa trong nghiên cứu giáo dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo tại Trường Mầm non Vành Khuyên

1.5.4 Hình thức giáo dục dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo

Cũng theo chương trình giáo dục mầm non, hình thức giáo dục trẻ mẫu giáo được chia theo mục đích, nội dung, vị trí không gian, khối lượng trẻ, cụ thể như sau:

 Theo mục đích và nội dung giáo dục, có các hình thức:

- Tổ chức hoạt động có chủ định của giáo viên và theo ý thích của trẻ

- Tổ chức lễ, hội: Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ hội, các sự kiện quan trọng trong

Trang 40

năm liên quan đến trẻ có ý nghĩa giáo dục và mang lại niềm vui cho trẻ: Tết Trung thu, Ngày hội đến trường, Tết cổ truyền, sinh nhật của trẻ, Ngày hội của các bà, các mẹ, các cô, các bạn gái (8/3), Tết thiếu nhi (ngày 1/6), Ngày ra trường

 Theo vị trí không gian, có các hình thức:

Trong đề tài này giáo dục ý thức bảo vệ bản thân cho trẻ chủ yếu theo hình thức số lượng trẻ và theo vị trí không gian và phối hợp với các hình thức khác

1.5.5 Nguyên tắc giáo dục dục ý thức BVBT cho trẻ mẫu giáo

Nguyên tắc giáo dục mẫu giáo là những luận điểm cơ bản có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục nhằm đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của ngành học mầm non [1]

Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo, tác giả Đinh Văn Vang [10] đã đưa ra các nguyên tắc giáo dục sau:

- Nguyên tắc bảo đảm tính mục đích Trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, giáo

Ngày đăng: 08/12/2022, 17:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w