1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Học thật”: Nhân tố quyết định để có “thi thật”/“tài năng thật”

15 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học thật”: Nhân tố quyết định để có “thi thật”/“tài năng thật”
Tác giả Đặng Quốc Bảo
Trường học Học viện Quản lý Giáo dục
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại nghiên cứu
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 418,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết “Học thật”: Nhân tố quyết định để có “thi thật”/“tài năng thật” nhằm trình bày một số nhận thức về vấn đề “Học thật” từ thu hoạch ý tưởng của các bậc tiền nhân và tư duy thời đại. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

PGS.TS Đặng Quốc Bảo* 1

Ngày 06/05/2021, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chỉ thị cho Bộ Giáo dục

và Đào tạo thực hiện yêu cầu “Học thật/Thi thật/Nhân tài thật” Sau đó Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn đã nêu một số kế hoạch cho ngành để thực hiện yêu cầu của Thủ tướng.

“Học thật” là nhân tố quyết định để có “Thi thật/Tài năng thật”.

Trong bài này, xin trình bày một số nhận thức về vấn đề “Học thật” từ thu hoạch

ý tưởng của các bậc tiền nhân và tư duy thời đại.

1 “CÁI GẮN BÓ” VÀ “CÁI ĐỐI LẬP” VỚI PHẠM TRÙ “THẬT” TRONG CUỘC SỐNG

Cái “Thật” trong cuộc sống thường được gọi là cái “Chân” Nhân tố “Chân” bao giờ cũng phải gắn với nhân tố “Thiện” và nhân tố “Mỹ” (Cái lành, cái đẹp) ngày nay

có người còn yêu cầu phải gắn với cái có ích lợi tạo nên hệ giá trị bộ bốn “Chân - Thiện - Mỹ - Lợi”

Cái “Thật” đối lập với cái “Giả” (Giả dối), đối lập với cái “Ảo” (Mộng ảo, phù phiếm), đối lập với cái “Ngụy” (Ngụy biện, ngụy tạo)

“Học thật” không bao giờ dung hòa với cái học giả dối, cái học phù phiếm và cái học ngụy tạo

2 KHỔNG TỬ BÀN VỀ VIỆC HỌC ĐỂ CÓ NHÂN CÁCH

Khổng Tử (551 - 479 TCN) được đương thời coi là bậc Vạn Thế Sư Biểu

Ông có lời huấn đức:

● “Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế dã ngu

● Hiếu trí bất hiếu học, kỳ tế dã đãng

● Hiếu dũng bất hiếu học, kỳ thế dã loạn

* Nguyên Giám đốc Học viện Quản lý Giáo dục.

Trang 2

● Hiếu tín bất hiếu học, kỳ tế dã tặc

● Hiếu trực bất hiếu học, kỳ tế dã giảo

● Hiếu cương bất hiếu học, kỳ tế dã cuồng”

Học giả Phan Ngọc thu hoạch 6 điều trên với nhận thức sau:

“Thích làm điều Nhân mà không học thì ngu si

Thích làm điều Trí mà không học thì dễ trở thành kẻ lông bông

Thích làm người Dũng mà không học thì dễ làm loạn

Thích làm người Tín mà không học thì dễ sai lệch

Thích làm người Thẳng thắn mà không học thì trở thành kẻ gian giảo

Thích làm người Cương quyết mà không học thì trở thành kẻ ngông cuồng”

Thu hoạch lời Khổng Tử có thể xây dựng khung mẫu (Paradigm) sau:

Học

Nhân

Cương

Dũng

Trực Trí

Tín

3 “HỌC” TRONG BIỂU ĐẠT VỀ BỐN TRỤ CỘT TỪ “BỐN NỀN VĂN HÓA”

3.1 Bốn trụ cột của việc học theo quan điểm của Nho gia phương Đông

Học để thực hiện “Tu - Tề - Trị - Bình”

Nho gia phương Đông có lời khuyên người đi học (Kẻ sĩ) thực hiện 4 điều sau:

● Học để biết cách tu dưỡng bản thân (Tu thân)

● Học để biết lo toan cho gia đình (Tề gia)

● Học để có lý tưởng làm cho đất nước hưng trị (Quốc: Trị)

● Học để biết cách góp phần làm cho thiên hạ thanh bình (Thiên hạ: Bình)

Trang 3

Cùng 4 điều nêu trên, trong sách Đại học, Nho gia còn lưu ý người đi học phải quán triệt: Cách vật - Trí tri - Thành ý - Chính tâm (Nghĩa là: Muốn cải cách sự vật phải hiểu biết mọi điều, muốn hiểu biết phải thành ý, muốn thành ý phải chính tâm,

chính tâm để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ)

Tu thân

Học

Trị Quốc

Tề Gia

Bình Thiên

Hạ

Nhà cách mạng Tôn Dật Tiên trong sách Tam dân chủ nghĩa có nhận xét: “Nói

về Cách vật, Trí tri, Thành ý, Chính tâm, Tu thân, Tề gia, Trị Quốc, Bình thiên hạ mà trong sách “Đại học” đã giải thích dù cho những nhà chính trị đại tài của nước ngoài cũng vẫn chưa có ai nghĩ tới và nói đến một cách mạch lạc rõ ràng như vậy” (Dẫn lại

từ Bản sắc văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc, NXB Văn học, H., tr.446)

3.2 Học giả Mỹ Alvin Toffler xác định: “Học cách tích lũy, học cách gắn kết, học cách chọn lựa, học cách thích ứng”

Bước vào kỷ nguyên công nghiệp phát triển, những năm 70 của thế kỷ XX, học

giả Mỹ Alvin Toffler xuất bản bộ ba sách Cú sốc tương lai, Thăng trầm quyền lực và

Làn sóng thứ ba làm sôi nổi tư duy nhân loại Theo ông, con người của xã hội hiện đại

phải biết cách học để:

● Tích lũy kiến thức

● Gắn kết kiến thức

● Chọn lựa được kiến thức cần thiết cho bản thân

● Dùng kiến thức đã có đưa bản thân thích ứng với ngoại cảnh

Tích lũy

Chọn lựa

Gắn kết

Trang 4

Chu trình Học để “Tích lũy - Gắn kết - Chọn lựa - Thích ứng” đảm bảo cho việc học đạt được hiệu quả cao ở bối cảnh mới

Đồng thời với lời bàn của Alvin Toffler, nhà trường châu Âu thế kỷ XX nêu công thức “3C” cho người học, bao gồm:

C1 = Collectory/ tích lũy nhiều

C2 = Caculatory/ xử lý tinh

C3 = Communicatory/ giao lưu rộng

3.3 Jacques Delors/ UNESCO với thông điệp: “Học để biết, học để làm, học để chung sống với nhau, học

để làm người”

Năm 1996, ông Jacques Delors - Chủ tịch Ủy ban Giáo dục của UNESCO cùng

các cộng sự từ nhiều nước đã công bố báo cáo Học tập - Một kho báu tiềm ẩn trong

đó xác định bốn trụ cột của “Học” là:

● Học để biết

● Học để làm

● Học để biết cách chung sống với nhau

● Học để làm người

Để biết

Học

Để chung sống với nhau

Để làm

Để làm người

Học để biết cách chung sống với nhau còn được diễn đạt qua các mệnh đề “Học

để biết cách khoan dung nhau”, “Học để biết tôn trọng sự khác biệt”

“Học để làm người” từng được Edgar Faure, một nhà chính trị uy tín của châu Âu

đề xuất từ năm 1972 trong báo cáo “Học để làm người - Thế giới giáo dục hôm nay và

ngày mai” Ông khẳng định làm người là phấn đấu có nhân cách: “Năng lực tự chủ, sự

xét đoán thông minh và trách nhiệm của cá nhân trong việc cùng người khác, cùng cộng đồng phấn đấu xây dựng được xã hội học tập mà ở đó không một tài năng nào bị gạt bỏ”

“Học để làm việc, làm người” từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu cho học viên Trường Đảng Cao cấp tháng 09/1949 Người gắn ý tưởng này với việc rèn luyện “Cần

- Kiệm - Liêm - Chính”

Trang 5

Ông Trần Văn Nhung – Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã gửi tư liệu này cho UNESCO Tổ chức này phúc đáp: Ý tưởng việc học do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra làm phong phú cho di sản việc học của nhân loại

3.4 Dân tộc Việt xác định 4 trụ cột của việc học: “Học ăn - Học nói - Học gói - Học mở” với hàm ý

- “Học ăn”: Học cách lĩnh hội

- “Học nói”: Học cách diễn đạt

- “Học mở”: Học cách khai triển

- “Học gói”: Học cách kết thúc vấn đề

Ăn

Học

Gói

Nói

Mở

Suy ngẫm ra ngày nay, từ cháu bé lên 3 đến nhà chính trị tuổi ngoài thất thập vẫn cần lưu ý “Học ăn – Học nói – Học gói – Học mở”

Trong “Học gói – Học mở” còn có minh triết biết thế nào là đủ, biết đến đâu phải dừng

Bà mẹ Việt Nam có lời khuyên con:

“Học đi chỉ có một năm, Học dừng học đến mòn răng chưa thành”

4 HỒ CHÍ MINH TỔNG KẾT VIỆC HỌC ĐẠT TỚI GIÁ TRỊ CHÂN CHÍNH TRONG MƯỜI MỘT TỪ

Ngày 21/07/1956 đến thăm một lớp học của trí thức Thủ đô đặt tại một trường đại học của Hà Nội, Bác Hồ có lời tâm tình:

“Thời gian các bạn đến nghiên cứu ở trường này tương đối ngắn ngủi, cho nên không thể yêu cầu quá cao, quá nhiều Những điều các bạn nghiên cứu được ở đây có thể ví như một hạt nhân bé nhỏ Sau này, các bạn sẽ tiếp tục săn sóc vun xới làm cho hạt nhân ấy mọc thành công và dần dần nở hoa kết quả

Theo ý riêng của tôi, thì hạt nhân ấy có thể Tóm tắt trong 11 chữ “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân”

Trang 6

Người nhấn mạnh thêm:

“Nói Tóm tắt:

Minh minh đức là chính tâm Thân dân tức là phục vụ nhân dân Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết Nói một cách khác, tức là:

“Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu Hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”

(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr.377)

Trong lời tâm tình này, Hồ Chí Minh đã kết hợp và phát triển ý tưởng của hai bậc tiên hiền: Tăng Tử (505 -435 TCN), học trò xuất sắc của Khổng Tử và Phạm Trọng Yêm (990-1052), nhà chính trị văn hóa nổi tiếng đời Tống đã minh định yêu cầu có trong đạo đức của nhà chính trị giáo dục hiện đại

Hồ Chí Minh khôi phục phạm trù “Thân dân”, vốn là thông điệp gốc của chân Nho thay cho “Tân dân” từng được Hán Nho, Tống Nho quảng bá

Sách Đại học (một cuốn sách nền tảng trong Tứ thư) mà các đời sau lưu hành khi

dẫn lại ý tưởng của Tăng Tử có diễn đạt:

“Đại học chi đạo Tại minh minh đức Tại tân dân

Tại chỉ ư chí thiện”

Với sự giải thích:

“Hai chữ Đại học ở đây có nghĩa là đạo học rộng lớn với học vấn uyên bác tinh sâu Minh minh đức là phát huy tiềm năng đức sáng, đức tốt, tính thiện của con người, Tân dân là đổi mới lòng dân, đổi mới cách nghĩ của dân, bỏ cũ thay mới, bỏ ác thay thiện, khiến mọi người có thể bỏ dần xấu mà làm điều tốt”

Ý kiến trên là tích cực, song dễ làm cho kẻ sĩ và nhà chính trị giáo dục có tâm thế, thái độ: Đứng trên dân, ban ơn cho dân “Thân dân” mà Hồ Chí Minh khôi phục lại ý tưởng của các bậc chân Nho, đặc biệt là của Phạm Trọng Yêm: lo trước dân, hưởng sau dân và đến Người không chỉ bó hẹp ở nghĩa “Thương dân” Nó mang một chất mới cao quý hơn nhiều trong văn hóa chính trị của nước Việt Nam mới mà Hồ Chí Minh cùng các đồng chí của mình đã ra sức kiến tạo từ ngày 2/9/1945

Trang 7

5 “HỌC THẬT” TRONG ĐỜI SỐNG VIỆT ĐỂ ĐẠT TỚI MỤC TIÊU “CON HƠN CHA LÀ NHÀ CÓ PHÚC”

Trong đời sống hiện nay thường có lời kêu gọi: Giáo dục thường xuyên – Đào tạo liên tục – Học tập suốt đời

Có nhà văn hóa Việt từng phát biểu: “Cái nợ khác có khi trả hết, nợ học là nợ

chung thân vậy” (Thượng chi văn tập, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2016, tr 15).

Đọc những lời trên lại liên hệ tới lời huấn đức của Bác Hồ năm 1961:

“Tôi năm nay 71 tuổi ngày nào cũng phải học công việc cứ tiến mãi, không học

thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ thì chúng mình dốt lắm Tôi cũng dốt lắm, nếu thế hệ già khôn hơn thế hệ trẻ thì không tốt Thế

hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt Các cháu không hơn là bệt - bệt là không tốt Người ta

thường nói “Con hơn cha là nhà có phúc” Ta hiểu như thế nhưng không có tư tưởng

thụt lùi nạnh kẹ ” (Viết ngày 09/12/1961 Toàn tập, Tập 13, tr.273)

Xã hội Việt ngày nay đang có mong ước kiến tạo được nền giáo dục chia sẻ, để

đi tới nền giáo dục chia sẻ cần có nhiều điều, song điều cốt yếu là con người phải biết sống Minh triết Trong Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, tại bàn thờ của vua Lý Thánh Tông có đôi câu đối sau:

“Dục anh tài nhi sử năng, Quốc Tử Giám cao huyền mô khải

Dưỡng minh triết dĩ kế trị, Thăng Long kinh trường tụ tinh hoa”

(Nuôi nấng anh tài để sử dụng năng lực của họ,

Quốc Tử Giám nêu cao mẫu mực

Phát triển minh triết tìm kế sách cho đất nước thịnh trị Kinh đô Thăng Long đời đời hội tụ được tinh hoa)

6 GIÁO DỤC THẾ HỆ TRẺ “HỌC THẬT” CÓ LẼ SỐNG 4 ”H + T + C”

Sự phát triển quan trọng nhất của một con người là nhân cách/tư cách

Nhân cách/tư cách được hiểu một cách khái quát:

 Cốt cách làm người

 Phẩm cách làm người

 Cách thức nên người

Nhân cách con người Việt vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải hài hòa cả 3 mặt:

Giữ gìn được “Nhân tính” (Sống theo đạo làm người)

Trang 8

Bảo tồn được “Quốc tính” (Sống theo truyền thống dân tộc Việt).

Khẳng định được “Cá tính” (Sống theo bản sắc tiến tới bản lĩnh)

Mỗi con người phải có phẩm chất nói chung một cách tích cực Từ phẩm chất có

“Lối sống tốt đẹp” và có “Lẽ sống cao quý”.

Phạm trù “lẽ sống” được Từ điển tiếng Việt minh định:

“Điều thường thấy ở đời được coi là hợp với quy luật với đạo lý”

Khi đề cập quan điểm sống, lối sống là nói những điều to tát Còn khi đề cập

“lẽ sống” dù có bình dị hơn nhưng trong đó đã bao hàm “quan điểm sống và lối sống”

đồng thời cũng đề cập tới lý tưởng sống

 Bốn phạm trù “H” trong “lẽ sống” do thầy Hà Thế Ngữ và thầy Hoàng Ngọc Hiến đề cập

Thầy Hà Thế Ngữ (1929-1990), thầy Hoàng Ngọc Hiến (1930-2011) là hai người thầy khả kính của giới Giáo dục học Việt Nam

Sinh thời các thầy cho môn đệ những lời huấn đức được cô đọng trong 4 phạm trù “H”:

“H1”: Sống hiện thực, đừng mơ mộng viển vông.

“H2”: Sống hiện đại, đừng nhếch nhác, luộm thuộm.

“H3”: Sống hoài bão, đừng bèo dạt mây trôi.

“H4”: Sống hẳn hoi, đừng thiếu sự chu đáo, tử tế.

Thầy Hoàng Ngọc Hiến có bình luận rất sâu sắc về sống “hẳn hoi”:

“Hẳn hoi” không phải là một tiêu chuẩn quá cao: không phải thật giỏi mới hẳn

hoi, không phải thật đàng hoàng, thật dũng cảm, thật “đạo cao, đức trọng” mới hẳn hoi… “Hẳn hoi” là một phẩm chất có thể đặt ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi bình diện:

ăn mặc hẳn hoi, nhà cửa hẳn hoi, lời lẽ hẳn hoi, một người thầy hẳn hoi, một người cha hẳn hoi, một người lãnh đạo hẳn hoi, học vấn hẳn hoi, làm ăn hẳn hoi…

Xã hội nào cũng có kỷ cương và lễ nghi, người hẳn hoi tiếp nhận tinh thần của

kỷ cương và lễ nghi với/ do lòng tự trọng chứ không bị lệ thuộc một cách mù quáng vào những quy ước của kỷ cương và lễ nghi Xã hội nào cũng có tôn ty trật tự, người hẳn hoi không gò mình vào trật tự này nhưng rất có ý thức về lẽ phải của thứ bậc Vài mươi năm trước đây với bộ phim nổi tiếng về người Hà Nội, Trần Văn Thủy đã làm sống lại phẩm chất “tử tế” trong ý thức đạo đức của xã hội Tuy nhiên, phẩm chất này dường như vẫn chưa được chính thức công nhận, đạo đức và hành vi được

Trang 9

kiểm điểm theo nhiều chuẩn mực trừ chuẩn mực “người tử tế” Phẩm chất “hẳn hoi” cũng có số phận tương tự Một hiện tượng quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân loại là những gì không được người ta nhớ đến thì dần dà sẽ biến mất Xã hội không quan tâm đến “sự tử tế”, “sự hẳn hoi” thì dần dà những người tử tế, hẳn hoi

sẽ biến mất; ngược lại, xã hội còn nhớ đến những phẩm hạnh này, thì những người hẳn hoi, tử tế xuất hiện khắp nơi

Thầy Hà Thế Ngữ thường nhắc học trò: “Phải theo tấm gương của tiền nhân nhưng phải nhớ lời khuyên của Thiền sư Quảng Nghiêm:

“Nam nhi tự hướng xung thiên chí

Hưu hướng Như Lai hành xử hành”

(Làm trai có chí xông trời thẳm

Đừng nhọc lòng theo bước chân của Như Lai)

(Thiền sư Quảng Nghiêm (1121-1190) Ông quê ở Bắc Ninh, sống ở đời Lý rất được Nhân dân kính trọng)

Bốn phạm trù “T” theo lời huấn đức của thầy Nguyễn Khắc Viện

Thầy Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) là trưởng nam của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, người đề ra phương châm “Tứ tôn” cho vua Thành Thái với nội dung:

“Tôn tộc đại quy

Tôn lộc đại suy

Tôn tài đại thịnh

Tôn nịnh đại nguy”

(Tôn trọng dân tộc, dòng tộc mình thì đem lại sự đoàn kết

Tôn trọng bổng lộc, tài lộc thì đó là mầm mống của sự suy đồi

Tôn trọng người hiền tài thì đem lại sự thịnh trị

Tôn trọng bọn cơ hội xiểm nịnh thì đem lại nguy cơ cho sự tan vỡ…)

Thầy Nguyễn Khắc Viện tích hợp trong cuộc đời hai nền văn hóa Đông – Tây Ông có phương châm sống “4T” như sau và truyền cảm hứng của mình cho đồng chí cho môn đệ cùng thực hiện:

• “T1”: - Có lòng tự trọng bản thân

• “T2”: - Tạo cho mình một cái thế đứng vững giữa xã hội tự lập cố gắng không nhờ vả ai

Trang 10

• “T3”: - Nuôi dưỡng cái tình người cho phong phú, gắn bó trước hết với gia đình, họ tộc và đất nước

• “T4”: - Tạo cho mình có tâm ổn định, mình làm chủ lấy mình, đời dù có sóng gió, cái tâm mình vẫn vững vàng

Trong một lần nói chuyện tại Viện Khoa học Giáo dục cuối những năm 70 của

thế kỷ trước, ông nhắc đến “Ba điều” mà Bảng nhãn Lê Quý Đôn đã nói trong “Kiến

văn tiểu lục”:

Con người cần “biết sợ - biết xấu hổ - biết chịu khó/ chịu khổ” “Biết sợ” theo

Nguyễn Khắc Viện nhấn mạnh:

“Sợ làm sai đạo lý”, “Sợ làm sai pháp lý”, “Sợ làm sai công lý”.

Bốn phạm trù “C” theo quan điểm của GS Klaus Schwab

Ông là Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) trong bài nói chuyện đầu năm 2017 khi nhân loại sôi nổi bước vào cách mạng công nghiệp 4.0, ông

có nêu: “Chúng ta đang trong thời khắc lối rẽ của lịch sử, khi phải đối mặt với những bất ổn về kinh tế, chính trị, di cư, khủng bố và có những rạn nứt về thể chế, đạo đức, năng lực, lãnh đạo, v.v…” Ông đề ra bốn phạm trù C mà bất cứ người hiện đại nào,

dù thuộc dân tộc nào, dù làm nghề gì cũng cần rèn luyện

• C1: Critical thinking/ Tư duy phê phán

• C2: Creative/ Năng lực sáng tạo

• C3: Communication/ Năng lực giao tiếp

• C4: Collaboration/ Năng lực hợp tác

Ý tưởng trên của Klaus Schwab được học giả người Israel – Yuval Noah Harari

nồng nhiệt tán thành

Trong một tác phẩm ấn tượng: Hai mươi mốt bài học cho thế kỷ XXI (do Nhã Nam

và NXB Thế giới ấn hành năm 2019)

Harari biểu lộ quan điểm:

“Nhiều chuyên gia sư phạm cho rằng trường học nên chuyển sang việc dạy

“bốn chữ C”, tức tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác và sáng tạo (critical thinking, communication, collaboration, creativity) Nói rộng hơn, họ tin là trường học nên giảm bớt các kỹ năng kỹ thuật và nhấn mạnh vào các kỹ năng sống đa mục đích Quan trọng hơn cả sẽ là khả năng đối phó với thay đổi, học điều mới và duy trì cân bằng tâm

lý trong các tình huống xa lạ Để theo kịp thế giới năm 2050, bạn sẽ không chỉ cần sáng tạo các ý tưởng và sản phẩm mới mà trên hết, bạn sẽ cần tự đổi mới mình hết lần này đến lần khác.”

Ngày đăng: 08/12/2022, 16:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w