Bài viết Trường đại học cần làm gì để thực hiện “học thật, thi thật, nhân tài thật”? tập trung phân tích, luận giải góp phần làm rõ quan niệm về “học thật, thi thật, nhân tài thật”, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp về cải cách chương trình đào tạo, đổi mới nội dung – phương pháp dạy học, đổi mới hoạt động đánh giá người học trong các trường đại học nhằm hiện thực hóa chủ trương “học thật, thi thật, nhân tài thật”. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TS Trần Mạnh Dũng* 1
Tóm tắt: Đối với các trường đại học, để thực hiện “học thật, thi thật, nhân tài thật” cần quan tâm những nhân tố tác động, ảnh
hưởng, trong đó nhân tố nội tại của nhà trường giữ vai trò quyết định Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích, luận giải góp phần làm rõ quan niệm về “học thật, thi thật, nhân tài thật”, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp về cải cách chương trình đào tạo, đổi mới nội dung – phương pháp dạy học, đổi mới hoạt động đánh giá người học trong các trường đại học nhằm hiện thực hóa chủ trương “học thật, thi thật, nhân tài thật”
Từ khóa: Chất lượng đào tạo đại học, học thật, thi thật, nhân tài thật.
MỞ ĐẦU
Tại buổi làm việc với Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 6/5/2021, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh yêu cầu “học thật, thi thật, nhân tài thật” đối với ngành Giáo dục nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục - Đào tạo [1] Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhân loại đang chuyển mình mạnh mẽ sang cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) Hơn bao giờ hết, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm giành lợi thế trong cạnh tranh đối với Việt Nam càng trở nên vô cùng cấp thiết Muốn vậy, không có cách nào khác là phải thực sự “học thật”, “thi thật” ở tất cả các bậc học, nhất là đối với bậc đào tạo đại học để có “nhân tài thật” Có nhiều nhân tố ảnh hưởng
“đến học thật, thi thật, nhân tài thật” Có những nhân tố ở tầm vĩ mô (chính sách đào tạo, sử dụng nhân tài; chính sách tuyển dụng lao động; văn hóa – đạo đức xã hội…),
có những nhân tố ở tầm vi mô (môi trường đào tạo tại các nhà trường; yếu tố gia đình, bản thân người học…) Tựu chung lại, có thể phân ra những nhân tố bên ngoài nhà
trường và những nhân tố bên trong nhà trường Trong hệ thống giáo dục quốc dân,
giáo dục đại học có vai trò đặc biệt quan trọng để đào tạo nhân tài, nhưng đáng tiếc
đây lại là khâu yếu trong hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay Để tạo sự chuyển biến
tích cực, mang tính cách mạng trong việc thực hiện chủ trương “học thật, thi thật, nhân
* Học viện Ngân hàng.
Trang 2tài thật” đối với các trường đại học cần triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp Trong đó các giải pháp về đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, đổi mới hoạt động đánh giá người học là những giải pháp căn bản nhất
1 Phát triển chương trình đào tạo đại học phù hợp thực tiễn Việt Nam, tiếp cận chuẩn mực quốc tế
Để có được sự chuyển đổi lớn theo hướng thực chất trong giáo dục, theo như chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Nguyễn Kim
Sơn cho rằng, có rất nhiều việc phải làm “Đối với bậc đại học thì từ khâu xây dựng
chương trình, tới thiết kế chuẩn đầu ra, tới đặt từng môn học sao cho sát hợp thực tiễn Học đi đôi với hành, thực tập thực tế cho đầy đủ, thực chất Cần lấy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo làm nền tảng để tạo ra chất lượng” [2].
Thực tế đã cho thấy, công tác phát triển chương trình đào tạo (CTĐT) trong các trường đại học ở Việt Nam chưa được chú trọng đúng mức, chưa có nhiều trường đầu
tư vào công việc này CTĐT nhìn chung chưa có sự phân tách rõ định hướng nghiên cứu hay định hướng ứng dụng, có trường quá tập trung vào lý thuyết; có trường lại quá tập trung vào trang bị kỹ năng thực hành, không có nền tảng kiến thức vững chắc…
Để khắc phục những hạn chế trên cần thực hiện một số nội dung:
Một là, cần phân tách chương trình định hướng nghiên cứu và định hướng ứng dụng
Ở nhiều nước phát triển trên thế giới, việc phân tách rõ mô hình đào tạo bao gồm: đại học ứng dụng và đại học nghiên cứu đã mang đến những hiệu quả thực tiễn cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội và giải quyết tốt bài toán việc làm sau khi ra trường Ở Việt Nam sự phân tách này chưa thực sự rõ nét, theo đó CTĐT cũng vậy CTĐT phần lớn còn mang tính hàn lâm, thiếu tính ứng dụng, không rõ nét định hướng nghề nghiệp Bởi vậy sinh viên trong quá trình học tập không hứng thú, dễ nảy sinh việc học đối phó, khi ra trường thì không đáp ứng yêu cầu công việc chuyên môn, nghề nghiệp do thiếu kiến thức thực tiễn và kỹ năng thực hành cần thiết Bởi vậy, phần lớn sinh viên sau tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, đào tạo bổ sung Điều này thật sự gây khó khăn, lãng phí cho doanh nghiệp, cho người sử dụng lao động
Mô hình đào tạo đại học ứng dụng và đại học nghiên cứu cần được phân định rõ ràng giúp người học lựa chọn môi trường học tập phù hợp với khả năng và định hướng nghề nghiệp trong tương lai Cụ thể sự khác biệt của 2 mô hình này, theo đó là hai CTĐT định hướng nghiên cứu và định hướng ứng dụng như sau:
* Chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu có mục tiêu và nội dung theo
hướng chuyên sâu về nguyên lý, lý thuyết cơ bản trong các lĩnh vực khoa học, phát triển các công nghệ nguồn làm nền tảng để phát triển các lĩnh vực khoa học ứng dụng
và công nghệ [3] Các trường đại học có định hướng nghiên cứu là các trường đại học
Trang 3có hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học chuyên sâu về nguyên lý, lý thuyết cơ bản trong các lĩnh vực khoa học; phát triển các công nghệ nguồn; cung cấp nguồn nhân lực Việc này giúp các sinh viên theo học tại trường nắm vững các lý thuyết phù hợp với những bạn có định hướng muốn nghiên cứu chuyên sâu trở thành các chuyên gia hay nhà nghiên cứu hoặc muốn theo đuổi sự nghiệp giảng dạy
*Chương trình đào tạo định hướng ứng dụng là chương trình đào tạo có mục tiêu
và nội dung xây dựng theo hướng phát triển kết quả nghiên cứu cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành các giải pháp công nghệ, quy trình quản lý, thiết kế các công
cụ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu đa dạng của con người [3] Đại học đào tạo đội ngũ nhân lực chủ yếu theo hướng ứng dụng; nghiên cứu khoa học và công nghệ tập trung vào việc phát triển các kết quả nghiên cứu cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành các giải pháp công nghệ, quy trình quản lý, thiết kế các công cụ hoàn chỉnh phục
vụ nhu cầu đa dạng của con người
Hai là, Xây dựng nội dung các học phần mang tính khoa học và thực tiễn cao gắn
với chuẩn đầu ra học phần
Trong CTĐT, mỗi học phần như một “viên gạch” xây nên tòa tháp tri thức – kỹ năng của ngành đào tạo mà sinh viên cần lĩnh hội, trau dồi để hình thành đầy đủ năng lực, phẩm chất cần có, để tự tin bước vào môi trường làm việc sau tốt nghiệp Bởi vậy, khi xây dựng nội dung cho môn học, trước hết cần trả lời câu hỏi: Môn học này mang lại lợi ích gì cho sinh viên? Đóng góp gì cho việc hình thành năng lực – phẩm chất –
kỹ năng của người học? Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn chỉ rõ: “xem xét điều chỉnh rà
soát lại nội dung dạy và học, dạy cái thiết thực, cái thực nghiệp, giảm và tiến tới bỏ hẳn cái hình thức, phù phiếm, vô bổ” [2] Với thời lượng có hạn (thông thường là 3
đơn vị tín chỉ) cần đảm bảo nội dung môn học thật sự tinh gọn với dung lượng kiến thức lý thuyết và thực tiễn sát với yêu cầu chuẩn đầu ra học phần Chuẩn đầu ra chính
là những yêu cầu đối với sinh viên để có thể được cấp bằng cho chuyên ngành cụ thể Chuẩn đầu ra cần được các trường đại học xây dựng nhằm đáp ứng được các yêu cầu của người sử dụng lao động Do đó, chuẩn đầu ra của mỗi ngành chắc chắn sẽ khác nhau (thậm chí mỗi chuyên ngành trong một ngành cũng sẽ khác nhau) Khi đó, chuẩn đầu ra sẽ là điểm khác biệt mà nhà trường xây dựng cho chính thương hiệu của ngành, của trường qua năng lực làm việc của sinh viên Đó vừa là mục tiêu nhưng cũng là động lực để các trường cải tiến hoạt động đào tạo của mình theo định hướng “học thật, thi thật, nhân tài thật”
Trong quá trình xây dựng nội dung chương trình môn học rất cần thiết phải tham chiếu giáo trình quốc tế (của các nước phát triển) để chắt lọc, tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, nhất là đối với các bộ môn khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật, khoa học
Trang 4kinh tế… Một số trường hiện nay cho dịch giáo trình nước ngoài để đưa vào giảng dạy, điều đó là cần thiết khi chúng ta chưa có khả năng biên soạn được giáo trình tiên tiến hơn Tuy nhiên, cần nhận thức rằng, giáo trình cũng không phải là khuôn mẫu bất di bất dịch, mà phải thường xuyên cập nhật kiến thức môn học, loại bỏ những nội dung lạc hậu, không mấy ý nghĩa trong việc làm gia tăng giá trị cho người học, hoặc quá tải khiến cho người học chán học Đối với các học phần chuyên ngành còn cần đưa vào thời lượng học tập, trải nghiệm tại doanh nghiệp của sinh viên, tạo nhiều cơ hội để sinh viên được rèn luyện các kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp, tham gia các dự
án thực tế… điều này rất cần thiết để tăng cường “học thật” cho sinh viên nhưng chưa được nhiều trường quan tâm
2 Đổi mới phương pháp dạy và học để giảng viên dạy thật, sinh viên học thật
Thứ nhất, muốn sinh viên học thật, trước hết giảng viên phải dạy thật
Dạy và học là hai mặt của một vấn đề Muốn sinh viên học thật thì giảng viên phải dạy thật Dạy thật trước hết giảng viên phải tuân thủ quy định về thời lượng giảng dạy trên lớp, thời lượng hướng dẫn sinh viên tự học ngoài giờ lên lớp, phải đảm bảo đầy đủ nội dung chương trình môn học, không cắt xén, không dạy tủ - dạy lệch Hơn nữa, dạy thật là phải giảng dạy bằng tất cả tri thức, năng lực và tâm huyết của chính mình Có như vậy mới chuyển tải đầy đủ tri thức, kỹ năng và truyền được cảm hứng cho người học Nếu người dạy không thực sự say mê, tâm huyết với môn học thì khó có thể có được điều này ở người học Dạy thật, cũng có nghĩa là phải thực sự đổi mới căn bản phương pháp giảng dạy, phải chuyển từ phương pháp tiếp cận nội dung sang phương pháp tiếp cận năng lực, phẩm chất người học Với những yêu cầu trên, có thể khẳng định đa số giảng viên hiện nay có đủ những phẩm chất để thực hiện sứ mệnh giảng dạy của mình Tuy nhiên, có những cản trở nhất định khiến họ không thể dạy thật theo đúng nghĩa Hiện nay, mặc dù quan điểm “Sách giáo khoa là pháp lệnh”, “Giáo trình là thống nhất” vốn tồn tại từ lâu nay đã có sự thay đổi, nhưng về cơ bản vẫn hạn chế “tự
do học thuật” của người dạy Bởi vậy, trong chừng mực nào đó chưa khai thác được hết tiềm năng, không phát huy được đầy đủ tư duy sáng tạo trong nghiên cứu, giảng dạy của giảng viên Đối với sinh viên, họ bị phụ thuộc những trang giáo trình cứng nhắc, thiếu đi sự sáng tạo cần thiết khiến họ nhàm chán trong quá trình học tập, dễ sinh học đối phó Trong bối cảnh hiện nay, trong giảng dạy người thầy phải làm sao phát huy tư duy độc lập và sáng tạo cũng như tư duy phê phán và phản biện của người học
Đó mới chính là dạy học đích thực Như vậy, muốn có dạy thật - học thật thì phải nâng cao địa vị người giảng viên, đồng thời xóa bỏ cơ chế quản lý mang tính hành chính, hướng tới tự do sáng tạo trong các trường đại học, đảm bảo cho giảng viên quyền tự
do học thuật cao nhất trong phạm vi chương trình giảng dạy đã quy định
Trang 5Thứ hai, học thật trước hết là phải bỏ thói học vẹt, nhồi nhét kiến thức Học phải
sao cho đạt đến cấp độ hiểu, có năng lực phân tích, hơn nữa có khả năng vận dụng sáng tạo kiến thức sách vở vào thực tiễn phong phú, sinh động thuộc lĩnh vực chuyên ngành và nghề nghiệp mai sau.
Để học thật, cần xóa bỏ những quan niệm sai lầm về học tập đang còn tồn tại: (i) Thành tích trong học tập là một mục tiêu mà người học cần hướng đến Nhưng nếu đặt nặng được mất, hơn thua để chạy đua điểm số, danh hiệu, bằng cấp sẽ làm cho cả người học lẫn người dạy đánh mất những giá trị đích thực của việc dạy và học (ii) Mục đích học tập chỉ để lấy tấm bằng Có rất nhiều người dùng bằng cấp để đánh giá việc học mà không quan tâm đến việc học được gì từ tấm bằng đó Nếu xem việc học là một cách chỉ để làm đẹp lòng bố, mẹ, để không cảm thấy hổ thẹn với gia đình - xã hội chứ không phải để trau dồi nâng cao kiến thức, để tự tin bước vào cuộc sống mai sau thì việc học đó là chạy theo thành tích và đề cao bằng cấp hơn là năng lực thực sự Thực tế,
có người nhiều bằng cấp, thậm chí bằng cấp cao nhưng trước công việc thì không làm được, danh vị là hư danh như Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn cho biết “học thật, hay thực học, xét về phương diện nội dung, là nền giáo dục dạy người ta tri thức, kỹ năng, phẩm chất, đạo đức, tạo ra năng lực thực, tức những gì mà người học cần có cho công việc mai sau, cho mưu sinh, cho đời, cho đất nước Thực học là tránh việc học những cái ra đời không dùng vào việc gì, còn cái cần cho công việc thì không được học Thực học ở đây với nghĩa là nền giáo dục thiết thực, hữu dụng, có thực chất, giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, gắn chặt với đời sống [2]; (iii) Nếu người học họ dùng hết tâm huyết để tiếp thu kiến thức trong lĩnh vực mà họ theo đuổi, đồng thời biến kiến thức đó thành kỹ năng thì đó chính là “học thật”
3 Đổi mới hoạt động đánh giá đối với người học để có trình độ thật, nhân tài thật
“Học thật là kiểm tra, đánh giá đúng, đáng bao nhiêu điểm thì cho bấy nhiêu,
ai phải học lại thì cho học lại, không “ngồi nhầm lớp”, luận án không chất lượng thì không cho qua ” - Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn nêu quan điểm [2] Thật vậy, nếu trong nhà trường sinh viên được đánh giá đúng, đánh giá bằng thang đo thật sự công tâm, khách quan, chuẩn mực thì khi đó, họ sẽ đua nhau mà học thật, thi thật Để đổi mới căn bản hoạt động đánh giá người học, thiết nghĩ nhà trường cần quan tâm những khía cạnh sau:
Một là, trong tất cả các khâu, các hình thức đánh giá đối với người học phải thật
sự khách quan, công bằng không cảm tính, tránh quan hệ xin cho, tránh thương mại hóa trong quan hệ thầy trò
Khâu đánh giá phải thực sự được coi là thước đo trình độ, năng lực người học Thước đo mà không chuẩn, mà méo mó sẽ phá hỏng tất cả những nỗ lực khác Cho dù
Trang 6điều kiện dạy – học có tốt, chất lượng giảng dạy cao… nhưng khâu đánh giá không chuẩn mực, nhất là thiếu sự công bằng, chắc chắn sẽ làm mất đi động lực học thật của người học, làm mất lòng tin vào thầy, cô do đó không tránh khỏi ảnh hưởng danh tiếng, thương hiệu của nhà trường
Hai là, phải đổi mới tất cả các khâu của quá trình đánh giá người học, từ đánh
giá thường xuyên đến đánh giá cuối kỳ, cuối khóa
Có một quy luật bất thành văn nhưng rất đúng “học thế nào thì thi thế ấy” Thật vậy, nếu như giảng dạy theo hướng phát huy năng lực, phẩm chất người học thì khâu đánh giá cũng phải thực sự đổi mới theo hướng đó, nghĩa là câu hỏi, đề thi, cách thi phải thực sự phù hợp Nếu thi theo cách bắt sinh viên ghi nhớ kiến thức máy móc, học thuộc lòng giáo trình, bài giảng thì ắt sinh viên sẽ tìm cách học đối phó, gian lận trong học tập, thi cử Muốn có thi thật, trước hết phải có học thật, như đã nói ở trên Trên cơ
sở đó, đi đôi với việc áp dụng các biện pháp chống gian lận sao cho có hiệu quả, điều quan trọng hơn là cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá theo các cấp độ: Thuộc - Hiểu - Phân tích - Vận dụng Ngân hàng câu hỏi, đề thi cần được thiết kế để phân loại người học theo ngưỡng đánh giá ở các cấp độ khác nhau
Ba là, trước tình trạng suy giảm về liêm chính học thuật hiện nay, các trường đại
học cần quan tâm xây dựng, củng cố bộ quy tắc liêm chính học thuật nhằm hạn chế và xoá bỏ những hành vi gian lận, thiếu trung thực trong giảng dạy, nghiên cứu và học tập, qua đó giữ gìn niềm tin của xã hội
Đây có thể coi là biện pháp phổ biến và hiệu quả nhất để đối phó với tình trạng suy giảm về liêm chính học thuật mà các trường đại học trên thế giới đều quan tâm đặc biệt Tuy có tên gọi và nội dung ít nhiều khác nhau, các bộ quy tắc về liêm chính học thuật của các trường đại học trên thế giới đều có những điểm chung là: đều khẳng định sự cần thiết, tầm quan trọng của liêm chính học thuật; đều xác định những hành
vi bị xem là vi phạm liêm chính học thuật bị cấm; đều đề cập đến những biện pháp xử
lý vi phạm liêm chính học thuật Ở nhiều trường đại học của Việt Nam hiện nay đã đưa vào sử dụng các phần mềm chống đạo văn để thẩm định (Test) khóa luận, luận văn, luận án, bài báo khoa học… của sinh viên và giảng viên góp phần hạn chế gian lận, sự thiếu trung thực trong học tập – nghiên cứu, do đó đảm bảo tính liêm chính học thuật
4 KẾT LUẬN
Chỉ khi nào việc học đi vào thực chất, ngành Giáo dục và xã hội nói không với
“bệnh thành tích”, học đi đôi với hành, thì mới có thể tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới Để tạo sự chuyển biến thực sự trong hoạt động đào tạo của các trường đại học hướng đến mục tiêu đáp ứng nhu cầu xã hội, tất yếu phải thực sự “dạy thật, học thật” mới có “nhân tài thật” Sự
Trang 7chuyển biến này phụ thuộc rất nhiều yếu tố từ nhà trường đến gia đình và xã hội Đối với nhà trường cần đổi mới và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, căn cứ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng trường Tuy nhiên, những giải pháp mấu chốt, có thể tạo tính đột phá thiết nghĩ là các giải pháp về chương trình đào tạo, nội dung – phương pháp đào tao và hoạt động đánh giá người học như đã đề cập ở trên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Báo Việt Nam Net, https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/nguoi-thay/thu-tuong-pham-minh-chinh-lam-viec-voi-bo-gd-dt-733540.html, truy cập ngày 22/7/2021
2 Báo Lao động .https://laodong.vn/giao-duc/bo-truong-nguyen-kim-son-neu-giai-phap-de-hoc-that-thi-that-nhan-tai-that-911151.ldo, truy cập ngày 22/7/2021
3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Thông tư số 17/2021/TT-BGDĐT Quy định về chuẩn chương trình đào tạo; xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2013) Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
5 Trần Mạnh Dũng, Pham Phương Anh (2017), “Kinh nghiệm đào tạo theo học chế tín chỉ của
các trường đại học thuộc các nước phát triển và bài học đối với các trường đại họcViệt Nam”, Tạp Chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, số tháng 8/2017, tr 67-74
6 Nguyễn Việt Phương (2019), “Tăng cường tự chủ chương trình đào tạo, yếu tố căn bản nâng
cao chất lượng đào tạo của các trường đại học Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt
tháng 4/2019, tr 96-99; 123.
7 Lưu Khánh Linh (2020), “Đánh giá kết quả học tập môn học theo chuẩn đầu ra chương trình
đào tạo đảm bảo sự liên kết các thành tố của quá trình dạy học”, Tạp chí Giáo dục, số đặc
biệt kỳ 1 tháng 5/2020, tr 67-72.