1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá học phần “Thiết kế đồ họa ở trường Tiểu học” ngành Giáo dục tiểu học – Khoa Sư phạm

10 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá học phần “Thiết kế đồ họa ở trường Tiểu học” ngành Giáo dục tiểu học – Khoa Sư phạm
Tác giả ThS. Nguyễn Thị Mai Anh, ThS. Đỗ Thị Duyên
Trường học Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Nghiên cứu đề xuất
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá học phần “Thiết kế đồ họa ở trường Tiểu học” ngành Giáo dục tiểu học – Khoa Sư phạm đề xuất một số đổi mới hình thức đánh giá năng lực học tập học phần “Thiết kế đồ họa ở trường Tiểu học” cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học – Khoa Sư phạm. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC – KHOA SƯ PHẠM

ThS Nguyễn Thị Mai Anh, ThS Đỗ Thị Duyên* 1

Tóm tắt: Đánh giá năng lực học tập của sinh viên là nhiệm vụ không thể tách rời của quá trình giáo dục và đào tạo ở trường Đại

học Quá trình này giúp đánh giá, so sánh, đối chiếu kiến thức, kỹ năng, thái độ thực tế đạt được của người học với các kết quả mong đợi đã xác định trong mục tiêu dạy học Tuy nhiên, quá trình dạy - học luôn đặt ra những tình huống mới, đòi hỏi sự cập nhật

về nội dung, thay đổi về phương pháp, từ đó dẫn tới việc đổi mới hình thức kiểm tra để quá trình học tập được đánh giá một cách chính xác và minh bạch Trong nội dung bài viết, nhóm tác giả sẽ đề xuất một số đổi mới hình thức đánh giá năng lực học tập học phần “Thiết kế đồ hoạ ở trường Tiểu học” cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học – Khoa Sư phạm.

Từ khóa: Đánh giá năng lực, thiết kế đồ hoạ, Tiểu học.

1 MỞ ĐẦU

Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học là công việc thường xuyên trong quy trình đào tạo sinh viên, là một bộ phận quan trọng, không thể tách rời quá trình dạy học, là xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại, có ý nghĩa quan trọng đối với cả người dạy lẫn người học Trong quá trình đào tạo đại học, kết quả mà sinh viên đạt được là

cơ sở quan trọng để đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo ở đại học Đánh giá kết quả học tập thực chất chính là sự đánh giá năng lực của người học, là sự so sánh, đối chiếu kiến thức, kỹ năng, thái độ thực tế đạt được ở người học với các kết quả mong đợi đã xác định trong mục tiêu dạy học

Học phần “Thiết kế đồ họa ở trường Tiểu học” là một học phần mang tính thực hành cao, sẽ giúp sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học tiếp cận và ứng dụng cho quá trình học tập và giảng dạy sau khi ra trường Trong quá trình kiểm tra, đánh giá xuyên suốt học phần, chính giảng viên bộ môn đã gặp những khó khăn nhất định để có được kết quả chính xác, khách quan nhất do quá trình dạy và học luôn đặt ra những tình huống mới

* Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.

Trang 2

2 NỘI DUNG

2.1 Khái quát học phần “Thiết kế đồ họa ở trường Tiểu học”

Học phần “Thiết kế đồ hoạ ở trường Tiểu học” dạy cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học có thời lượng 2 tín chỉ Học phần cung cấp kiến thức cơ bản về phần mềm thiết

kế đồ hoạ Adobe Ilusstrator (Ai), sinh viên làm chủ các công cụ thiết kế và thực hành những bài tập sáng tạo, nâng cao kỹ năng sử dụng phần mềm đồ họa Sinh viên biết vận dụng kiến thức, kỹ năng đồ họa hướng dẫn học sinh tiểu học thực hiện những thao tác thiết kế cơ bản trên máy tính Với việc sử dụng công cụ thiết kế AI, sinh viên tạo ra các sản phẩm đồ họa ứng dụng phục vụ trực tiếp cho quá trình học tập và sau khi ra trường

Từ những công cụ thiết kế đã học được sinh viên có thể chủ động thiết kế các sản phẩm như giao diện ppt bài giảng, thẻ tích điểm học tập, thiết kế nhân vật hoạt hình…

Hình 1 Nội dung học phần và thời điểm kiểm tra, đánh giá

Học phần “Thiết kế đồ họa ở trường Tiểu học” được giảng dạy trong 45 tiết, với 3 chương Chương 1: Giới thiệu về phần mềm Adobe Ilusstrator Ở chương này giáo viên giới thiệu về phần mềm đồ họa, cách cài đặt chương trình vào máy tính cá nhân, các nguyên tắc sử dụng và ứng dụng tạo được bởi phần mềm Sinh viên phân

Trang 3

biệt được Illustrator với các phần mềm đồ họa khác Chương 2: Sử dụng dụng các công cụ trong Ilusstrator, sinh viên sẽ được hướng dẫn cụ thể từng công cụ tạo hình, cách sử dụng, các vấn đề thường gặp phải và các thao tác ứng dụng trong thiết kế Chương 3: Thực hành sử dụng phần mềm thiết kế đồ họa Ilusstrator Với các bài tập

từ đơn giản đến phức tạp, sinh viên dần tiến tới việc tạo ra các sản phẩm thiết kế mang dấu ấn cá nhân Nội dung bài tập sẽ hướng đến các sản phẩm trong dạy học Tiểu học là chính như phiếu bài tập các môn học, mô hình lịch sử, poster môn học, baner họp phụ huynh…

Cả quá trình học, giáo viên đánh giá sinh viên bằng 3 bài kiểm tra Điểm tổng kết môn là điểm trung bình của 3 bài kiểm tra với nội dung chủ yếu là thực hành

Hình 2 Các sản phẩm đã được đưa vào sử dụng của sinh viên sau khi kết thúc học

phần Thiết kế đồ họa cơ bản ở trường Tiểu học

Trong quá trình học tập tại Khoa Sư phạm, sinh viên được tham gia các hoạt động có ý nghĩa, và các em đã tham gia thiết kế để phục vụ truyền thông cho các hoạt động của khoa và nhà trường Các sản phẩm đều đạt được hiệu quả về mặt thẩm

mỹ, bố cục rõ ràng, hình ảnh đẹp mắt, thu hút, màu sắc có chủ kiến, không rườm rà, ngôn từ ngắn gọn, súc tích, đầy đủ nội dung truyền đạt Bên cạnh các sản phẩm phục

vụ in ấn trong các hoạt động như ma két, giấy mời, baner, sinh viên còn chủ động thiết kế giao diện page của các câu lạc bộ, hội nhóm trong trường, các sản phẩm thị giác trên Internet…

Với việc làm chủ công cụ thiết kế đồ họa, sinh viên có thể chủ động tạo ra các sản phẩm phục vụ cho bản thân và cho nghề nghiệp của mình như: tạo ra profile xin việc sáng tạo của cá nhân mình, tạo các baner, các maket trang trí trong lớp học của mình, thiết kế các sản phẩm bài tập cho học sinh bằng hình ảnh đẹp mắt, vui nhộn, gây hứng thú cho học sinh Tiểu học

Trang 4

Hình 3 Sản phẩm của sinh viên sau khi ra trường 2.2 Kiểm tra đánh giá sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học ở học phần “Thiết kế đồ họa cơ bản ở trường Tiểu học”

2.2.1 Một số vấn đề về kiểm tra – đánh giá

Kiểm tra, đánh giá trong giáo dục không phải là ý tưởng mới, mà đã được sử dụng lâu đời ít nhất là từ năm 589 trước Công nguyên khi các nhà nghiên cứu tin rằng các bài kiểm tra giáo dục đã được sử dụng ở Trung Quốc bởi các vị hoàng đế nhà Chu dùng để kiểm tra kiến thức Nho giáo của các ứng viên thi vào các chức quan trong triều Trải qua nhiều thế kỉ, nhiều quan điểm khác nhau về kiểm tra, đánh giá đã xuất hiện, ví dụ như Lloyd-Jones và Bray (1986) cho rằng kiểm tra, đánh giá (KT, ĐG) thường bị “đánh đồng” với các bài KT và các kì thi nhưng KT, ĐG là một thuật ngữ bao quát, bao gồm tất cả những tình huống mà trong đó việc đo lường một số khía cạnh liên quan của việc giáo dục người học được thực hiện, có thể bởi người dạy, người chấm thi, hay thậm chí là bởi chính người học [3] Tương tự, Statterly (1989) khẳng định KT, ĐG bao gồm tất cả các quy trình và công cụ mô tả nội dung cũng như mức độ kết quả học tập của người học [4] Như vậy, KT, ĐG trong lớp học “bao gồm tất cả cách thức người dạy thu thập và sử dụng thông tin trong lớp của mình, bao gồm các loại thông tin định tính, thông tin định lượng thu thập được trong quá trình giảng dạy trên lớp học nhằm đưa ra những phán xét, nhận định quyết định”, giúp người dạy hiểu được mức độ kết quả và chất lượng dạy và học, để từ đó điều chỉnh, phân loại, xếp hạng, báo cáo cho phụ huynh và xã hội [5]

KT, ĐG trong giáo dục có ba vai trò quan trọng: là một thành tố quan trọng trong nghiên cứu lí luận dạy học cùng với xây dựng mục tiêu, thiết kế nội dung, tổ chức hoạt động dạy - học; là công cụ hành nghề quan trọng của người dạy, giúp người dạy xác định được sự thay đổi của người học thông qua quá trình dạy học để đạt được mục

Trang 5

tiêu giáo dục; là một bộ phận quan trọng của quản lí giáo dục, quản lí chất lượng dạy

và học [5]

Có nhiều cách phân loại các hình thức KT, ĐG trong giáo dục dựa vào các đặc điểm như quy mô, vị trí của người ĐG, đặc tính của câu hỏi, tính chất thường xuyên hay thời điểm hoặc tính chất quy chiếu của mục tiêu ĐG Một số loại hình KT, ĐG trong giáo dục bao gồm:

- ĐG tổng kết

- ĐG quá trình

- ĐG chính thức

- ĐG không chính thức

- ĐG truyền thống

- ĐG xác thực

Hình thức KT, ĐG được người dạy lựa chọn tùy theo mục đích giáo dục (phân loại, lên kế hoạch và tiến hành giảng dạy, phản hồi và khích lệ, phán đoán, xếp hạng); mục tiêu giáo dục về lĩnh vực nhận thức (nắm vững kiến thức), lĩnh vực kĩ năng (yêu cầu người học có năng lực thể hiện một hành vi cụ thể) và lĩnh vực tình cảm - thái độ (động cơ của người học)

Đối với học phần “Thiết kế đồ họa cơ bản ở trường Tiểu học”, chúng tôi đã sử dụng hình thức ĐG tổng kết, ĐG chính thức và ĐG truyền thống, tuy nhiên, qua quá trình giảng dạy từ năm 2016 tới nay, việc KT, ĐG này đã bộc lộ nhiều vấn đề cần khắc phục

2.2.2 Thực trạng kiểm tra đánh giá học phần “Thiết kế đồ họa cơ bản ở trường Tiểu học” của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học – Khoa Sư phạm

Học phần có bài kiểm tra đánh giá, thời điểm kiểm tra là cuối mỗi chương với

nội dung như sau:

- Chương 1:

• Hình thức: Các nhóm đọc tài liệu, chia sẻ kiến thức trên lớp, hướng dẫn các bạn thực hành thao tác với phần mềm Adobe Illustrator

• Yêu cầu: Sinh viên thao tác thành thạo

- Chương 2: Kiểm tra việc tìm kiếm, xử lý, thao tác các công cụ trên máy tính

từ phần mềm Illustrator

• Hình thức: Đánh giá thông qua chất lượng bài thực hành, cách thao tác, sử dụng công cụ của phần mềm

• Yêu cầu: Nhóm đôi sinh viên tự đọc tư liệu, tập thao tác, sử dụng theo các tiêu chí được đưa ra

- Chương 3: Kiểm tra việc thiết kế một sản phẩm đồ họa cụ thể theo yêu cầu

của giảng viên

Trang 6

• Hình thức: Báo cáo trước lớp, trình bày thao tác, thực hành thao tác.

• Yêu cầu: Vận dụng được thành thạo và thích hợp các công cụ trong phần mềm Thao tác hợp lý, sản phẩm chất lượng, thẩm mĩ, mang tính sáng tạo

Về cơ bản sinh viên đều khá hứng thú với môn học bởi các em ý thức được những lợi ích khi bản thân có thể sử dụng phần mềm đồ họa để thiết kế và tạo ra các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng trong các bài dạy, các sản phẩm học tập của bản thân, đặc biệt rất có ích khi công tác tại các trường phổ thông Những yêu cầu về việc chuẩn bị tài liệu cũng như thực hành sản phẩm tại lớp đều được sinh viên tiến hành nghiêm túc, tích cực

Tuy nhiên trong nội dung học phần hiện nay, về mặt kiểm tra đánh giá, GV vẫn thiên về kiểm tra đánh giá mức độ tiếp thu và vận dụng kiến thức của người học thông qua chủ quan đánh giá của người dạy, hầu hết chỉ tập trung vào việc giáo viên đánh giá sinh viên chứ chưa tạo nhiều điều kiện cho sinh viên tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau Trong suốt 12 tuần học tập, số lượng kiến thức tiếp thu và sản phẩm thực hành của sinh viên khá nhiều Những sản phẩm được giáo viên gia hạn thời gian và sinh viên chủ động nộp bài cho GV qua email, nội dung bài tập của từng sinh viên chỉ một mình giáo viên nắm được mà chưa có sự giao lưu cũng như trao đổi giữa sinh viên với nhau Việc nhận xét cho từng sản phẩm công khai và rõ ràng còn hạn chế Rất cần một kênh học tập, chia sẻ để sinh viên quan sát được tổng thể sản phẩm của sinh viên khác, từ đó phân tích và so sánh sản phẩm của bản thân với của người khác Thông qua nhận xét của giáo viên bộ môn, sinh viên sẽ nhận thức được ưu, khuyết điểm trong các sản phẩm và thay đổi, làm tốt hơn trong những bài tập tiếp theo

Một thực tế nữa trong đánh giá học phần này đó là: giảng viên chủ yếu đánh giá sinh viên dựa trên sản phẩm thực hành Có những sản phẩm thực hiện trên lớp, có những sản phẩm có gia hạn thời gian nhiều hơn nên dẫn đến sinh viên đặt trọng tâm nhiều vào các bài thực hành mà quên đi phần lý thuyết thao tác công cụ Sinh viên chủ quan cho rằng GV sẽ không kiểm tra lý thuyết vấn đáp nên không quan tâm nhiều, bài thực hành nhiều hay ít thời gian, một số sinh viên đã tìm cách liên hệ với những bạn

bè có chuyên môn thiết kế để mượn hoặc thuê làm hộ dẫn đến chất lượng không đồng đều về mặt sản phẩm, gây nhiều bức xúc trong tập thể lớp Đối với học phần này, giáo viên cần có sự thay đổi về mặt hình thức kiểm tra, đa dạng hơn trong nội dung kiểm tra cả về mặt lý thuyết và thực hành

Trong quá trình học tập, không thể tránh khỏi tình trạng học tập không đồng đều giữa các sinh viên Nhiều nhóm sinh viên rất nỗ lực học tập, nhiều nhóm chỉ làm bài thực hành cho có Điều này có thể từ việc GV ra nhiệm vụ chưa thực sự kích thích, động viên được sinh viên nỗ lực học tập, hoặc cách ra đề quá khó làm cho sinh viên

có suy nghĩ chán nản, không thỏa mãn, kém nỗ lực phấn đấu Với cùng một đề bài, có

Trang 7

những sinh viên dành thời gian, công sức để suy nghĩ, tìm ra cách trình bày phù hợp, nội dung đặc sắc… nhưng cũng có những em chỉ làm cho có cho xong Có thể phân tích dựa vào bài tập sau của sinh viên khóa D2017

Cùng một yêu cầu nội dung trong bài tập thiết kế “Phiếu bài tập môn Tự nhiên và

Xã hội” nhưng mỗi sinh viên có cách thể hiện sản phẩm khác nhau Về mặt bố cục, bài 1 chưa nêu được nội dung trọng tâm của sản phẩm Các yếu tố tạo hình rời rạc, lắt nhắt, thông tin cảm quan về mặt thị giác bị dàn trải, thiếu điểm nhấn Màu sắc chưa chú trọng sự ăn nhập giữa phần hình và phần chữ, mảng màu chính bị chìm so với những mảng phụ dẫn đến nội dung không được chú ý, không gây được hứng thú cho người xem Sự sáng tạo trong thiết kế sản phẩm chưa cao dẫn đến nhàm chán cả về nội dung lẫn hình thức Ở bài 2, sản phẩm có nhiều ưu điểm hơn khi thể hiện được rõ các mảng bố cục trọng tâm, có nhấn mạnh đủ 3 yếu tố: chủ đề, hình minh họa và nội dung bài tập Sự sắp xếp có chọn lọc và có ý đồ làm lực thị giác phát huy tác dụng cao nhất Hình minh họa vừa đủ để không che lấp nội dung chính là bài tập Tự nhiên

và Xã hội, các mảng nội dung được chia vị trí rõ ràng, rành mạch Màu sắc tươi sáng phù hợp với tâm lý của học sinh Tiểu học, hình minh họa cũng đều là những hình vẽ gây thích thú cho học sinh, sát với bài tập cụ thể được đưa ra Ý tưởng thẩm mỹ ở bài

2 thể hiện rõ hơn và chất lượng hơn cả về nội dung lẫn hình thức

Thông thường môn Thiết kế đồ họa là môn học không tổ chức thi, điểm thành phần của sinh viên được tính bằng điểm trung bình của 3 đến 4 bài kiểm tra trên lớp

Có một thực tế, đây là môn không thi nên sinh viên có phần lơ là, chỉ đến khi có bài kiểm tra mới cố gắng thực hiện Hơn 12 tuần học tập, lượng bài thực hành của sinh viên khá nhiều, để nâng cao tinh thần học tập, đồng thời đánh giá được đúng năng lực học tập của sinh viên, ở mỗi bài kiểm tra, giảng viên cần trực tiếp đánh giá trên lớp,

Trang 8

kết luận điểm số, thông báo năng lực và cảnh cáo ý thức học tập của sinh viên Có như vậy, theo từng tuần học tập, sinh viên luôn cố gắng nâng cao chất lượng bài thực hành, đạt kết quả khả quan trong môn học thực hành không thi

2.2.3 Đề xuất đổi mới hình thức kiểm tra đánh gia học phần “Thiết kế đồ họa cơ bản ở trường Tiểu học” dành cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học – Khoa Sư phạm

Với những bất cập như đã kể đến trong phần thực trạng kiểm tra đánh giá của học phần “Thiết kế đồ họa ở trường Tiểu học”, rất cần sự đổi mới về hình thức kiểm tra đánh giá để việc học thật, thi thật đạt chất lượng cao, đúng với năng lực của sinh viên Các bài kiểm tra, đánh giá học phần “Thiết kế đồ họa cơ bản ở trường Tiểu học” được tiến hành rải đều trong toàn bộ quá trình học, trọng số điểm đối mới mỗi bài kiểm tra tương đối đồng đều, song việc đánh giá luôn là công việc của người dạy Trong thời gian giãn cách xã hội, việc học tập cũng như kiểm tra, đánh giá lại càng gặp khó khăn khi sinh viên không đến trường Trong thời gian này, chúng tôi giảng dạy qua ứng dụng Office 365 Teams - giúp thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang học tập trực tuyến hoặc kết hợp toàn bộ, tạo sự tự tin với các công cụ học tập từ xa và duy trì sự tham gia của sinh viên Qua đó, chúng tôi chia sẻ trực tuyến các video ghi lại thao tác sử dụng các phần mềm thiết kế đồ họa, giải đáp thắc mắc, đồng thời, các nhiệm vụ học tập được giao cho sinh viên được quản lý về mặt thời gian, yêu cầu các em tích cực hoạt động Sự đa dạng về các sản phẩm được chia sẻ trên Teams giúp chúng tôi giao tiếp thuận lợi, nhanh chóng, với các powerpoint bài giảng, tôi

có thể nhận xét một ngày lập tức sau khi nhận được, đồng thời, các bạn khác cũng

có thể quan sát, nhận xét do bài làm của cả lớp được chia sẻ công khai trong các thư mục bài tập

Hình 3 Phần mềm Office 365 quản lý thời gian nộp bài

Trang 9

Bên cạnh đó, chúng tôi cho rằng, về nội dung kiểm tra đánh giá cũng cần có sự điều chỉnh Các đề kiểm tra đánh giá đang sử dụng mới chỉ chú trọng vào lí thuyết, thiếu tính thực hành, trong khi học phần này đòi hỏi sinh viên phải tạo ra các sản phẩm

có tính ứng dụng cao Do vậy, chúng tôi đề xuất một số dạng bài đòi hỏi tính thực hành cao như:

Sử dụng công cụ Blend tool và các công cụ vẽ hình cơ bản Anh (chị) thiết kế một

phiếu bài tập môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 Kích thước A5, đơn vị milimet, hệ màu CMYK Yêu cầu:

Với dạng bài này, để việc đánh giá được khách quan, minh bạch, chúng tôi sử dụng phần mềm Padlet để tạo không gian trưng bày online, giúp tất cả sinh viên tham gia lớp học đều có thể đánh giá, nhận xét, “thả tim”, từ đó giáo viên là người quyết định cuối cùng, lựa chọn, tổng hợp tất cả các ý kiến này Padlet là một phần mềm miễn phí, có thể đăng kí bằng email, giáo viên sẽ thêm người học dựa vào địa chỉ email của

họ, sau đó họ sẽ chia sẻ tác phẩm của mình, bình luận và đánh giá các tác phẩm của những người khác Việc này đã được chúng tôi tiến hành trong năm 2020, khi đợt giãn cách diễn ra vào đầu năm, khi sinh viên của chúng tôi không thể đến trường Các em đều cảm thấy hứng thú hơn với giờ học, có ý thức cao hơn khi làm bài, tỏ thái độ cầu thị với những đánh giá của các bạn, đồng thời có tranh luận xung quanh việc đồng ý hay không với các bình luận về sản phẩm của mình

Hình 4 Phần mềm Padlet tạo không gian trưng bày online

Trang 10

3 KẾT LUẬN

Như vậy có thể thấy, việc học tập sẽ không vì bất cứ lí do nào đó mà gián đoạn, cũng không thể viện bất cứ lí do nào cho sự ỷ lại, lười biếng và không chịu tiến bộ Đánh giá là thước đo của sự nỗ lực, và sự nỗ lực ấy phải là một quá trình phấn đấu lâu dài, mang lại kết quả thực tế, hữu ích với người học Nhiệm vụ của người giáo viên

là tìm kiếm sự đánh giá trung thực, khách quan, minh bạch, giúp người học có động lực để phấn đấu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Quyết định số 16/2006/QĐ–BGDĐT phê duyệt Chương trình Giáo dục phổ thông.

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Mỹ thuật 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.

3 Lloyd-Jones, R and Bray, E (1986) Assessment: From Principles to Action Macmillan, London.

4 Satterly, D (1989) Assessment in Schools Oxford: Basil Blackwell Ltd

5 Nguyễn Công Khanh - Nguyễn Vũ Bích Hiền (2014), Tài liệu kiểm tra, đánh giá trong giáo dục

Cục Nhà giáo và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục, Hà Nội.

Ngày đăng: 08/12/2022, 16:42

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm