Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của “quan hệ cặp phạm trù “cái riêng” và “cái chung” để giải quyết vấn đề quan hệ dân tộc ở Việt Nam 1.. Để có cái nhìn toàn diện cho chủ d
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
_
BÀI TẬP NHÓM MÔN: TRIẾT HỌC
Chủ đề: Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “cái riêng và cái chung” để nhận thức và giải quyết quan hệ dân tộc ở
Việt Nam
Nhóm: 01 Lớp: TL 4526A
Hà nội, tháng 1, năm 2021
Trang 2MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG _2
I Phần thông tin _ 2
II Cặp phạm trù “cái riêng và cái chung” 3
1 Định nghĩa 3 1.1 Định nghĩa cặp phạm trù _ 3 1.2 Khái niệm về cái riêng _
3
1.3 Khái niệm về cái chung _ 3
2 Nội dung cặp phạm trù “cái riêng và cái chung” _ 4 2.1 Mối quan hệ cặp phạm trù “cái riêng và cái chung” _ 4
a “Cái riêng” chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến “cái chung” _ 4
b “Cái chung” chỉ tồn tại trong “cái riêng”, thông qua “cái riêng” _4
c “Cái chung” là một bộ phận của “cái riêng”, còn “cái riêng” không gia nhập hết vào “cái chung” 4 2.2 Ý nghĩa phương pháp luận 5
a Phải xuất phát từ “cái riêng” để tìm “cái chung” _ 5
b Cần nghiên cứu cái biến “cái chung” khi áp dụng “cái chung” vào từng trường hợp “cái riêng” _5
c Không được lảng tránh giải quyết những vấn đề chung khi giải quyết những vấn đề riêng _ 5 III Khái quát vấn đề thực tiễn: Quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam 6
1 Quan điểm và cách tiếp cận nghiên cứu 6
2 Nghiên cứu về quan hệ dân tộc ở Việt Nam _ 6 2.1 Quan hệ nội tộc người 6 2.2 Quan hệ giữa các dân tộc thiểu số 7 2.3 Quan hệ giữa dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh _7
IV Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của “quan hệ cặp
phạm trù “cái riêng” và “cái chung” để giải quyết vấn đề quan hệ dân tộc ở Việt Nam
1 Nhận thức _8 1.1 Nhận thức khái quát về vấn đề quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam 1.2 Áp dụng vào trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an
ninh, trong lĩnh vực công tác dân tộc 8
2 Giải pháp giải quyết vấn đề quan hệ dân tộc ở các lĩnh vực khác nhau10
1
Trang 3KẾT LUẬN 11 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới luôn vận động và phát triển không ngừng tựa như một cố máy đồ sộ không ngơi nghỉ Trong toàn bộ tiến trình ấy, sự vận động và phát triển của vật chất luôn có vai trò quan trọng, tiên quyết và có ảnh hưởng sâu rộng đến các yếu
tố, các khía cạnh khác Với vai trò là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, Triết học trở thành khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Dưới góc nhìn của Triết học để tiếp cận đời sống luôn tồn tại 6 cặp phạm trù chi phối mọi quy luật vận ddooongj của đời sống xã hội Trong đó, cặp phạm trù Cái chung – Cái riêng là tiền đề quan trọng cho nhiều nhận thức thực tế, vận dụng giải quyết vấn đề thực tế Oử thực tế xã hội Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung, mối quan hệ giữa các dân tộc luôn tồn tại đa dạng, phong phú mà cũng mới mẻ và sâu rộng Mối quan
hệ ấy là sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự vận hành của đất nước cũng như chứng minh cho sự hợp lý hóa của lý thuyết Triết học vào thực tế Để có cái nhìn toàn diện cho chủ diện cho chủ đề này, hôm nay chúng em sẽ nghiên cứu về vấn đề “Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù cái hcung và cái riêng để nhận thức và giải quyết vấn đề quan hệ giữa dân tộc ở Việt Nam” Trong quá trình thực hiện đề tài, do chưa có nhận thức đầy đủ, đúng đắn nên bài làm của em sẽ có những thiếu xót, khuyết điểm Em rất mong các thầy cô đọc bài và đóng góp, hướng dẫn đề bài làm của em ngày càng tở nên hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
NỘI DUNG
I Phần thông tin
Chủ đề: “Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “cái riêng và cái chung” để nhận thức và giải quyết quan hệ dân tộc ở Việt Nam”
Nhóm: TL 4526A
Thành viên trong nhóm”
Trương Thị Hương Giang – Nhóm trưởng - 452601: Nội dung phần
II, Danh mục tài liệu tham khảo
Hà Thị Hùy – Thành viên - 452602: Nội dung phần IV câu 2, Kết luận
Nguyễn Thảo Linh – Thành viên - 452603: Nội dung phần IV câu 2
Trang 4Tạ Bảo Ngọc – Thành viên - 452604: Nội dung phần IV câu 1, Mở đầu
Lê Thị Thu Hà – Thành viên - 4526: Nội dung phần III câu 2
Lương Phương Thảo – Thành viên - 4526: Nội dung phần IV câu 1
Vũ Diệu Linh –Thành viên - 452607: Nội dung phần III câu 2
Nguyễn Lê Khánh Hương – Thành viên - 452608: Nội dung phần III câu 1
Trần Quốc Việt – Thành viên - 452609: Nội dung phần III câu 1
Nguyễn Ngọc Quỳnh – Thành viên – 452611: Nội dung phần IV câu 2
Trần Ngọc Mai – Thành viên – 452610: Nội dung phần IV câu 1
II Cặp phạm trù “cái riêng và cái chung”
1 Định nghĩa
1.1 Định nghĩa phạm trù
Phạm trù là khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung và cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc lĩnh vực hiện thực nhất định
Phạm trù của phép biện chứng duy vật là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, nững mối liên hệ cơ bản phổ biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực (bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy), ví dụ như các phạm trù: vật chất, ý thức, mẫu thuẫn, nguyên nhân, kết quả, bản chất, hiện tượng,vv…
1.2 Định nghĩa về cái riêng
“Cái riêng” là phạm trù được dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định
Ví dụ: Một con người, một quốc gia
1.3 Định nghĩa về cái chung
“Cái chung” là phạm trù được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không những có một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác
Ví dụ: Sản xuất và tái xuất mở rộng là cái chung cho bất kỳ xã hội nào
3
Trang 51.4 Phân biệt “cái riêng” với “cái đơn nhất”
“Cái đơn nhất” là phạm trù được dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính… chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định và không được lặp lại ở bất
cứ một kết cấu vật chất nào khác
Ví dụ: Đỉnh núi Everest cao nhất thế giới với độ cao 8.850 mét Độ cao này của Everest là cái đơn nhất vì không có một đỉnh núi nào khác cao hơn
2 Nội dung cặp phạm trù “cái riêng và cái chung”
2.1 Nội dung cặp phạm trù “cái riêng và cái chung”
a “Cái riêng” chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến “cái chung”
Điều này có nghĩa “cái riêng” tồn tại độc lập, nhưng sự độc lập này không
có nghĩa là cô lập với những cái khác Thông qua hàng ngàn mối liên hệ, hàng ngàn sự chuyển hóa, “cái riêng” của loại này có liên hệ với những “cái riêng” của loại khác
Bất cứ “cái riêng” nào cũng tồn tại trong một môi trường, hoàn cảnh nhất định, tương tác với môi trường, hoàn cảnh ấy, do đó đều tham gia vào các mối liên hệ qua lại hết sức đa dạng với các sự vật, hiện tượng khác xung quanh mình Bất cứ “cái riêng” nào cũng không tồn tại mãi mãi Mỗi “cái riêng” sau khi xuất hiện đều tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định rồi biến thành một “cái riêng” khác “Cái riêng” khác này lại biến thành “cái riêng” khác thứ ba,vv… cứ như vậy đến vô cùng tận Kết quả của sự biến hóa vô cùng tận này là tất cả “cái riêng” đều có liên hệ với nhau
b “Cái chung” chỉ tồn tại trong “cái riêng”, thông qua “cái riêng”
“Cái chung” không tồn tại biệt lập, tách rời “cái riêng” mà chỉ tồn tại trong
“cái riêng”
Ví dụ: Cùi dày, nhiều múi, rất nhiều tép là cái chung giữa các quả bưởi Rõ ràng, cùi, múi, tép ở đây (cái chung) chỉ và phải tồn tại trong một quả bưởi nhất định (cái riêng)
c “Cái chung” là một bộ phận của “cái riêng”, còn “cái riêng” không gia nhập hết vào “cái chung”
Do “cái chung” được rút ra từ “cái riêng”, nên rõ ràng nó là một bộ phận của
“cái riêng” Mặt khác, bên cạnh những thuộc tính (cái chung) được lặp lại ở các
Trang 6sự vật khác, bất cứ “cái riêng” nào cũng còn chứa đựng những đặc điểm, thuộc tính mà chỉ “cái riêng” đó mới có Tức là, bất cứ “cái riêng” nào cũng chứa đựng
“cái đơn nhất”
d “Cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại
Sự chuyển hóa “cái đơn nhất” biến thành “cái chung” và “cái chung” biến thành “cái đơn nhất” sẽ xảy ra trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, trong đó những điều kiện nhất định
Sở dĩ như vậy là do trong hiện thực, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng “cái đơn nhất”, cái cá biệt Nhưng theo quy luật, cái mới nhất định sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng hoàn thiện, tiến tới hoàn toàn thay thế cái cũ và trở thành “cái chung” Ngược lại, “cái cũ” ngày càng mất dần đi Từ chỗ là “cái chung”, cái cũ biến dần thành “cái đơn nhất”
2.2 Ý nghĩa phương pháp luận
a Phải xuất phát từ “cái riêng” để tìm “cái chung”
Vì “cái chung” chỉ tồn tại trong và thông qua “cái riêng”, nên chỉ có thể tìm hiểu, nhận thức về “cái chung” trong “cái riêng” chứ không thể ngoài “cái
riêng” Để phát hiện, đào sâu nghiên cứu “cái chung”, ta phải bắt đầu nghiên cứu từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ cụ thể chứ không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người
b Cần nghiên cứu cải biến “cái chung” khi áp dụng “cái chung” và từng trường hợp “cái riêng”
Vì “cái chung” tồn tại như một bộ phận của “cái riêng”, bộ phận đó tác động qua lại với những bộ phận còn lại của “cái riêng” mà không gia nhập vào “cái chung”, nên bất cứ “cái chung” nào cũng tồn tại trong “cái riêng” dưới dạng đã
bị cải biên
Do đó, bất cứ “cái chung” nào khi áp dụng vào từng trường hợp riêng lẻ cũng cần được cải biên, cá biệt hóa Nếu không chú ý đến sự cá biệt hóa, đem áp dụng nguyên xi “cái chung”, tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ rơi vào sai lầm của những người giáo điều, tà khuynh Ngược lại, nếu xem thường “cái chung”, tuyệt đối hóa “cái đơn nhất”, thì lại rơi vào sai lầm của việc chỉ bảo tồn cái vốn
có mà không tiếp thu cái hay từ bên ngoài
c Không được láng tránh giải quyết những vấn đề chung khi giải quyết
5
Trang 7những vấn đề riêng
Vì “cái riêng” gắn bó chặt chẽ với “cái chung”, không tồn tại bên ngoài mối liên hệ dẫn tới “cái chung”, nên nếu muốn giải quyết những vấn đề riêng một cách hiệu quả thì không thể bỏ qua việc giải quyết những vấn đề chung Nếu không phải giải quyết những vấn đề chung – những vấn đề mang ý nghĩa lý luận – thì sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, tùy tiện Nếu bắt tay vào giải quyết những vấn đề riêng trước khi giải quyết những vấn đề chung thì ta sẽ không có định hướng mạch lạc
d Khi cần thiết, cần tạo điều kiện cho “cái đơn nhất” biến thành “cái chung” và ngược lại
Vì trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định,
“cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại, nên trong hoạt động, thực tiễn, ta cần hết sức tạo điều kiện tuận lợi cho “cái đơn nhất” phát triển, trở thành “cái chung” nếu điều này có lợi Ngược lại, phải tìm cách làm cho “cái chung” tiêu biến dần thành “cái đơn nhất” nếu “cái chung” không còn phù hợp với lợi ích của số đông mọi người
III Khái quát vấn đề thực tiễn: Quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam
1 Quan điểm và cách tiếp cận nghiên cứu
Trong nghiên cứu về tộc người, việc xem xét quan hệ dân tộc có ý nghĩa cả
về lý luận và thực tiễn Quan hệ dân tộc là mối quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia và xuyên quốc gia, và mối quan hệ giữa tộc người với cộng đồng dân tộc - quốc gia trên nhiều lĩnh vực, như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… Quan hệ dân tộc vừa là mối quan hệ tự nhiên, vừa mang tính tất yếu trong một quốc gia hay khu vực đa dân tộc, chịu tác động của nhiều yếu tố Cùng với thời gian, từ trong nội tại, mối quan hệ dân tộc cũng luôn biến đổi, các thể chế chính trị cũng đổi thay chính sách dân tộc, tác động đến mối quan hệ dân tộc
2 Nghiên cứu về quan hệ dân tộc ở Việt Nam
2.1 Quan hệ nội tộc người
*Sự cố kết của tộc người:
Trong hành trình khám phá bản sắc tộc người các nhà dân tộc học đã cố gắng chứng minh tính thống nhất, sự cố kết của các dân tộc Từ hàng trăm nhóm địa phương của các tộc người, các nhà dân tộc học đã chứng minh sự tương đồng về ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người để xếp thành 54 dân tộc Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc ghép các nhóm địa phương vào cùng
Trang 8một dân tộc không tránh khỏi bất cập, mà dân tộc Sán Chay - với việc gộp hai nhóm Cao Lan, Sán Chỉ là một ví dụ Nguyên nhân dẫn đến sự cố kết là nhu cầu nội tại trong phát triển - đó là nhu cầu chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cùng tộc người, đặc biệt là cùng dòng họ hay cộng đồng làng
*Sự phân ly của tộc người:
Từ những năm 90 đến nay, đã có những công trình nhận thấy sự phân ly Vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước, cả nước có tới 40 nhóm địa phương có nguyện vọng tách thành những dân tộc riêng Có những công trình phản ánh tình hình chuyển đổi từ tín ngưỡng truyền thống sang đạo Tin Lành ở người Hmông
đã tạo nên phân ly trong nội bộ tộc người, qua mâu thuẫn, xung đột giữa những người theo đạo và người không theo trong một cộng đồng Nguyên nhân dẫn đến phân ly thường do tác động của yếu tố bên ngoài, như kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, truyền đạo trái phép
2.2 Quan hệ giữa các dân tộc thiểu số
Về quan hệ xã hội, là sự áp bức dân tộc dưới chế độ cũ, như các tộc Kháng,
La Ha, Xinh-mun ở vùng Tây Bắc phải hầu hạ, phục dịch cho quý tộc Thái Nhưng mối quan hệ được đề cập nhiều hơn là văn hóa, như ảnh hưởng của văn hóa Thái tới các tộc người vùng Tây Bắc Trước những ảnh hưởng đó, có tộc người (Kháng, Khơ-mú) không còn giữ được nhiều yếu tố văn hóa của mình Giáo sư Bế Viết Đẳng đã nhận định đó là đồng hóa tự nhiên, hoặc chuyển hóa
về tộc người Những công trình nghiên cứu gần đây tiếp tục phản ánh sự giao lưu văn hóa giữa các tộc thiểu số dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nguyên nhân khiến quan hệ giữa các dân tộc thiểu số ngày càng gia tăng được các tác giả phân tích dưới tác động của cư trú xen cài, hôn nhân hỗn hợp dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta
2.3 Quan hệ giữa dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh
Là dân tộc chủ thể, có ưu thế trong tiếp thu, truyền bá văn hóa ngoài Việt Nam, người Kinh (Việt) đã ảnh hưởng sâu sắc đến biến đổi văn hóa của nhiều tộc người, đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Rất nhiều nghiên cứu đã cảnh báo về việc xói mòn, thậm chí mất văn hóa của các tộc thiểu số do ảnh hưởng văn hóa của tộc đa số Nghiên cứu về phát triển bền vững văn hóa tộc người vùng Đông Bắc đã cho thấy do ảnh hưởng văn hóa Kinh (Việt) nên hầu hết thanh niên của làng dân tộc Sán Dìu được nghiên cứu đã không còn nói ngôn ngữ mẹ đẻ, và làng này cũng không còn một số thành tố văn hóa truyền thống như nhà ở, trang phục Kể từ năm 1986 đến nay, trong bối
7
Trang 9cảnh kinh tế thị trường, phân hóa giàu nghèo ngày càng diễn ra mạnh mẽ, trong
đó có phân hóa giữa dân tộc đa số với thiểu số, giữa đồng bằng và miền núi Trước tình hình nêu trên, đặc biệt là từ khi xuất hiện các mâu thuẫn ở Tây Nam
Bộ và xung đột ở Tây Nguyên, một số tác giả quan tâm hơn đến quan hệ của người Kinh (Việt) với các tộc thiểu số ở những vùng này Nghiên cứu của các tác giả chủ yếu đề cập đến quan hệ kinh tế, sử dụng đất đai và văn hóa Song những nghiên cứu đó thường thiên về đánh giá tác động tiêu cực từ phía dân tộc
đa số, mà ít xem xét vai trò của họ trong phát triển ở vùng dân tộc thiểu số như thế nào
IV Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của “quan hệ cặp phạm trù “cái riêng” và “cái chung” để giải quyết vấn đề quan hệ dân tộc ở Việt Nam
1 Nhận thức
1.1.Nhận thức khái quát về vấn đề quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam
Từ khi ra đời và suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta, đứng đầu
là Hồ Chí Minh luôn luôn coi việc xây dựng quan hệ đoàn kết, bình đẳng, hữu nghị giữa các dân tộc là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược Chính sách dân tộc của đảng vì thế luôn nhằm vào khắc phục từng bước sự chênh lệch giữa các dân tộc, thực sự bình đẳng, cùng làm chủ tổ quốc, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng và nhà nước ta luôn luôn nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc, phát huy sức mạnh của cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc vì mục tiêu độc lập, thống nhất, tiến lên dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Bước sang thời kỳ mới của sự nghiệp xây dựng đất nước, nhân dân càng
có điều kiện để thưc hiện tốt hơn việc tăng cường, mở rộng khối đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên cao nhất sức mạnh dân tộc để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc là những vấn đề rất lớn, phức tạp và nhạy cảm, nhiều nội dung của vấn đề này đang cần được nghiên cứu, giải quyết
cả về lý luận và thực tiễn
1.2.Áp dụng vào chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh trong lĩnh vực công tác dân tộc.
Về chính trị, quyền bình đẳng giữa các dân tộc theo quy định của Hiến pháp được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Các dân tộc chung sống hòa hợp, đồng thuận, tôn trọng, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau và đều tích cực tham gia vào quá trình phát triển đất nước Hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng
Trang 10DTTS thường xuyên được kiện toàn, hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ người DTTS được quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Theo kết quả khảo sát về công tác đào tạo cán bộ người DTTS, có 71,3% số người DTTS được hỏi đánh giá tốt và khá tốt; về việc sử dụng cán bộ người DTTS, có 70,4% đánh giá tốt và khá tốt
Về kinh tế, vùng đồng bào DTTS có những bước phát triển tiến bộ rõ rệt, đời sống đồng bào được nâng lên, diện mạo vùng DTTS khởi sắc với hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng hoàn thiện Tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng miền núi phía Bắc đạt hơn 10%, miền Trung và Nam bộ 12%, Tây Nguyên là 12,5% Mặt bằng thu nhập và điều kiện sinh hoạt của đồng bào DTTS không ngừng được nâng cao, nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo và có cuộc sống khá giả
Về văn hóa, sự nghiệp phát triển văn hóa vùng đồng bào DTTS thu được nhiều kết quả Thiết chế văn hóa ngày càng hoàn thiện Theo báo cáo khảo sát, hiện 100% số xã có bưu điện, 44% số xã có nhà văn hóa; 62,5% số thôn, bản có nhà sinh hoạt cộng đồng; 15,9% hộ biết điệu múa truyền thống; 65,1% số hộ được nghe đài; 88,8% số hộ được xem truyền hình; 7,7% số hộ có máy vi tính; 6,5% số hộ có kết nối internet Nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS được bảo tồn và phát huy
Về phát triển xã hội, sự nghiệp giáo dục và chăm sóc sức khỏe đồng bào DTTS có bước phát triển mới Cơ sở vật chất trường lớp được đầu tư nâng cấp,
hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được củng cố, phát triển về quy mô và nâng cao chất lượng hoạt động Các chính sách về giáo dục, đào tạo, chế độ cho giáo viên và học sinh được thực hiện đầy đủ, đúng đối tượng đã tạo điều kiện nâng cao chất lượng dạy và học Tính đến tháng 7-2015, tỷ lệ người DTTS từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết đạt 79,8%, tỷ lệ đi học cấp tiểu học đạt 98,6%, tỷ
lệ đi học trung học phổ thông đạt 41,8%, tỷ lệ đi học cao đẳng, đại học đạt 6,5% Công tác chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường ở vùng đồng bào DTTS ngày càng được cải thiện và
có bước phát triển vượt bậc
Về quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội và quốc phòng, an ninh vùng DTTS cơ bản được bảo đảm, quan hệ giữa các dân tộc được củng cố Các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch kịp thời được ngăn chặn, việc truyền đạo trái pháp luật được kiểm soát, an ninh được duy trì, biên giới được bảo vệ
Có 36,1% người DTTS được hỏi cho rằng việc đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng đồng bào DTTS thời gian qua được thực hiện rất hiệu quả, 59,3% cho rằng khá hiệu quả, chỉ có 3,7% cho rằng không hiệu quả và có 0,9% cho rằng khó đánh giá
9