Bài viết Xây dựng mô hình không gian học tập trực tuyến góp phần “đào tạo thật” ở các cơ sở giáo dục đề xuất một mô hình không gian học tập trực tuyến trên cơ sở sử dụng các công cụ của Google, mô hình này cho phép các cộng đồng học tập và hợp tác làm việc trực tuyến trong không gian rộng lớn nhưng lại được quản lí tập trung. Mô hình giúp cho quá trình đào tạo được công khai, minh bạch, góp phần “đào tạo thật” ở các cơ sở giáo dục. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TS Phạm Ngọc Sơn* 1
Tóm tắt: Để thực hiện được các yêu cầu “học thật, thi thật, nhân tài thật” thì các cơ sở giáo dục có rất nhiều việc phải làm Trong
đó, phải rà soát chương trình đào tạo, thiết kế chuẩn đầu ra sát với tình hình thực tiễn, cần lấy khoa học công nghệ làm nền tảng,
sử dụng công nghệ như một công cụ nhằm “đào tạo thật” Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất một mô hình không gian học tập trực tuyến trên cơ sở sử dụng các công cụ của Google, mô hình này cho phép các cộng đồng học tập và hợp tác làm việc trực tuyến trong không gian rộng lớn nhưng lại được quản lí tập trung Mô hình giúp cho quá trình đào tạo được công khai, minh bạch, góp phần “đào tạo thật” ở các cơ sở giáo dục
Từ khoá: E-learnspace, workspace, e-learning, b-learning, quản lí học tập, đào tạo trực tuyến.
1 MỞ ĐẦU
Đại dịch Covid-19 đã khiến cuộc sống của chúng ta trở nên khó khăn hơn Sự giao tiếp giữa các nhà giáo dục, chuyên gia và người học đã phải chuyển sang trực tuyến, sử dụng các giải pháp nền tảng kỹ thuật số và tìm những cách mới để làm việc cùng nhau trong môi trường kỹ thuật số [1] Tại Hoa kì, số lượng công việc làm từ xa, chủ yếu từ các
lĩnh vực công nghệ, tài chính và luật, tăng gấp đôi trong năm 2020 [2] Xa hơn, theo The
New York Times, ngày càng có nhiều trường cao đẳng và các trường đại học đã triển khai
các khóa học trực tuyến [3] Theo nhiều cách, công việc của các chuyên gia, nhà giáo dục, người học đã thay đổi, việc dạy trực tuyến, đã làm việc trong nhóm ảo, sử dụng các ứng dụng phần mềm đã trở nên quen thuộc Các nhóm làm việc, các cuộc họp, các lớp học, báo cáo, bài thuyết trình và các sự kiện xã hội đã “di chuyển” lên không gian ảo nhiều hơn Mặc dù năng suất làm việc trên môi trường ảo ngày càng tăng (Thompson, 2021) nhưng vẫn còn nhiều những thách thức, do vậy đã có sự ra đời của các công cụ nhằm giải quyết các vấn đề hạn chế (Wickman, 2014)
Trên hết, bất cứ mô hình hợp tác trên không giản ảo nào, cũng mong muốn tiệm cận đến tính hiệu quả trong việc hợp tác trực tiếp (Stewart, 2017) Phát triển những lợi thế và khắc phục những hạn chế khi giảng dạy trên môi trường không gian ảo, nghiên cứu của chúng tôi dựa trên mô hình học tập đề cao tính tương tác bền vững và chặt chẽ [4] cùng với công cụ sẵn có trên Google Workspace, để xây dựng mô hình không
* Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.
Trang 2gian học tập trực tuyến Những nghiên cứu gần đây cho thấy, số lượng người sử dụng các công cụ của Google ngày càng nhiều, đặc biệt trong học tập và làm việc Điều này cho phép mô hình không gian giảng dạy trực tuyến được xây dựng trên nền tảng các công cụ của Google sẽ có tính khả thi cao
2 NỘI DUNG
2.1 Lớp học ảo và công cụ Google Workspace
Trong bất cứ không gian học tập nào thì lớp học luôn là cấu phần quan trọng nhất Khi dạy học thông qua Internet, phần lớn các ứng dụng công nghệ đều cố gắng mô phỏng và đặc tả lại mô hình lớp học truyền thống [5] Theo [4], lớp học ảo (Virtual
Classroom) là lớp học đồng bộ do giảng viên (GV) hướng dẫn, người học tham gia
trực tuyến cùng một lúc nhưng ở các địa điểm khác nhau Lớp học ảo cung cấp công
cụ, tính năng để những người tham gia có thể giao tiếp hai chiều qua âm thanh, hình ảnh, các tương tác đa dạng, có phòng cho các hoạt động nhóm nhỏ
Lớp học ảo đòi hỏi sự tương tác bền vững và chặt chẽ với nhau, giữa các thành viên tham gia và nội dung, giữa GV với sinh viên (SV) và giữa SV với nhau, nếu thiếu
sự tương tác đó, việc học tập sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn [4]
Lớp học ảo cho phép các nhà trường xây dựng, lưu trữ và sử dụng tài nguyên đào tạo, cũng có thể chỉnh sửa, lưu trữ các bài giảng trong thư viện trực tuyến, SV có thể xem lại bài giảng trước đó từ bất cứ nơi đâu, bất kể lúc nào
Google Workspace là một bộ công cụ tập trung vào hợp tác làm việc từ xa, các nền tảng Google Workspace cung cấp các tính năng phù hợp cho đào tạo, giảng dạy với quy trình làm việc chuyên nghiệp [6] Theo [7], Google Workspace là công cụ làm việc, giảng dạy, hợp tác và giao tiếp với khả năng xây dựng, lưu trữ và sử dụng tài nguyên phong phú, thân thiện không chỉ phù hợp trong điều kiện dịch bệnh Covid-19
mà còn ngay cả trong điều kiện xã hội bình thường Bộ công cụ của Google chứa nhiều tính năng lý tưởng trên các nền tảng hợp tác làm việc theo nhóm, khả năng kết nối thông minh, bộ lưu trữ lớn là những lý do chúng tôi khai thác, sử dụng
Hình 1: Các công cụ trên Google Workspace
Trang 3Google Classroom là một ứng dụng web miễn phí được phát triển bởi Google
dành cho các trường học và được tích hợp với các dịch vụ Google khác như Google Drive, Google Docs, Sheets, Slides, v.v nhằm đơn giản hóa việc giảng dạy của các giáo viên [8] Học sinh có thể tham gia vào lớp học khi được giáo viên của lớp đó cung cấp một mã lớp học, hoặc tự động được thêm vào bởi nhà trường Mặc định một thư mục mang tên Google Classroom sẽ được tạo trong Drive của học sinh đó, là nơi để học sinh nộp các bài tập trực tuyến cho giáo viên Giáo viên có thể theo dõi quá trình học tập, chấm bài, nhận xét cũng như xếp hạng học tập cho các học sinh
Google Drive là dịch vụ lưu trữ và đồng bộ hóa tập tin được tạo bởi Google Nó
cho phép người dùng có thể lưu trữ tập tin trên đám mây, chia sẻ tập tin và chỉnh sửa tài liệu, văn bản, bảng tính, bài thuyết trình
Google site là ứng dụng trực tuyến giúp người dùng có thể tạo website dễ dàng
như chỉnh sửa tài liệu cơ bản Với Google Site, bạn có thể thu thập nhanh chóng nhiều loại thông tin khác nhau trong cùng một vị trí bao gồm video; lịch; tệp đính kèm; văn bản; bản trình bày… Đồng thời nó còn dễ dàng chia sẻ những thông tin này để xem hoặc chỉnh sửa với nhóm nhỏ, toàn bộ tổ chức hoặc với mọi người
2.2 Xây dựng mô hình không gian học tập trực tuyến E-Learnspace
Áp dụng mô hình lớp học ảo, với việc lấy người học làm trung tâm, sử dụng các công cụ Google Workspase, chúng tôi tiến hành xây dựng mô hình không gian học tập trực tuyến E-Learnspace
Đảm bảo mối liên kết giữa 3 yếu tố: người học - công cụ - người dạy (GV, cán bộ
quản lí, kĩ thuật viên, trợ lí, giáo vụ…)
Hình 2: Các thành tố của hệ thống dạy học trực tuyến
Trang 4Người học: Là học sinh hoặc SV, đối tượng thụ hưởng chính của quá trình dạy học Một số yêu cầu người học:
• Có thiết bị và biết sử dụng thiết bị công nghệ (máy tính, laptop, thiết bị thông minh …)
Người dạy: Bao gồm cán bộ quản lí, GV, kĩ thuật viên, giáo vụ Một số yêu cầu của người dạy:
Mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống
Bằng việc phân tích các nhiệm vụ, chức năng của các thành tố, trên cơ sở mô hình lấy học sinh làm trung tâm [4], mô hình E-LearnSpace đã xác lập các mối quan
hệ trong mô hình này
Hình 3: Mối quan hệ trong không gian học tập trực tuyến
Mối quan hệ (1) là sự phối hợp hai chiều giữa các nhân tố quan trọng của mô hình Trong mối quan hệ này, nhà quản lí phối hợp cùng GV xây dựng kế hoạch dạy học, kĩ thuật viên hỗ trợ cán bộ quản lí và GV sử dụng ứng dụng hiệu quả
Trong mối quan hệ (2), người GV tập hợp tư liệu, học liệu để xây dựng nội dung bài học Học liệu cần phong phú về hình thức (video, hình ảnh, âm thanh, mô phỏng …)
kể cả video được ghi hình lại từ chính buổi dạy trước của GV Nội dung của bài học
Trang 5cũng tác động ngược trở lại với GV, thông qua kết quả của bài giảng trước, GV có thể
thay thế, bổ sung, điều chỉnh nội dung, học liệu để bài giảng đạt hiệu quả cao nhất
Mối quan hệ (3) là giữa các SV với nhau, SV có thể trao đổi bài học, hợp tác làm
việc nhóm, cùng hoàn thành một nhiệm vụ học tập nào đó Thông thường, mối quan
hệ này sẽ phát huy hiệu quả khi sử dụng dạy học hợp tác, dạy học theo dự án với hình
thức dạy học kết hợp (Brended learning)
Các mối quan hệ (1), (2) và (3) là các mối quan hệ bên ngoài lớp học ảo, thường
xảy ra trước để chuẩn bị cho buổi học bằng lớp học ảo đạt kết quả cao
Mối quan hệ (4), (5), (6), (7) và (8) là các tương tác hai chiều thông qua lớp học
ảo Tại đây, GV điều khiển buổi học, sử dụng nội dung, học liệu để truyền tải kiến thức
đến HS Còn SV là người tiếp nhận các thông tin học tập từ học liệu, GV cùng với sự
trao đổi với GV và SV khác để tiếp thu kiến thức Ngoài ra, cán bộ quản lí và kĩ thuật
viên tương tác với GV và SV thông qua lớp học ảo nhằm kiểm tra, giám sát và hỗ trợ
kĩ thuật cho lớp học Với vị trí là trung tâm, thông qua lớp học ảo, SV có thể tương tác
với tất cả các hợp phần khác của mô hình, qua đó tiếp thu kiến thức của bài học Xây
dựng mô hình bằng các công cụ Google Workspace
Sử dụng đồng bộ các công cụ của Google workspace để xây dựng hệ thống quản
lý cũng như vận hành E-Learnspace Tùy thuộc vào điều kiện cũng như là nhu cầu của
từng nhà trường mà sử dụng các công cụ cho phù hợp (Hình 4)
- Xây dựng trang web quản lý chung bằng Google Sites:
H ình 1: Mô hình E-LearnSpace
Hình 4: Mô hình E-Learnspace
+ Website có giao diện đơn giản thân thiện Ở người học cũng như người dạy,
quản lí dễ dàng, tìm kiếm và truy cập vào lớp học mình cần
Trang 6+ Người dùng chỉ cần click vào biểu tượng hoặc tê lớp học, hệ thống sẽ dẫn đến lớp học ảo của lớp học đó
Hình 5: Website quản lí chung các lớp học ảo
- Thiết lập lớp học ảo bằng công cụ Classroom: Lớp học ảo là trung tâm của hệ
thống, sử dụng tài khoản Nhà trường để tạo các lớp học (Hình 6), trong đó:
+ Tài khoản giáo viên: gồm cán bộ quản lí, kĩ thuật viên, người kiểm tra, giáo vụ (nếu có) và GV dạy các học phần, chuyên đề của lớp
+ Tài khoản học sinh: gồm các SV của lớp, được cấp quyền bằng các email cá nhân hoặc email do nhà trường cấp
Trang 7+ Tuỳ điều kiện, có thể phân quyền cho GV, giáo vụ hay SV thiết lập một số thông tin cơ bản của lớp học như thời khoá biểu, thông tin cá nhân
+ Giảng viên xây dựng kế hoạch học tập cũng như hình thức, phương pháp dạy học GV có thể sử dụng hình thức dạy học online trực tiếp (sử dụng Google Meet tích hợp sẵn trong lớp) hoặc dạy học kết hợp (B-Learning)
+ Sử dụng các ứng dụng liên kết trong Classroom để xây dựng nội dung bài học như Driver, Youtube, bài kiểm tra, bài tập Hệ thống cho phép GV quản lí kết quả học tập của
SV, kết quả các bài kiểm tra cũng như nhiệm vụ học tập như dự án, bài tập lớn (Hình 7)
Hình 7: Giao diện của một lớp học ảo
3 KẾT LUẬN
Trong khi môi trường xã hội đặt ưu tiên nhiều hơn vào kỹ thuật số, thích ứng với các công cụ cộng tác trực tuyến, kỹ năng sử dụng công nghệ trong công việc Trong điều kiện thực tiễn như vậy, các nhà giáo dục cần cung cấp các cơ hội học tập, mở rộng không gian học tập cho nhiều đối tượng khác nhau và học tập mọi nơi, mọi lúc Việc
sử dụng công nghệ trong giáo dục không chỉ nhằm làm tăng chất lượng bài học mà còn tăng cả về hiệu quả khi cung cấp cho nhiều đối tượng người học hơn, với không gian và thời gian rộng mở
E-Learnspace giúp mọi người có thể tiếp cận với tri thức truyền tải từ các nhà giáo dục, các nhà trường dễ dàng hơn, là điều kiện thuận lợi để thực hiện giáo dục
mở, giáo dục suốt đời Bên cạnh đó, hệ thống cũng yêu cầu các cơ sở giáo dục cũng như bản thân đội ngũ nhà giáo cũng có trách nhiệm cao hơn đối với nguồn tri thức
Trang 8mà mình truyền tải đến người học, đến xã hội Điều này giúp quá trình giáo dục được công khai, minh bạch, là yếu tố căn bản để thực hiện việc “đào tạo thật”
Google Workspace là bộ ứng dụng trực tuyến phổ biến, cung cấp nhiều công
cụ hữu ích và phù hợp cho giáo dục, chi phí phải bỏ ra để sử dụng là không đáng kể (nhiều công cụ còn miễn phí) Ngoài ra, hệ thống cũng không đòi hỏi người sử dụng phải có trình độ công nghệ cao, do đó lựa chọn Google Workspace để xây dựng không gian học tập “E-Learnspace” là một giải pháp hợp lý Mô hình được đề xuất tại nghiên cứu này có thể áp dụng linh hoạt cho nhiều nhà trường khác nhau
Trong bối cảnh thực tiễn vấn đề “chất lượng thực” của nền giáo dục Việt Nam, đặc biệt là giáo dục đại học, đang xây dựng nền giáo dục thực chất “học thật, thi thật, nhân tài thật” vì nền giáo dục chất lượng, vì cuộc sống chất lượng và sự phát triển của đất nước thì việc sử dụng công nghệ như một công cụ để nâng chất lượng giáo dục, tiến tới một xã hội học tập, học tập suốt đời là một giải pháp tốt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 J Frith, “Introduction to business and technical,” Journal of Business and Technical, pp
1-6, 2021
2 A Gardner, “BNN Bloomberg,” 16 3 (2021), [Trực tuyến] Available: https://www bnnbloomberg.ca/remote-work-listings-in-u-s-doubled-in-year-job-sitef-inds-1.1577529.
3 A Hartocollis, “After coronavirus, colleges worry: Will students come back?,” 15 April
2020 [Trực tuyến] Available: https://www.nytimes.com/2020/04/15/us/coronavirus-colleges -universities-admissions.html.
4 Ruth Colvin, Ann Kwinn (2007), The new virtual classroom, San Francisco: Pfeiffer
5 Janette R Hill, David Wiley, Laurie Miller Nelson, Seungyeon Han (2004), “Exploring
Research on Internet-based Learning: From Infrastructure to Interactions,” trong Handbook
of Research on Educational Communications and Technology, New York, Routledge, p 28.
6 M Mendoza, “Business Wire,” 21 October 2020, [Trực tuyến] Available: https://www businesswire.com/news/home/20201021005187/en/Fuel-up-Your-Remote-Collaboration-With-Google-Workspace-and-Pluto7.
7 C Milanesi (2020), “Tech.Pinions,” 7 October, [Trực tuyến] Available: https://techpinions com/google-workspace-elevates-collaboration-by-focusing-on-the-task-at-hand/60144.
8 Google, 18 6 (2021), [Trực tuyến] Available: https://workspace.google.com/intl/vi/.
9 David, Kimberly (2007), “A Constructivist Approach to Introducing Education,” Building Teachers.
10 Google, “Appsheet,” 25 5 2021 [Trực tuyến] Available: https://www.appsheet.com/.
11 Russell T Osguthorpe, Charles R Graham (2003), “Blended Learning Environments:
Definitions and Directions,” The Learning and Technology Library
12 Maryam Tayebinik, Marlia Puteh (2012), “Blended Learning or E-learning?,” International
Magazine on Advances in Computer Science and Telecommunications (IMACST), 3(1), pp
103-110
Trang 913 Thủ tướng Chính phủ (2021), “Chiến lược phát triển KH-CN giai đoạn 2011 – 2020,” Quyết
định số 418/QĐ-TTg, 11 4 2021
14 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.
15 Đinh Quanh Báo (2017), Chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
phổ thông, NXB ĐH Sư phạm Hà Nội
16 Rychen, D.S & Salgnik, L.H (2001), Definition and Selection of Key Competencies, OECD,
Key DeSeCo Publication
17 Guglielmino, L M (1977), “Development of the Self-Directed Learning Readiness Scale,”
Doctoral Dissertation Athens, Georgia: University of Georgia.
18 Haggerty, D L, (2000), “Engaging Adult Learners in Self-Directed Learning and its Impact
on Learning Styles,” Unpublished Doctor of Philosophy Thesis, University of New Orleans,
New Orleans.
19 Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, https://hnmu.edu.vn, 18 6 2021 [Trực tuyến] Available:
https://hnmu.edu.vn/so-do-to-chuc/so-do-to-chuc.html.
20 Merriam, S B., Caffarella, R S., and Baumgartner, L M, (2007), Learning in Adulthood,
San Francisco: CA: Jossey-Bass
21 Akbari, S., Ghanbari, A., & Ghanbari, M., (2013), “Learning styles and academic performance
of students in English as a second-language class in,” Bulgarian Journal of Science and
Education Policy (BJSEP), p.12
22 Mehdi Mehri Shahabadi, Megha Uplane, (2015), “Synchronous and asynchronous e-learning
styles and academic,” Procedia - Social and Behavioral Sciences, pp.129 - 138
23 Karen Hyder, Ann Kwinn, Ron Miazga, Matthew Murray (2007), Synchronous e-learning,
Santa Rosa: David Holcombe
24 Clark, Dublin, L., Gottfredson, C., Horton, B., Mosher, B., Parks, E., et al., (2007), The
eLearning Guild’s Handbook on Synchronous e-Learning, Santa Rosa: David Holcombe,
eLearning Guild.