Bài viết Năng lực và nhân cách người thầy - Yếu tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục đề cập đến vấn đề năng lực và phẩm chất, tư cách của người thầy nhìn từ nền giáo dục Nho học và nền giáo dục của ta những năm gần đây. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1PGS.TS Bùi Xuân Đính* 1
Tóm tắt: Trong nền giáo dục của bất kỳ thể chế nào, vai trò của người thầy cũng rất quan trọng Mỗi nền giáo dục có nội dung,
quy trình, quy cách đào tạo riêng, có thể khơi dậy và phát huy tính năng động của học trò ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, tính năng động, chất lượng học tập của học trò hay chất lượng giáo dục nói chung của bất kỳ nền giáo dục nào cũng phụ thuộc rất lớn vào năng lực và phẩm chất, tư cách của người thầy Bài viết đề cập đến vấn đề năng lực và phẩm chất, tư cách của người thầy nhìn
từ nền giáo dục Nho học và nền giáo dục của ta những năm gần đây.
Từ khóa: Năng lực, chất lượng giáo dục, người thầy.
MỞ ĐẦU
Nhiều năm gần đây, dư luận xã hội quan tâm, bàn luận đến nhiều khía cạnh của nền giáo dục nước nhà, như chương trình học, thi cử, chất lượng giáo dục, người thầy,
học trò và quan hệ thầy trò… ở tất cả các bậc học Nhân Hội thảo quốc gia Xây dựng
nền giáo dục chất lượng - định hướng và giải pháp của Trường Đại học Thủ đô Hà
Nội, xin bàn đến một chủ đề không mới, nhưng vẫn luôn mang tính thời sự Đó là ảnh hưởng của năng lực và nhân cách người thầy đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục, bởi ai cũng biết, trong giáo dục nói chung, nghề dạy học nói riêng, chất lượng học tập của học sinh phụ thuộc rất lớn vào chất lượng hoạt động sư phạm của thầy và thường có tương quan tỉ lệ thuận với nhau Tư cách phẩm chất đạo đức của người thầy
có ảnh hưởng rất lớn và trực diện đến tư cách đạo đức và khả năng, kết quả học tập của học sinh Qua hàng nghìn năm nuôi các thế hệ con em ăn học, cha ông ta đã tổng kết
“thầy nào trò đó” Bài viết này nhìn nhận vấn đề năng lực và nhân cách người thầy từ
nền giáo dục, khoa cử Nho học và so sánh với người thầy trong nền giáo dục hiện nay
1 NGƯỜI THẦY TRONG NỀN GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ NHO HỌC
Trong nền giáo dục Nho học, những người thầy gồm các thành phần sau:
- Một số làm việc trong các cơ sở giáo dục công lập (do Nhà nước lập ra, như các trường học của trấn thời Lê (tỉnh thời Nguyễn), hay của phủ, huyện Đây là những người có học vị từ Hương cống (Cử nhân thời Nguyễn) trở lên, có ngạch quan Trong
* Hội Dân tộc học Việt Nam
Trang 2số họ, một số vừa dạy học, vừa giữ vai trò quản lý, tức các quan đứng đầu ngành của các cấp địa phương (Đốc học ở trấn/ tỉnh; Giáo thụ ở phủ; Huấn đạo ở huyện) Ở bậc học cao nhất (Học sinh học tại Quốc Tử Giám), có tế tửu Quốc Tử Giám cùng các
quan tư nghiệp, trực giảng, ngũ kinh bác sĩ… Tất cả các bậc quan này gọi chung là
Học quan Họ được hưởng lương do Nhà nước chi trả
- Số các thầy đông đảo còn lại, có thể chia thành các nhóm sau:
+ Những người không may mắn đỗ đạt, hoặc đỗ đạt ở mức thấp (sinh đồ), nhưng không ra làm quan mà ở nhà, lấy “gõ đầu trẻ” làm nghề Các thầy này thường gọi
là “ông đồ”, dạy ở trình độ sơ học, tức trang bị các kiến thức cơ sở, cơ bản của các chương trình giáo dục Nho học
+ Các quan đã nghỉ hưu, hay bị cho về hưu, hoặc bị cách quan, về nhà mở lớp dạy học trò, theo phương châm “Tiến vi quan, thoái vi sư”
+ Một số ít là các quan đương chức, mở lớp dạy vào ngoài giờ hành chính, thậm chí một số vị quan mở trường, để dạy cho con - cháu mình và con - cháu bạn bè thân cận Hai loại thầy sau thường dạy học trò ở trình độ cao, có đủ kiến thức, kinh nghiệm
để dự các kỳ thi Hương, thi Hội)
Phần viết này tập trung phân tích các khía cạnh về những người thầy thuộc ba thành phần sau, không thuộc các học quan
1 Đặc điểm chung, nổi bật của bậc thầy thuộc ba thành phần trên đây là hành
nghề tự do, song phạm vi, mức độ hoạt động có khác nhau.
- Với các ông đồ, họ dạy học ngay tại làng, hoặc các làng bên, song nhiều khi họ
đi đến những làng quê rất xa (chẳng hạn, các ông đồ từ vùng Thanh Nghệ ra các làng quê ven Hà Nội, thậm chí lên cả các vùng trung du, miền núi thấp để dạy học) Lớp học của thầy nhiều hay ít học sinh tùy thuộc vào số trẻ con đang độ tuổi đi học của làng (và các làng bên), sự quan tâm của các bậc cha mẹ với việc học của con em và điều quan trọng nhất là trình độ và nhân cách của người thầy
- Với các quan đã nghỉ hưu (hay bị cho về hưu, hoặc bị cách quan), về nhà mở lớp dạy học trò, thường dạy ở ngay nhà, song nhiều khi phải “tìm đến” các làng quê
có truyền thống học hành để có nhiều học trò theo học Chẳng hạn, Tiến sĩ Nguyễn Đính Trụ (1627 - 1703), người làng Nguyệt Áng (nay thuộc xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội sau khi về hưu, ban đầu mở lớp dạy học ở nhà, sau lên làng Vẽ
- Đông Ngạc, một làng nổi tiếng về truyền thống học hành, đỗ đạt để mở lớp, rồi mở trường dạy học, học trò đông tới hàng nghìn, có hơn 70 người đỗ tiến sĩ, nhiều người sau đó được thành đạt Thời bấy giờ coi ông là “một công phái thầy học”
Trang 3- Với các quan còn đương chức: họ mở lớp dạy ngay tại nơi làm quan; sau này, khi về hưu hoặc được luân chuyển đi nơi khác thì giao lại cho đồng liêu có quan tâm đến việc đào tạo; hoặc về nhà mở lớp Điển hình là Tiến sĩ Nguyễn Huy Nhuận (1678
- 1758), người làng Phú Thị (xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội), mở lớp dạy học ở ngay nơi làm quan; khi về hưu lại cùng với con (Tiến sĩ Nguyễn Huy Dận)
và cháu nội (Tiến sĩ Nguyễn Huy Cận) mở rộng trường Phương Am (do Nguyễn Huy Cận lập ra), trở thành trường có tiếng ở vùng Kinh Bắc khi đó
2 Để hành nghề được lâu dài tại một làng hay một vùng quê hoặc ở nơi làm quan,
các thầy đều phải tạo ra “thương hiệu” cho mình, gồm thương hiệu về kiến thức và thương hiệu về phẩm chất, tư cách Hai thương hiệu này không tách rời nhau, được
coi trọng như nhau Không phải ngẫu nhiên mà xưa kia, các bậc cha mẹ phải rất kỹ lưỡng trong việc tìm, chọn thầy cho con khi bước vào “nghiệp học”: phải là những thầy “văn hay, chữ tốt”, có nhân cách, có ảnh hưởng rộng lớn trong làng xóm Vì thế, nhiều gia đình nghe ngóng, tìm hiểu, rồi cất công đi tận những vùng quê xa đón thầy
về dạy cho con (với học trò ở bậc sơ học; còn ở bậc cao hơn, học trò đã lớn, trưởng thành, thì không ngần ngại bỏ thời gian, công sức đi tìm các thầy có danh tiếng, dù
ở các huyện phủ, thậm chí ở cả các trấn (tỉnh) khác) Trên thực tế, đa số các ông đồ
là những người từng “sôi kinh nấu sử”, khổ luyện trong việc học, việc thi, kiến thức tương đối vững chắc, nhưng họ vẫn không ngừng đọc sách, luyện chữ để vững kiến thức truyền đạt cho học trò
Cùng với điểm chung là tạo lập uy tín về kiến thức, các thầy ở các bậc học xưa kia đều chú trọng đến uy tín về phẩm chất, tư cách đạo đức người thầy, thể hiện tập trung nhất ở việc hết lòng vì học trò Các thầy là “ông đồ” vốn là những người không có may mắn thành đạt trên đường công danh khoa cử, trở về với việc “gõ đầu trẻ”, nên “dồn” kiến thức, kinh nghiệm cho trò; không coi dạy học là nghề để làm giàu, mà chỉ là một phương kế sinh nhai, chấp nhận cuộc sống đạm bạc từ sự đóng góp hạn hẹp của học trò, gia đình, làng xã 1 Các thầy đã và đang làm quan có lương/ lương hưu, cuộc sống
đỡ chật vật, nhưng nhìn chung vẫn đạm bạc Mặc dầu vậy, các thầy ở tất cả các bậc
dạy đều lấy sự thành đạt của học trò làm niềm vui, vinh dự nghề nghiệp và cũng là sự
thành đạt của mình Không một tổ chức, cơ quan chuyên môn hay cơ quan hành chính
nào quản lý, giám sát việc dạy của các thầy, nhưng các thầy luôn biết “giữ mình” Để hành nghề được lâu dài tại một vùng quê, họ một mặt phải đem hết tâm huyết để dạy học trò, truyền cho trò tất cả vốn kiến thức và kinh nghiệm mình có để trò học hành tiến bộ và thành đạt Các thầy luôn mong có nhiều học trò không phải vì thu nhập,
1 Xưa kia, nguồn thu của các thầy dạy học trong làng được hình thành chủ yếu từ ruộng công của làng dành cho
việc học (học điền, diện tích nhiều ít tùy từng làng), hoặc ruộng do gia đình các học trò đóng góp; hoặc tiền,
thóc từ sự quyên góp của học trò, đồ biếu ít ỏi, mang giá trị tinh thần là chính của học trò vào các dịp lễ tết.
Trang 4mà vì muốn truyền đạt kiến thức cho họ Bên cạnh đó, các thầy luôn biết giữ và nêu gương về nhân cách, lối sống Chính vì thế, các thầy giáo luôn được coi là những bậc mẫu mực, có ảnh hưởng lớn với học trò, được học trò kính trọng suốt đời Các thầy cũng có uy tín lớn trong cộng đồng làng, bằng vốn kiến thức tích lũy được, bằng tấm lòng với học trò và bằng nhân cách của mình Trong hầu hết các công việc của cộng đồng, dân làng, cả các chức dịch thường hỏi ý kiến thầy, trước khi đưa ra quyết nghị thực thi Nhờ sự hết lòng của các thầy mà nhiều học trò học hành tấn tới, nhiều người sớm vượt qua được các kỳ thi đầy khắc nghiệt, được nhận các mức học vị Nhiều thầy giáo rất nổi tiếng, “mát tay” trong việc dạy học trò, giúp được nhiều lớp học trò đỗ đạt, trong đó có nhiều người đỗ cao, không chỉ ở các kỳ thi Hương, mà cả các kỳ thi Hội, thi Đình Học trò khắp nơi biết tiếng, đã tìm đến xin học, mà không học ở các trường công, hay các trường, lớp tư ở địa phương mình Chính vì hiện tượng “tự do chọn thầy, chọn trường, lớp” mà các thầy phải tự ganh đua, “rèn giũa” mình, để tạo niềm tin cho những người đến xin “thụ nghiệp” Điều này vô hình trung là sự lựa chọn, đào thải tự nhiên, cạnh tranh chất lượng trong giáo dục: thầy nào không có kiến thức cao, nhân cách “có vấn đề” sẽ dễ bị học trò “xa lánh” Và cũng chính hiện tượng này mà xảy ra tình trạng “bệnh thành tích” ở một số quan phụ trách giáo dục ở một số địa phương, triều đình phải chấn chỉnh1
2 NGƯỜI THẦY TRONG NỀN GIÁO DỤC HIỆN NAY
Trong nền giáo dục của ta, các thầy, cô giáo được phân công giảng dạy theo bộ môn, lớp, chịu sự quản lý của Nhà nước, thông qua ngành giáo dục mà trực tiếp là Ban Giám hiệu, tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên trong nhà trường Không thể phủ nhận được vai trò to lớn của đội ngũ các nhà giáo đối với những thành tựu của nền giáo dục mới và sự thành đạt của bao lớp học trò trong mấy chục năm qua Đã có biết bao người thầy không màng danh lợi, sống đạm bạc, suốt đời vì sự nghiệp đào tạo học trò, có nhiều học trò thành đạt Nhiều người được nhận các danh hiệu cao quý “Nhà giáo nhân dân”, “Nhà giáo ưu tú”
Tuy nhiên, trong khoảng 30 năm trở lại đây, đặc biệt là từ khi nền kinh tế - xã hội chịu nhiều tác động từ những mặt trái của cơ chế thị trường, một bộ phận giáo viên xa rời đạo lý của người thầy Sự sa sút đạo lý làm thầy là một trong những nguyên nhân chính yếu nhất dẫn đến chất lượng giáo dục (biểu hiện ở trình độ mặt bằng chung của học sinh) có hướng giảm sút, quan hệ thầy trò xuống cấp
1 Điển hình là vào đời vua Minh Mạng (1820 - 1841) có quy định, học trò học ở đâu, bất kể là ở huyện, phủ, tỉnh nào thì tính thành tích cho học quan địa phương đó Tuy nhiên, một số học quan địa phương đã
ép, vận động người đi ghi vào phần lý lịch học tập là học tại địa phương mình, nơi các học quan đó nhậm
trị, triều đình đã phải chấn chỉnh (Đại Nam thực lục, tập 3, NXB Giáo dục, tập 3, 2004, tr 503 - 504).
Trang 5Vì những lý do trên, ngành giáo dục cần có những biện pháp nâng cao phẩm chất,
ý thức trách nhiệm của đội ngũ giáo viên Trước hết là tăng cường công tác giáo dục
tư tưởng, để mỗi thầy cô giáo coi việc được đứng trên bục giảng là vinh dự cao quý
và trách nhiệm thiêng liêng Song điều quan trọng là phải có cơ chế ràng buộc trách nhiệm của giáo viên thông qua chỉ tiêu về kết quả học tập của học sinh ở lớp hay bộ môn mà từng người đảm nhận dạy, có chế độ khen thưởng hay kỷ luật thoả đáng Kiên quyết không để người không đủ năng lực chuyên môn, tư cách đạo đức kém đứng trên bục giảng (xưa kia, người thầy dạy kém, tư cách kém thường bị các học trò và gia đình
họ “tẩy chay”) Để đánh giá đúng năng lực và phẩm chất của giáo viên, hàng năm nên lấy ý kiến (bằng phiếu kín) của các giáo viên trong nhà trường và có thể kết hợp với lấy ý kiến của học sinh Chế độ lương và phụ cấp cho giáo viên, nhất là giáo viên ở nông thôn cần được xem xét điều chỉnh lại để người đứng trên bục giảng có thể đảm bảo nhu cầu cuộc sống
Gắn với việc nâng cao năng lực và phẩm chất của đội ngũ giáo viên, cần ổn định
thầy trong trường, lớp để thầy hiểu trò, theo dõi, phát hiện học sinh Xưa kia, hầu hết
các thầy chỉ hành nghề tại một vùng nhất định, gắn bó với một lớp học trò hàng chục năm, với học trò của làng quê hay vùng quê đó suốt đời, nhờ đó mà thầy dễ dàng nhận
ra những mặt yếu kém của trò, những học trò có khả năng học thêm để tìm cách bồi dưỡng, rèn giũa thành tài
Còn trong nền giáo dục mới, ở bậc Tiểu học, mỗi lớp do một thầy (hoặc cô giáo) dạy, sang năm, khi các em chuyển lên lớp trên lại do thầy cô khác dạy Như vậy, trong 5 năm học Tiểu học, mỗi học sinh được học đến 5 thầy với trình độ, phong cách truyền đạt kiến thức khác nhau Điều đó có mặt tốt là học sinh được tiếp xúc với kiến thức và kinh nghiệm nghề nghiệp của nhiều thầy, song lại có mặt bất cập
là các thầy khó có điều kiện gắn bó với các em để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, kèm cặp các em học kém để vươn lên, bởi hết năm học, giáo viên chỉ có một việc đơn giản là bàn giao lại lớp cho nhà trường với bảng kết quả học lực của học sinh
mà không phải chịu trách nhiệm gì với lớp đó nữa Ở bậc THCS và PTTH cũng có tình trạng gần tương tự: mỗi thầy cô đảm trách một (hoặc 2) môn học ở 1 - 2 lớp của một khối Cách bố trí giảng dạy này cũng có tính hai mặt, vừa tích cực và vừa bất cập như ở bậc tiểu học Đó là vì các thầy cô là người trực tiếp lên lớp, hiểu rõ những
bất cập trong việc bố trí lớp dạy, môn dạy và giờ dạy Vì thế, đối với bậc Tiểu học,
bố trí ổn định mỗi thầy cô giáo dạy liên tục một lớp trong suốt bậc học; tương tự như vậy, đối với bậc THCS và PTTH, mỗi môn học bố trí một giáo viên dạy một lớp trong suốt 3 (hoặc 4) năm của bậc học
Nếu các thầy, cô giáo ở bậc phổ thông là những người trao truyền kiến thức nền cho học sinh, đòi hỏi phải có năng lực và nhân cách tốt thì các thầy cô ở bậc trên đại
Trang 6học (đào tạo học vị thạc sĩ, tiến sĩ), yêu cầu đó cao hơn nhiều Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích, từ nhiều năm nay, trong đào tạo ở bậc đại học của ta bộc lộ nhiều bất cập, do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ phía người thầy như hạn chế trong chuyên môn của một số giáo viên
Năng lực và phẩm chất của người thầy đóng vai trò quan trọng trong chất lượng giáo dục - đào tạo Xuất phát từ những bất cập, hạn chế hiện nay, đòi hỏi ngành giáo dục, các cơ sở đào tạo cần xây dựng quy chế đào tạo, chiến lược giáo dục hướng đến tạo dựng một nền giáo dục thực chất, hiệu quả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Xuân Đính (2010), Giáo dục và khoa cử Thăng Long - Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
2 Bùi Xuân Đính, Nguyễn Viết Chức (Đồng chủ biên, 2010), Các làng khoa bảng Thăng Long
- Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3 Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, bản dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội, tập 2