Bài viết Giáo dục đại học Việt Nam hướng tới nền giáo dục thực chất phân tích những hạn chế của GDĐH Việt Nam trong thời gian qua, đề xuất một số giải pháp để GDĐH Việt Nam hướng tới nền giáo dục thực chất, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TS Đồng Thị Vân Hồng* 1
Tóm tắt: Giáo dục đại học (GDĐH) đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp nguồn nhân lực bậc
cao và đóng góp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước GDĐH cần phát huy tốt kết quả của nền giáo dục phổ thông để đào tạo được một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, có các kỹ năng mềm, có tư duy sáng tạo và khả năng học tập suốt đời để đáp ứng và thích nghi với sự thay đổi liên tục của thị trường lao động toàn cầu Trên cơ sở phân tích những hạn chế của GDĐH Việt Nam trong thời gian qua, bài viết đề xuất một số giải pháp để GDĐH Việt Nam hướng tới nền giáo dục thực chất, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Từ khóa: Hạn chế giáo dục đại học Việt Nam, nền giáo dục thực chất, giải pháp.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, trong xu hướng toàn cầu hóa và phát triển nền kinh tế tri thức, GDĐH có vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục của một quốc gia Trong những năm qua, hệ thống GDĐH của Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước thông qua việc mở rộng về quy mô, đa dạng hóa các loại hình và ngành nghề đào tạo, nâng cao chất lượng và bước đầu hội nhập quốc tế Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, yếu kém GDĐH của Việt Nam, cụ thể là chương trình GDĐH chưa gắn kết với thị trường lao động; Chất lượng của lực lượng lao động được đào tạo trình độ ĐH vẫn chưa đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế; thiếu các nghiên cứu khoa học có chất lượng quốc tế từ các cơ sở GDĐH; thiếu chính sách tạo động lực hiệu quả đối với đầu tư của xã hội, doanh nghiệp cho GDĐH; cơ chế tài chính cho giáo dục ở cấp quốc gia lẫn cấp cơ sở chưa hiệu quả và thiếu bền vững… [2]
Với tầm nhìn đến năm 2035, hệ thống GDĐH của Việt Nam có khả năng đáp ứng hiệu quả nhu cầu nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức; tiên phong và dẫn dắt quá trình đổi mới, sáng tạo trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; hội nhập toàn diện với
* Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.
Trang 2hệ thống GDĐH thế giới, từ đó góp phần quan trọng thúc đẩy năng lực cạnh tranh và sự thịnh vượng của quốc gia [2] Do vậy, đòi hỏi GDĐH Việt Nam phải hướng tới một nền giáo dục thực chất Điều này không chỉ cho thấy tính cấp bách của vấn đề, mà còn chứng
tỏ truyền thống hiếu học, coi trọng phát triển nhân tài của dân tộc Việt Nam nói chung
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để phân tích hạn chế và nguyên nhân của hạn chế GDĐH, tác giả thu thập số liệu thứ cấp từ: chiến lược về phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ;
số liệu thống kê về GDĐH trong các báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD
& ĐT); số liệu thống kê của các bộ, ngành; các sách, báo, tạp chí chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Bài viết đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống
kê so sánh, kết hợp phân tích đánh giá vấn đề nghiên cứu Căn cứ vào việc phân tích thực trạng những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế GDĐH Việt Nam; Luật Giáo dục 2019; Chiến lược tổng thể giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ GD
& ĐT, tác giả đã đề xuất giải pháp cho vấn đề nghiên cứu
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Những hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam
(1) Nội dung chương trình GDĐH chưa gắn kết với thị trường lao động Thiết kế,
cấu trúc của chương trình giảng dạy, cách đánh giá cũng như phương pháp dạy và học
chậm đổi mới ảnh hưởng đến chất lượng của sinh viên khi ra trường Cấu trúc và nội dung, thời lượng các môn học điều chỉnh còn chưa hợp lý, cân đối và hấp dẫn [1]; [2] + Nội dung kiến thức đào tạo còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa tạo được sự thống nhất gắn mục tiêu giáo dục với mục tiêu tìm kiếm việc làm đối với người học
+ Chưa tạo được sự liên thông giữa các chuẩn mực GDĐH trong nước và quốc
tế Mặc dù được đặt dưới sự quản lý và giám sát chặt chẽ của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhưng trên thực tế, khả năng liên thông kiến thức giữa các cơ sở GDĐH ở nước
ta hiện nay còn rất hạn chế, ít thừa nhận và tiếp nhận các kết quả đào tạo của nhau, nên người học rất khó khăn khi chuyển trường, ngành học Việc liên thông kiến thức giữa các cơ sở GDĐH trong nước và ngoài nước lại càng khó khăn hơn do có
sự khác biệt về mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo giữa các cơ sở GDĐH trong nước và quốc tế (trừ các chương trình liên kết đào tạo theo thỏa thuận) Điều này không những gây khó khăn cho người học khi muốn chuyển đến cơ sở giáo dục ngoài nước, mà ngay cả việc công nhận văn bằng, chứng chỉ của các cơ sở giáo dục trong nước tại các nước mà người học chuyển đến định cư hoặc công tác cũng không phải dễ dàng
Trang 3+ Chương trình học còn nặng với thời lượng lớn Một thống kê và so sánh cho thấy, thời gian học 4 năm ở một lớp đại học tại Việt Nam là 2.138 giờ so với Mỹ là 1.380 giờ [8] Như vậy chương trình học ở Việt Nam dài hơn 60% so với Mỹ Do vậy, người học khó tránh khỏi việc rơi vào trạng thái luôn bị áp lực hoàn thành các chương trình môn học, ít có thời gian để tự học, tự nghiên cứu, hoặc tham gia các hoạt động
xã hội khác
Theo đánh giá của các chuyên gia “…cỡ khoảng 20-22% các môn học hiện nay
ở đại học là không cần thiết, không liên quan tới kiến thức chung Trong đó mất 22% thời gian không cần thiết, và cắt đi cũng không ảnh hưởng gì tới kiến thức chung Thay vào đó chúng ta dành 22% này cho sinh viên tự học thì tốt hơn.” [9]
+ Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học, các trường đại học ở nước ta hiện nay nhìn chung chưa tiếp cận với các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học phổ biến của thế giới, việc áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của các trường đại học trên thế giới thường rất linh hoạt, dựa trên tinh thần đề cao vai trò của người học, tạo điều kiện tối đa cho người học có thể tự học, tự nghiên cứu Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, vai trò, vị trí của người học chưa thực
sự được quan tâm Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học còn khá lạc hậu
Sự đổi mới về phương pháp giảng dạy trong các trường đại học ở nước ta hiện nay nhiều khi chỉ mang tính hình thức Các thiết bị giảng dạy, như máy chiếu, video chỉ
là phương tiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng giảng dạy, việc cải tiến về phương pháp
và chương trình học vẫn chưa được chú trọng
(2) Cơ sở vật chất, trường lớp học, trang thiết bị dạy học nhiều nơi còn thiếu hoặc
bị xuống cấp; công tác xã hội hóa giáo dục chưa thực sự hiệu quả Nguồn kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất còn hạn hẹp [4] Các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Những năm gần đây, đăng ký tham gia kỳ thi tuyển sinh vào các trường đại học thường ở vào khoảng 1,6 -1,8 triệu lượt thí sinh, nhưng hệ thống các trường đại học chỉ có khả năng đáp ứng được khoảng 1/5 đến 1/6 số lượng trên [1]
(3) Đội ngũ giảng viên ở các trường đại học thay đổi rất ít trong suốt 20 năm qua trong khi số lượng sinh viên đã tăng lên gấp 3 lần Theo thống kê của Bộ GD & ĐT, tỷ
lệ giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư và trình độ tiến sĩ trong toàn hệ thống vẫn ở mức thấp, đến năm 2017, tỷ lệ này chỉ chiếm khoảng 22,6%, trong khi đó tỷ lệ tiến sĩ trong đội ngũ giảng viên trong các trường đại học mức trung bình ở phương Tây là khoảng 70% [1] Đội ngũ giảng viên, đặc biệt là giảng viên cơ hữu chưa đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn Việc ứng dụng kiến thức, kỹ năng thực hành của giảng viên các trường đại học Việt Nam khá là hạn chế so với nhu cầu được đào tạo
Trang 4(4) Hạn chế về khả năng nghiên cứu và công bố các kết quả nghiên cứu [2] Hầu hết các nền giáo dục tiên tiến của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới hiện nay đều có khả năng tạo ra một đội ngũ các nhà khoa học đông đảo có trình độ nghiên cứu
và công bố các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế với số lượng lớn Tại Việt Nam, những năm gần đây, mặc dù đã có sự quan tâm của nhiều cơ sở giáo dục trong việc tạo cơ chế khuyến khích các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và công bố các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế, nhưng kết quả vẫn còn hạn chế, thậm chí
có xu hướng ngày càng tụt hậu xa hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới
(5) Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước Cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý và chất lượng đào tạo hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) của đất nước Việc triển khai đào tạo chất lượng cao trình độ đại học không đồng đều, chủ yếu tập trung ở những trường đại học lớn trong khi các trường đại học do địa phương quản lý còn chậm được triển khai [1]
Khi xem xét chất lượng đào tạo theo 4 tiêu chí chất lượng của sinh viên tốt nghiệp là: kiến thức tổng quát (bao gồm kiến thức về xã hội, thông thạo kỹ thuật vi tính, tiếng Anh…); kiến thức chuyên môn; kĩ năng phát hiện, đặt và giải quyết vấn đề và tiêu chí nhân cách đã cho thấy chất lượng đào tạo của các trường đại học nước ta còn quá hạn chế Nhiều nhà doanh nghiệp (DN) cho rằng thực tế chỉ khoảng 10-30% số sinh viên tốt nghiệp là có thể đáp ứng được những yêu cầu cơ bản cho lao động của DN, còn đối với đa số trường hợp khi tuyển dụng, DN phải chấp nhận việc đào tạo lại [9]
Trong bảng xếp hạng của Times Higher Education năm 2018 Việt Nam không có trường đại học nào lọt vào danh sách 350 đại học hàng đầu châu Á [10], do các trường đại học ở Việt Nam còn yếu về mọi mặt như khả năng nghiên cứu, mức độ ảnh hưởng lên chính sách, chương trình giảng dạy, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất Sự yếu kém của hệ thống đại học Việt Nam bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như thiếu tự do học thuật, quản trị đại học kém do giới quản lý có quan điểm cho rằng Việt Nam phải duy trì một hệ thống giáo dục khác biệt và quan trọng nhất là người Việt chưa có tinh thần học tập nghiêm túc, học vì kiến thức chứ không phải vì bằng cấp
(6) Cơ sở pháp lý về tự chủ đại học chưa vững chắc và thiếu đồng bộ nên việc triển khai còn nhiều lúng túng, chưa thống nhất; một số nội dung cam kết của Chính phủ chưa được thực hiện (cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, hỗ trợ lãi suất vay) gây khó khăn cho nhiều cơ sở GDĐH [3] Tự chủ chưa gắn liền với đổi mới quản trị đại học và trách nhiệm giải trình xã hội Tính đến hết tháng 4/2017, trong toàn hệ thống GDĐH
có 169 trường công lập chỉ có 58 cơ sở thành lập hội đồng trường, chiếm 34,3% tổng
Trang 5số cơ sở GDĐH công lập [1] Tuy nhiên, ngay cả những cơ sở đã thành lập thì nhiều Hội đồng trường vẫn chưa có thực quyền của một tổ chức quản trị, đại diện cho quyền
sở hữu nhà nước để quyết định những vấn đề lớn như chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, phương hướng hoạt động… của nhà trường
3.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong giáo dục đại học Việt Nam
(1) Mục tiêu GDĐH còn chung chung, chưa cụ thể và sát thực tế, GDĐH chưa chú trọng đúng mức đến việc đặt ra mục tiêu cho nền giáo dục của đất nước Mục tiêu GDĐH hiện nay được cho là không phù hợp với khả năng, cũng như chất lượng thực
tế của nền GDĐH trong nước Mục tiêu GDĐH ở nước ta đã có sự thay đổi như việc xác định quan niệm về giáo dục, Luật Giáo dục Việt Nam năm 2019 [6] đã chỉ rõ mục đích của GDĐH là đào tạo nhân tài, song, trong thực tế, các trường đại học ở Việt Nam hiện nay, mới chỉ đủ khả năng trang bị cho người học (sinh viên, học viên hay nghiên cứu sinh…) kiến thức cơ bản, trang bị khả năng phân tích độc lập, dám suy nghĩ và biết suy nghĩ (suy nghĩ có phương pháp - tư duy khoa học) Trong khi đó, các quốc gia trên thế giới ngay cả các quốc gia có nền GDĐH tiên tiến khi đặt ra mục tiêu giáo dục, họ đều nêu lên những mục đích rất thực tế Do vậy, mục tiêu phải được thực sự coi trọng, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm người học sau đào tạo
(2) Tính kết nối với doanh nghiệp (DN) còn thấp, nền giáo dục của Việt Nam đang
còn quá nặng về truyền tải kiến thức mà chưa hướng đến phát triển phẩm chất và năng lực của người học, tình trạng sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa tìm được việc làm, còn
nhiều, số lượng sinh viên du học tăng lên đáng kể trong giai đoạn 2011 - 2016
Theo thống kê do Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ Lao động, Thương binh
và Xã hội) thực hiện: Vào tháng 1/2016 con số cử nhân, thạc sỹ thất nghiệp được xác định là 225.500 người [5] Các chuyên gia cho rằng, dường như có sự chênh lệch giữa đào tạo đại học với những gì xã hội thực sự cần: “Có DN nước ngoài nói rằng phải mất 2 năm để xoá bớt những gì sinh viên đã học Sau đó, mất thêm 2 năm nữa để dạy những kỹ năng mà mình cần Hiện tại chúng ta lại đang chứng kiến hàng ngàn cử nhân thất nghiệp Trong lúc đó, các DN lại phải phàn nàn họ không có đủ người làm việc cho họ” [9] (3) Chương trình GDĐH tại Việt Nam hiện nay còn nặng với thời lượng lớn so với các nước khu vực và trên thế giới, tỏ ra bất cập và kém hiệu quả Đây cũng được coi là nguyên nhân cơ bản khiến nền GDĐH ở Việt Nam đang có xu hướng tụt hậu (4) Nhiều cơ sở đào tạo vẫn chưa quan tâm đầu tư các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo để đáp ứng quy mô tuyển sinh; nguồn lực tài chính phân tán; chưa đầu
tư dự báo thị trường nên các ngành đào tạo còn trùng lặp, chồng chéo trong một địa bàn Nhiều nơi mở ngành đào tạo vẫn dựa vào năng lực và kinh nghiệm vốn có, dẫn đến những ngành xã hội cần thì lại thiếu và mất cân đối về ngành nghề trong đào tạo
Trang 6(5) Công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả đặc biệt là năng lực quản trị của một bộ phận cán bộ quản lý trường học còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới (6) Về mặt quản lý nhà nước đối với GDĐH cũng không đồng nhất, mạnh ai lấy làm, không đồng bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ quản lý gần 30% các trường đại học, cao đẳng trong toàn quốc [7]
3.3 Bối cảnh đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam
Thứ nhất, tự chủ đại học và CMCN 4.0 ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi về mô
hình hoạt động của GDĐH, về quản trị đại học
Thứ hai, sự thay đổi về thị trường lao động và cấu trúc kinh tế Thị trường lao động
đòi hỏi người lao động cần phải có trình độ, trí thức, đặc biệt là nắm bắt rất nhiều kỹ năng, nhiều vấn đề đặt ra trong thực tiễn trước những biến đổi của xã hội Hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi phải có một nguồn lực lao động có chất lượng ngày càng cao đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường rộng mở và yêu cầu của các công ty, tập đoàn nước ngoài
Thứ ba, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến lĩnh vực giáo dục, họ đã tham
gia đầu tư rất mạnh mẽ trong lĩnh vực về giáo dục Họ cũng đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao để đáp ứng yêu cầu của DN
Thứ tư, hệ thống các trường đại học ngày càng đầu tư mạnh mẽ để gia tăng năng
lực cạnh tranh, đồng thời cũng gia tăng sự xếp hạng của mình trong bảng xếp hạng
quốc tế Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong “thị trường” giáo dục, khi ngày càng
có nhiều trường với nhiều loại hình đào tạo, nhiều ngành nghề và cơ chế chính sách giữa hai hệ thống công lập và tư thục
Thứ năm, giáo dục Việt Nam cũng đang bị áp lực cạnh tranh với hệ thống các
trường trong khu vực và châu Á Thị trường lao động xuyên biên giới cũng vậy, nó cũng làm ảnh hưởng đến thị trường lao động của Việt Nam, nguồn nhân lực của Việt Nam
3.4 Đề xuất giải pháp GDĐH Việt Nam hướng tới nền giáo dục thực chất
(1) Đổi mới mô hình, nội dung chương trình đào tạo và phương thức đào tạo + Mục tiêu đào tạo cần thay đổi theo hướng thúc đẩy sáng tạo, phát triển năng lực
cá nhân và sát thực tế Trong đó, chuẩn đầu ra với nhiều kỹ năng mới bao gồm: Có nhiều chương trình đào tạo mới có tính liên ngành và liên thông cao và nhiều chương trình đào tạo gắn với công nghệ 4.0 và hội nhập quốc tế; Cấu trúc chương trình đào tạo mới; công nghệ đào tạo mới kết nối tất cả các bên liên quan: người dạy, người học, giảng đường, phòng thí nghiệm, thực hành và người sử dụng lao động
+ Nội dung chương trình và giáo trình cần được tổ chức xây dựng và triển khai theo hướng mở (cho phép cập nhật thường xuyên về kiến thức trong và ngoài nước, sử
Trang 7dụng giáo trình, học liệu trong nước hoặc ngoài nước một cách linh hoạt để giảng dạy cho người học) Chú trọng đào tạo các kỹ năng mới như: Thu thập thông tin; thuyết trình, giao tiếp, giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, sáng tạo; quản lý nhân sự; làm việc nhóm
+ Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo theo hướng sát thực tế, sát đối tượng, các cơ sở đào tạo phải xác định dạy những gì người học cần, người sử dụng lao động (doanh nghiệp) cần Nội dung giảng dạy phải gắn chặt và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của ngành nghề để sinh viên đạt chuẩn kiến thức, năng lực theo chuyên ngành đào tạo, đáp ứng yêu cầu công việc, giảm thiểu những môn học không cần thiết, giảm thiểu giờ học môn đại cương để tập trung vào thực hành, tăng cường học thực tế chuyên môn tại DN cho sinh viên
+ Cần thay đổi tư duy và đổi mới phương pháp giảng dạy để người học vừa lĩnh hội được kiến thức, vừa biết vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Kết hợp giữa các phương pháp truyền thống (thuyết trình, đàm thoại, luyện tập ) với các phương pháp mới (giải quyết vấn đề, dạy học tình huống, dạy học định hướng hành động ) Đồng thời, vận dụng các phương pháp gắn với công nghệ hiện đại như dạy học trực tuyến E-learning, phương pháp giáo dục tích hợp khoa học, công nghệ , giảm tải tối đa giờ giảng trên lớp để người học có thời gian tự học và tự nghiên cứu
(2) Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên
+ Xây dựng chuẩn giảng viên và cán bộ quản lý để đào tạo, bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu đào tạo chất lượng cao và quản trị GDĐH hiệu quả trong điều kiện tự chủ đại học và hội nhập quốc tế Có chính sách thu hút các nhà khoa học, người có trình độ,
đủ tiêu chuẩn làm giảng viên tại các cơ sở GDĐH
+ Nâng cao năng lực giảng dạy, năng lực nghiên cứu khoa học và kỹ năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ của cán bộ, giảng viên để có thể hội nhập với nền khoa học của khu vực và thế giới
(3) Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá chất lượng đầu vào, đầu ra trong quá trình đào tạo
+ Để phát huy vai trò của người học các cơ sở đào tạo cần thực hiện kiểm tra chất lượng đầu vào ngay từ khi tiếp nhận để chất lượng sinh viên được nâng lên Sau khi sinh viên ra trường, hằng năm các trường nên tổ chức khảo sát chất lượng sinh viên đang làm việc tại các cơ sở, doanh nghiệp, tiếp thu ý kiến của cơ sở, doanh nghiệp để rút kinh nghiệm, điều chỉnh tập trung vào những nội dung còn yếu và thiếu
+ Để đánh giá thực chất, khách quan, trung thực, đúng trình độ, năng lực của người học, các cơ sở đào tạo cần tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát quá trình đào
Trang 8tạo từ quy trình, chương trình, nội dung đến chất lượng giảng dạy, tình hình khai thác,
sử dụng thiết bị dạy học Đồng thời, nâng cao chất lượng đề thi, kiểm tra; thực hiện đa dạng các hình thức thi, kiểm tra đánh giá kết quả, phù hợp với từng môn học, đối tượng đào tạo; tổ chức chặt chẽ khâu ra đề thi, xây dựng ngân hàng đề thi, đảm bảo có tính phân loại cao, đánh giá thực chất chất lượng sinh viên theo hướng nâng cao năng lực thực hành, vận dụng lý luận vào thực tiễn, sử dụng kiến thức tổng hợp
(4) Tăng cường gắn đào tạo với sử dụng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu xã hội
+ Ứng dụng các thành tựu mới nhằm phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong GDĐH trên cơ sở các bản quyền phát minh, sáng chế, sở hữu trí tuệ theo các định chế quốc tế, kết nối sản phẩm nghiên cứu khoa học với thực tiễn nhu cầu của thị trường và xã hội
+ Kết nối phát triển năng lực nghiên cứu ứng dụng thực tiễn, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, quản lý thông minh: Cùng thực hiện các đề tài,
dự án nghiên cứu ứng dụng; tư vấn chuyên môn; cùng tổ chức các tọa đàm, hội thảo mang tính thời sự
(5) Đổi mới mô hình kết nối giữa trường đại học và doanh nghiệp
+ Kết nối đào tạo gắn liền thực tiễn: Trong quá trình xây dựng chương trình đào tạo cần có sự tham gia của các doanh nghiệp cùng xây dựng mới và đánh giá các chương trình đào tạo, mời các chuyên gia từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy, gắn nội dung chương trình đào tạo trong nhà trường với hoạt động tại doanh nghiệp
+ Kết nối để cùng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quốc tế hóa đội ngũ, thu hút nhân tài: Doanh nghiệp tuyển dụng nhân sự là đầu ra của trường; cùng tư vấn hướng nghiệp; nhà trường hỗ trợ đào tạo nhân sự cho doanh nghiệp
+ Tăng cường tương tác giữa giảng viên và doanh nghiệp; thiết kế các khóa đào tạo chuyên biệt theo yêu cầu của doanh nghiệp đặt hàng hoặc tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp đối tác vào xây dựng chương trình, giáo trình; đầu tư kết cấu hạ tầng đào tạo đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp
(6) Kết nối chia sẻ trách nhiệm xã hội
Đó chính là sự tài trợ cơ sở vật chất; tài trợ học thuật; tài trợ hoạt động sinh viên; tài trợ phát triển công nghệ của các bên liên quan để hướng tới nền giáo dục thực chất + Các nhà quản lý GDĐH cần một tư duy linh hoạt và nhạy bén, kịp thời nắm bắt
cơ hội phối hợp với các tổ chức giáo dục của khu vực và quốc tế để mang lại cho cơ sở giáo dục những mối liên hệ sâu rộng - phát triển Sự phát triển này không chỉ cho người học mà còn cho cả nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn của cán bộ giảng viên
Trang 9+ Tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính giáo dục nhằm huy động, phân bổ và sử dựng hiệu quả hơn các nguồn lực của Nhà nước và xã hội đầu tư cho giáo dục; nâng cao tính
tự chủ của các cơ sở GDĐH Đảm bảo tỷ lệ chi cho giáo dục trong tổng ngân sách nhà nước từ 20% trở lên phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và quản lý sử dụng có hiệu quả Ngân sách nhà nước đầu tư, đào tạo nhân lực chất lượng cao
+ Cần có cơ chế, chính sách quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong đầu tư phát triển đào tạo nhân lực, đặc biệt nhân lực chất lượng cao và nhân lực thuộc ngành mũi nhọn
+ Qui định trách nhiệm của các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng
và gia đình trong việc đóng góp nguồn lực và tham gia các hoạt động giáo dục, tạo
cơ hội học tập suốt đời cho mọi người, góp phần từng bước xây dựng xã hội học tập (7) Kết nối truyền thông thương hiệu và chia sẻ thông điệp, hình ảnh
Kết nối truyền thông thương hiệu doanh nghiệp tại các không gian học thuật của các trường, trên các kênh truyền thông của các trường; cùng tổ chức các sự kiện và lan tỏa thương hiệu đến người học của các trường
(8) Đổi mới vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước và điều hành các trường đại học hướng tới nền giáo dục thực chất trong điều kiện hội nhập quốc tế và CMCN 4.0 Cần tái cấu trúc nền GDĐH với việc nhận thức lại về giáo dục và vai trò quản lý của Nhà nước với sự nghiệp GDĐH Theo đó, về mặt pháp lý, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định về pháp luật đối với các hoạt động GDĐH Các cơ quan quản
lý nhà nước, trực tiếp là Bộ Giáo dục và Đào tạo cần thay đổi cách tư duy về quản lý đối với các hoạt động GDĐH trong điều kiện hội nhập quốc tế hướng tới nền giáo dục thực chất Nên quản lý theo chính sách và quy chế, định hướng các hoạt động theo luật pháp, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học được độc lập, tự chủ hơn trong các hoạt động
4 KẾT LUẬN
GDĐH Việt Nam hướng tới một nền giáo dục thực chất là một yêu cầu tất yếu khách quan Phân tích những hạn chế của GDĐH Việt Nam trong thời gian qua, bài viết đã đề xuất một số giải pháp để GDĐH Việt Nam hướng tới nền giáo dục thực chất
đó là: đổi mới mục tiêu, chương trình đào tạo, phương thức đào tạo; đổi mới cách thức đánh giá, kiểm tra đầu vào đầu ra của sinh viên; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học gắn chặt hơn nữa việc dạy và học của các cơ sở GDĐH với thị trường lao động, đồng thời cần nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên; đổi mới mô hình kết nối giữa trường đại học và doanh nghiệp; tăng cường kết nối truyền thông, thương hiệu và kết nối chia sẻ trách nhiệm xã hội cũng như đổi mới vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước và điều hành các trường đại học
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Số liệu thống kê về giáo dục đại học Việt Nam, Hội nghị tổng
kết việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục đại học năm học 2016 - 2017.
2 Chính phủ (2012) Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định
số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ).
3 Chính Phủ (2014), Về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học
công lập giai đoạn 2014 – 2017 - Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2014.
4 Đinh Thị Nga (2017), “Đầu tư của nhà nước cho giáo dục, đào tạo: Thực trạng và một số đề
xuất”, Tạp chí Tài chính, tháng 10
5 Ngọc Quang (2016), “225.000 cử nhân thất nghiệp và cái giá phải trả của một nền giáo dục ì
ạch”, Tạp chí điện tử Giáo Dục Việt Nam, số tháng 1.2016.
6 Quốc hội (2019), Luật Giáo dục Đại học, ngày 14/6/2019.
7 Moet.gov.vn, Cổng thông tin điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
8 Xuân Trung (2016), “Ông Trần Đức Cảnh chỉ ra ngành “mũi nhọn” và “mũi tù” trong giáo
dục đại học”, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, số tháng 4.2016.
9 Doanh nghiệp phải mất 2 năm để dạy những gì mình cần, truy cập từ: https://vietnamnet.
vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/dn-nuoc-ngoai-mat-2-nam-de-tay-sach-nhung-gi-sinh-vien-da-hoc-335497.html.
10 Asia University Rankings (2018), Times Higher Education.