Thiết kế nghiên cứu: Kiểm tra trước và sau tác động đối với hai nhóm tương đương Nhóm Kiểm tra trước tác Kiểm tra sau tác động Nhóm thực nghiệm Phương pháp chọn lọc, phân
Trang 1Anh/chị hãy lập đề cương nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng cho một đề tài cụ thể?
Mục lục
1 Kế hoạch nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng 2 - 3
9 Đo lường và thu thập dữ liệu 10
10 Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả 10 - 12
Trang 2KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG
DỤNG
Người thực hiện: Trần Võ Trung Dũng
Đơn vị: TH Võ Thị Sáu
Tên đề tài: Rèn kĩ năng giải bài toán có lời văn liên quan tỷ số cho học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
1 Thực trạng: Giải bài toán có lời văn liên quan đến tỷ số là dịp để học
sinh vận dụng một cách tổng hợp và ngày càng cao các kĩ năng về toán với kiến thức cuộc sống trong đó bao gồm cả kiến thức về tiếng Việt
2 Nguyên nhân: Với chương trình toán lớp 4 thì việc giải bài toán có
lời văn liên quan đến tỷ số quả là khó khăn với học sinh nói chung không chỉ riêng với học sinh yếu Xét về thời gian từ trước đến nay trong lớp học không phải tất cả các em đều nắm được bài sau khi giáo viên giảng đồng thời biết áp dụng vào làm bài tập
3 Giải pháp: Giáo viên biết vận dụng kết hợp các phương pháp một cách
hợp lí phù hợp với nội dung của từng bài dạy nhằm tạo sự hứng thú cho học sinh khi các em tham gia giải các bài tập
4 Vấn đề nghiên cứu: Rèn kĩ năng giải bài toán có lời văn liên quan
quan tỷ số cho học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
5 Giả thuyết nghiên cứu: Giáo viên biết cách kết hợp các phương pháp
dạy toán hướng dẫn các bài toán có lời văn cho học sinh lớp 4 nhằm để phát huy tính tích cực trong các bài toán có lời văn của học sinh lớp 4
6 Thiết kế nghiên cứu: Kiểm tra trước và sau tác động đối với hai nhóm
tương đương
Nhóm Kiểm tra trước tác
Kiểm tra sau tác động
Nhóm thực
nghiệm
Phương pháp chọn lọc, phân tích và
hướng dẫn O3
Kiểm tra tính tương quan
Nhóm đối
chứng (4/3) O2 X O4 Kiểm tra tínhtương quan
Trang 3Kiểm tra tính tương đương
So sánh kết quả
7 Thang đo: Đo kiến thức của học sinh bằng bài kiểm tra cuối kỳ I và
giữa học kỳ II bằng thang điểm 10
Nội dung lấy ở sách Toán 4
Chỉ quan tâm lỗi lời giải, phép tính có tỷ số, đơn vị, đáp số, lỗi trình bày của các bài toán có lời văn liên quan đến tỷ số
8 Tiến hành nghiên cứu:
Nhờ thầy Nguyễn Bá Tằng (không chủ nhiệm 2 lớp) kiểm tra trước tác động (bài toán có lời văn) và chấm điểm của hai nhóm bằng bài kiểm tra cuối
kỳ I (kết quả dùng để kiểm tra tính tương đương của 2 nhóm)
Nhờ thầy Nguyễn Bá Tằng kiểm tra sau tác động (bằng bài toán có lời văn) và chấm điểm của hai nhóm bằng bài kiểm giữa kỳ II (kết quả dùng để so sánh, kiểm tra tính hiệu quả của giải pháp)
9 Kiểm tra độ tin cậy của số liệu:
Kiểm tra định lượng: Kiểm tra độ tin cậy Speaman-Brown (Rsb= Rhh x 2/ (Rhh + 1)): tính độ tương quan giữa hai lần kiểm tra trước và sau tác động của mỗi nhóm (Rhh)
10 Kiểm tra định tính: Nhờ BGH là cô Phan Thị Bình Thuận (P.HT)
xác định tính phù hợp của các bài kiểm tra học sinh
11 Kiểm tra tính tương đương: Hai nhóm trước tác động (tính T-test
độc lập đối với O1 và O2) (p phải lớn hơn 0,05)
12 Phân tích số liệu:
Mô tả: tính mốt, trung vị, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn (của O3 và O4)
So sánh số liệu: tính độ ngẫu nhiên (T-test độc lập đối với O3 và O4; p
≤ 0,05)
Mức độ ảnh hưởng ES (tính chỉ số SMD)
13 Bàn luận, kết luận, viết báo cáo:
Dựa vào các số chuẩn độ tin cậy (< 0,7), độ ngẫu nhiên (< 0,05), bảng chuẩn cohen, bảng chuẩn hopkins
Phép kiểm chứng T-test điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của hai nhóm là P < 0,05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động, nghiêng về nhóm thực nghiệm
Trang 4Tên đề tài:
RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN LIÊN QUAN
ĐẾN TỶ SỐ CHO HỌC SINH LỚP 4
Trường Tiểu học Võ Thị Sáu Thành phố Cao Lãnh
Người thực hiện:
Trần Võ Trung Dũng Đơn vị: Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Tóm tắt đề tài:
Chúng ta đều biết mục tiêu đào tạo của nhà trường và đặc biệt là bậc Tiểu học là hình thành những cơ sở ban đầu và trọng yếu của con người mới, phát triển toàn diện phù hợp với yêu cầu, điều kiện và hoàn cảnh của đất nước Việt Nam Mục tiêu này xuất phát từ chính sách chung về giáo dục – đào tạo, được thể hiện trong văn kiện Đại hội Đảng: “Mục tiêu Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lưc, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có trí thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu Chủ Nghĩa Xã Hội” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII ĐCSVN trang 81) “Nâng cao mặt bàng dân trí, bảo đảm những trí thức cần thiết để mọi người gia nhập cuộc sống xã hội và kinh tế theo kịp tiến trình đổi mới và phát triển đất nước Đào tạo bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, ĐCSVN trang 199)
Đồng thời thực hiện quy định hai không với 4 nội dung của Bộ Giáo dục và đào tạo đề ra giúp học sinh học tập tốt không có học sinh ngồi nhầm lớp
Môn toán là môn học với những đặc điểm: Mang tính trừu tượng cao, tính thực tiễn, phổ dụng, tính logic và tính thực nghiệm Vì vậy môn toán chiếm một vị trí quan trọng trong nhà trường Tiểu học
Đặc biệt với xu thế phát triển chung của thế giới hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của khoa học công nghệ, đòi hỏi người học sinh -những chủ nhân tương lai của đất nước – không chỉ học để đạt được -những kiến thức cơ bản mà cần năng động sáng tạo tiếp nhận các kiến thức của nhân loại, phát huy tối đa năng lực cá nhân để vươn tới trí thức hiện đại với những tầm cao mới góp phần xây dựng đất nước đi lên sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới
Trang 5Môn toán có tầm quan trọng to lớn Nó là bộ môn khoa học nghiên cứu có hệ thống, phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người Môn toán còn là môn học rất cần thiết để các em học các môn học khác Nó có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận logic, thao tác tư duy cần thiết để nhận thức thế giới hiện thực như: trừu tượng hoá, khái quát hoá, khả năng phân tích tổng hợp, so sánh, dự đoán, chứng minh
Môn toán còn góp phần giáo dục lí trí và những đức tính tốt như: trung thực, cần cù, chịu khó, ý thức vượt khó, tìm tòi, sáng tạo và nhiều kĩ năng cần thiết để con người phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho người lao động trong thời đại mới
Trong những năm dạy toán ở lớp 4, phần giải bài toán có lời văn liên quan đến tỷ số, tôi thấy học sinh thường lúng túng trong việc xác định tỷ số, và mối quan hệ giữa tỷ số với các đại lượng đã cho trong bài toán
Qua quá trình giảng dạy ở lớp 4 tôi thấy, để giải được bài toán có lời văn liên quan đến tỷ số, học sinh phải nắm chắc kiến thức về phân số, xác định được tỷ số hiểu được ý nghĩa thực tiễn của tỷ số Khi chưa xác định được tỷ số, học sinh không nhận dạng được dạng toán và không tìm ra cách giải Chính vì
lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Rèn kỹ năng giải bài toán có lời văn liên quan đến tỷ số cho học sinh lớp 4.”
Chúng tôi đã tiến hành nghiên trên đối tưọng học sinh lớp 4 của trường với thiết kế kiểm tra trước và sau tác động trên hai nhóm tương đương Các số liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu được kiểm chứng chặt chẽ bởi các giáo viên có kinh nghiệm và qua các phép tính toán có các thông số, có thể nói dữ liệu có độ tin cậy rất cao kết quả cho thấy tác động có ảnh hưởng tích cực đến kết quả giải các bài toán của học sinh Nhóm thực nghiệm đã được kết quả trong việc giải các bài toán có lời văn cao hơn so với nhóm đối chứng Điểm các bài kiểm tra lấy số liệu của nhóm thực nghiệm có giá trị trung bình là 8,44 trong khi giá trị trung bình điểm kiểm tra đầu ra của nhóm đối chứng là 7,47 Kết quả phép kiểm chứng T-test độc lập cho thấy giá trị P < 0,05 Điều đó chứng minh rằng độ lệch giá trị trung bình là có ý nghĩa, giải pháp bổ sung có ảnh hưởng đến quá trình các học sinh khi giải toán có lời văn liên quan đến tỷ số cho học sinh lớp 4
Giới thiệu đề tài:
Trang 6Kết quả các nhà nghiên cứu tâm lí thì một học sinh bình thường về mặt tâm lí, không có bệnh tật đều có khả năng tiếp thu môn toán theo yêu cầu của chương trình toán học Tiểu học
Những học sinh từ trung bình trở xuống: các em có thể học đạt yêu cầu của chương trình nếu được hướng dẫn một cách thích hợp
Về ngôn ngữ học ở giai đoạn này mức độ hiểu ngôn ngữ của các em cũng đã cao hơn so với giai đoạn đầu của bậc học
Toán 4 có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học toán ở tiểu học Qúa trình dạy học toán 4 luôn gắn với việc củng cố, ôn tập các kiến thức và
kĩ năng cơ bản về môn toán ở tiểu học Toán 4 đem lại mức chất lượng giáo dục
cơ bản về môn toán ở tầm cao hơn trước cho mọi đối tượng học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và thực hiện sự bình đẳng trong giáo dục tiểu học
Nội dung giải toán có lời văn liên quan đến tỷ số cho học sinh lớp 4 là
mảng kiến thức mang tính thực tiễn cao, áp dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn Vì thế nội dung dạng toán này đã có từ xưa Nhưng trong quá trình dạy đối với mỗi người nó luôn mới mẻ và luôn thúc đẩy người giáo viên suy nghĩ tìm tòi để rút ra phương pháp dạy phù hợp hơn với từng đối tượng kiến thức, học sinh, phù hợp với sự phát triển đòi hỏi của xã hội hiện tại và tương lai Vấn đề mang tính thực tiễn nên luôn mới mẻ, hấp dẫn đối với người giáo viên có tâm huyết
Qua thực tiễn giảng dạy tôi nhận thấy: Giải toán có lời văn liên quan đến tỷ số là một bộ phận không nhỏ trong chương trình toán lớp 4, học sinh đã được làm quen với dạng toán này Nhưng thực chất đây cũng là phần nội dung khó đối với học sinh và giáo viên trong việc giảng - dạy Vì nó không đơn thuần chỉ là những phép tính nó còn đòi hỏi sư kết hợp với những môn học khác đặc biệt là tiếng Việt
Các bài toán có lời văn liên quan đến tỷ số mà học sinh lớp 4 được tiếp xúc có nội dung là những vấn đề trong cuộc sống hết sức phong phú và có cấu trúc đa dạng từ những dạng khác nhau của cùng 1 phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) đến những dạng kết hợp của hai hay nhiều phép tính
Vì vậy giải bài toán có lời văn liên quan đến tỷ số là dịp để học sinh vận dụng một cách tổng hợp và ngày càng cao các kĩ năng về toán với kiến thức cuộc sống trong đó bao gồm cả kiến thức về tiếng Việt
Với chương trình lớp 4 thì việc giải bài toán có lời văn liên quan đến tỷ số quả là khó khăn với học sinh nói chung không chỉ riêng với học sinh yếu
Trang 7Xét về thời gian từ trước đến nay trong lớp học không phải tất cả các
em đều nắm được bài sau khi giáo viên giảng đồng thời biết áp dụng vào làm bài tập
Từ những cơ sở đã nêu ở phần trên tôi cùng các đồng nghiệp chung trường và trường bạn đã rất quan tâm vấn đề này Vì thế chúng tôi đã thông qua trong chương trình buổi hội giảng do phòng GD tổ chức cùng nhau trao đổi và rút kinh nghiệm, các đồng nghiệp cũng thống nhất cao với các vấn đề đặt ra và cách giải quyết trong đề tài đã nêu
Phương pháp nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu:
Trường có ba lớp 4, với tổng số học sinh là 107/55 Tôi chọn lớp 4/1 và lớp 4/3 làm đối tượng nghiên cứu
Lớp 4/1 sĩ số là 34 học sinh do thầy Trần Võ Trung Dũng làm chủ nhiệm
Lớp 4/3 sĩ số là 38 học sinh do thầy Huỳnh Phúc Đức làm chủ nhiệm Cả hai giáo viên chủ nhiệm đều có kinh nghiệm và nhiệt tình trong giảng dạy, có trình độ chuyên môn ngang nhau
Có thể nói trình độ, điều kiện học tập và cơ cấu giữa hai lớp 4/1 và 4/3 là tương đương Căn cứ theo kết quả kiểm tra định kỳ cuối học kì 1 ta có số liệu như sau:
Về thành tích các mặt hoạt động trong năm học trước cũng như ý thức học tập của học sinh, mức độ quan tâm từ phía gia đình của hai lớp là tương đồng
* Thiết kế:
Do hai lớp 4 có nhiều mặt kiến thức cơ bản tương đương với nhau nên chúng tôi đã chọn hai lớp để làm nghiên cứu: Lớp 4/3 là nhóm đối chứng, lớp 4/1 là nhóm thực nghiệm Để đảm bảo tính khách quan của hai nhóm tương đương nhau về mặt trình độ kiến thức về giải toán có lời văn liên quan đến tỷ số trong thời điểm làm nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành kiểm tra trước tác động bằng một bài toán có lời văn liên quan đến tỷ số do Nguyễn Bá Tằng đã thực hiện đồng loạt trên cả hai nhóm Chấm theo thang điểm 10, được kết quả như sau:
Trang 8Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm
Vì có sự chênh lệch nhau về điểm trung bình của hai nhóm nên chúng tôi dùng phép kiểm chứng T-test độc lập để kiểm chứng sự chênh lệch đó Sau khi tính toán chúng tôi đã có được giá trị P là 0,93 đã lớn hơn giá trị chuẩn 0,05 Vì vậy chứng tỏ độ ngẫu nhiên ở đây cũng khá cao nên trình độ chung trong lĩnh vực đang nghiên cứu của hai nhóm là tương đương nhau
Sử dụng dạng thiết kế kiểm tra trước và sau khi tác động với các nhóm tương đương.
Nhóm Kiểm tra trước tác động Tác động Kiểm tra sau tác động
Nhóm thực
Sử dụng tex đánh giá năng lực tự
học của học sinh O3 Nhóm đối chứng
* Quy trình nghiên cứu:
Để tiến hành nghiên cứu tốt đẹp, tôi đã nhờ giáo viên chủ nhiệm hai lớp là lớp 4/1 và lớp 4/3 thực hiện đồng loạt các tiết toán trọng tâm toán có lời văn liên quan đến tỷ số ở học lớp 4 trên hai lớp vào buổi thứ ba trong tuần, mỗi buổi
1 tiết (40 phút) Cụ thể như sau:
Bắt đầu thực hiện từ ngày 03 tháng 01 năm 2022 đến ngày 25 tháng 02 năm 2022, tổng cộng 6 buổi với 6 bài chọn ngoài (học sinh chưa được học qua), có nội dung và phù hợp với học sinh lớp 4
Thiết kế giáo án: cả hai giáo viên đều thiết kế giáo án thông thường Riêng đối với nhóm thực nghiệm giáo án có bổ sung như sau:
Nghiên cứu đề bài:
- Tìm hiểu bài toán có liên quan đến tỷ số:
+ Đọc đề bài toán nhiều lần để xác định được tỷ số mà đề bài đã cho + Xác định yêu cầu của đề bài toán (cái đã cho và cái cần tìm)
- Trình bày các số liệu đã tìm được để biểu thị trên sơ đồ đoạn thẳng Ví dụ:
+ Bài toán đã cho biết gì những cái đã biết tương ứng với bao nhiêu phần?
Trang 9+ Bài toán yêu cầu tìm gì?
Thiết lập các mối quan hệ của bài toán:
- Tóm tắt nội dung bài toán (bằng sơ đồ đoạn thẳng biểu thị tỷ số)
- Xác định dạng bài toán có liên quan đến tỷ số
Lập kế hoạch giải bài toán:
- Gợi mở cho học sinh tự tư duy tìm lời giải cho bài toán một cách phù hợp với nội dung của yêu cầu đề toán
Tiến hành giải:
- Sau khi tiến hành thiết lập các mối quan hệ và tiến hành giải toán
- Tìm ra lời giải cho bài toán và phép tính có liên quan đến tỷ số
- Nêu ra đáp số đúng cho bài toán
Kiểm tra kết quả của bài toán:
- Kiểm tra lại nội dung bài giải và kết quả của bài toán
- Thay thế kết quả và thử lại theo nội dung của bài toán đã cho
Sau mỗi tiết dạy giáo viên công bố nhận xét kết quả bài làm của học sinh, tiến hành củng cố, sửa chữa nhận xét
Sau khi kết thúc tác động, tiến hành kiểm tra sau tác động bằng một bài toán có lời văn liên quan đến tỷ số trên cả hai lớp do cùng một người thực hiện và chấm điểm (thầy Nguyễn Bá Tằng)
* Đo lường:
Nội dung bài kiểm tra sau tác động là một bài toán có lời văn liên quan đến tỷ số trong vòng 15 phút
Cả bài kiểm tra trước tác động lẫn bài kiểm tra sau tác động đều sử dụng thang điểm 10 theo quy định của Bộ
Chỉ chú ý trừ điểm đối với những bài làm bị sai lời văn hoặc thiếu tên đơn vị (sai tên đơn vị), mỗi lỗi trừ 0,5 điểm
* Phân tích dữ liệu và kết quả:
Sau khi có đầy đủ các số liệu chúng tôi tiến hành thẩm định giá trị và độ tin cậy của số liệu bằng hai cách:
Thẩm định định tính: Nhờ BGH là cô Phan Thị Bình Thuận cho ý kiến nhận xét về tính hợp lí, vừa sức của bài kiểm tra, chấm lại một số bài làm của hai nhóm để xác nhận độ chính xác, tính khách quan của người chấm
Thẩm định định lượng: kiểm tra tính tương quan và độ tin cậy của dữ liệu có kết quả như sau:
Độ tương quan giữa hai lần kiểm tra trước và sau tác động của nhóm thực nghiệm là 0,87
Trang 10Độ tương quan giữa hai lần kiểm tra và sau tác động của nhóm đối chứng là 0,90
Điểm thu được của hai nhóm có độ tương quan khá cao và do đó độ tin cậy của dữ liệu cũng khá lớn Như vậy dữ liệu rất có giá trị và đáng tin, hoàn toàn có thể làm cơ sở để bàn luận
* Bảng so sánh kết quả của hai nhóm:
Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm
Trước TĐ Sau TĐ Trước TĐ Sau TĐ
* Ba ̀n luận :
Trước hết, như đã nêu trên, kết quả kiểm tra của hai nhóm trước tác động là tương đương Sau tác động, kết quả trung bình cộng điểm số của hai nhóm có sự chênh lệch đáng kể và hiệu số của nó là 0,97 Phép kiểm chứng T-test cho giá trị P = 0,01 nhỏ hơn giá trị chuẩn (0,05) rất nhiều Chứng tỏ rằng giải pháp tác động rất có ý nghĩa, mang lại hiệu quả rõ rệt, không phải do ngẫu nhiên mà do ảnh hưởng của giải pháp đã sử dụng
Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng:
Mặt khác, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn là 0,97; tuy không cao nhưng đối với thang điểm 10 thì sau khi tính độ lệch giá trị trung bình chuẩn, ta