1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) tiểu luận tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, qua thực tiễn tại tòa án nhân dân thành phố điện biên

16 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận Tranh Tụng Tại Phiên Tòa Hình Sự Sơ Thẩm, Qua Thực Tiễn Tại Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Điện Biên
Người hướng dẫn P. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Điện Biên
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 157,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến thời điểm hiện tại, BLTTHS năm 2015 ra đời đã có nhiều sửa đổi, bổ sung thể hiện sự đổi mới về kĩ thuật lập pháp, tư duy lập pháp cũng như quan điểm chỉ đạo của Đảng về công cuộc đấu

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… ……….………… 2

NỘI DUNG……… ……… 2

1 Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm……… …………2

1.1 Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm……… …2

1.2 Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại BLTTHS 2015……… ……… 4

1.3 Đánh giá quy định của BLTTHS 2015 về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm……… ……….…… 5

2 Thực tiễn tranh tụng tại phiên tòa sở thẩm tại TAND thành phố Điện Biên và một số kiến nghị.……… ……… 9

2.1 Thực tiễn tranh tụng tại phiên tòa sở thẩm.……… 9

2.1.1 Những thành tích đã đạt được.……… ………… 9

2.1.2 Những hạn chế……….…10

2.1.2 Nguyên nhân……… ….…11

2.2 Một số kiến nghị……… ….…13

KẾT LUẬN……… ……….…… 15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

Xét xử là giai đoạn trung tâm của TTHS, tất cả các hoạt động tố tụng trước đó đều nhằm tạo cơ sở cho việc có thể đưa vụ án ra xét xử Trong đó, xét sử sơ thẩm vụ án hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đây là giai đoạn Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành giải quyết, xử lý vụ án lần thứ nhất bằng cách ra bản án và các quyết định tố tụng cần thiết khác

Đến thời điểm hiện tại, BLTTHS năm 2015 ra đời đã có nhiều sửa đổi, bổ sung thể hiện sự đổi mới về kĩ thuật lập pháp, tư duy lập pháp cũng như quan điểm chỉ đạo của Đảng về công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Một trong những điểm mới rất đáng ghi nhận của BLTTHS năm 2015 đó là quy định về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa mà rõ nét nhất là tại phiên tòa xét sử sơ thẩm vụ án hình sự Trước đây, BLTTHS năm 2003 quy định về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, BLTTHS năm 2015

đã gộp hai thủ tục này làm một và đổi tên thành thủ tục tranh tụng tại phiên tòa và bổ sung nhiều quy định nhằm bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015 về cơ bản đã tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể thực hiện các hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét sử sơ thẩm vụ án hình sự nhưng vẫn còn bộc lộ những điểm bất hợp lý như tại phiên tòa Chính vì thế, trong phạm vi bài tiểu luận, em xin được nghiên cứu đề

tài “Tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, qua thực tiễn tại tòa án nhân dân thành

phố Điện Biên”.

NỘI DUNG

1 Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm

1.1 Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm

Về khái niệm tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự Tố tụng hình sự là một quá trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án, quá trình đó trải qua nhiều giai đoạn

Trang 3

từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử vụ án Trong toàn bộ quá trình tố tụng thì giai đoạn xét xử vụ án tại phiên tòa ở vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định đối với toàn

bộ quá trình tố tụng Bản chất của tranh tụng được thể hiện đầy đủ và rõ nét nhất trong giai đoạn xét xử sơ thẩm tại tòa án Đặc điểm của tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm là Tòa án giữ vai trò là chủ thể chính trong việc duy trì và hướng dẫn các thủ tục đối với các bên tham gia tranh tụng tại Tòa Tuy nhiên, Tòa án không hạn chế tính chủ động và tích cực của các bên tham gia tranh tụng hoặc “làm thay chức năng của họ” Mặt khác, Tòa án cũng không được để cho quá trình tranh tụng diễn ra theo ý chí chủ quan của các bên

Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành đã kết hợp được những điểm tích cực của tố tụng xét xử và tố tụng tranh tụng Tranh tụng tại phiên tòa nhưng vẫn giữ được bản chất của “tố tụng xét hỏi” trên cơ sở kết quả điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ

vụ án Mặc dù không phải là “tố tụng tranh tụng” nhưng tính chất tranh tụng tại phiên tòa vẫn là sự tranh luận giữa người có quyền và lợi ích đối lập nhau như giữa Kiểm sát viên, người bị hại với bị cáo, Người bào chữa; trong một số trường hợp là giữa Kiểm sát viên với người bị hại; giữa người tham gia tố tụng với nhau Trong tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và Luật sự vẫn là những người tham gia chính Hội đồng xét xử không phải là người tham gia tranh tụng mà chỉ là người có tổ chức, điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa giữa những người có quyền và lợi ích đối lập nhau Do đó, vai trò của Hội đồng xét xử mà trực tiếp là chủ tọa phiên tòa trong việc tranh tụng như thế nào để đạt được mục đích là vô cùng quan trọng Tranh tụng về bản chất được hiểu là các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập và đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình và phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập

Theo nghĩa này, tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự được hiểu như sau: Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là những hoạt động được thực hiện

Trang 4

tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bởi các chủ thể tố tụng có chức năng đối

trọng nhau (chủ yếu là bên buộc tội và bên gỡ tội để bảo vệ quan điểm của mình và bác

bỏ quan điểm của phía đối lập, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, giúp Tòa án đưa ra phán quyết giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đầy đủ, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhận, cơ quan, tổ chức

1.2 Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại BLTTHS 2015

Nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” được quy định tại điều 26 BLTTHS 2015 Nhằm cụ thể hóa nguyên tắc này, bảo đảm việc tranh tụng không chỉ thể hiện ở phần tranh luận mà còn được thể hiện ngay trong phần xét hỏi, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã nhập thủ tục xét hỏi tại phiên tòa với thủ tục tranh luận tại phiên tòa (Chương XX và Chương XXI của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) thành

“Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” (Mục V Chương XXI - Xét xử sơ thẩm)

Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có) Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo Trình tự xét hỏi:

- Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý

- Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi

Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm

về những tình tiết cần làm sáng tỏ

Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản

- Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét vật chứng có liên quan trong vụ án

Trang 5

Chủ tọa phiên tòa phải quyết định hỏi riêng từng bị cáo Nếu lời khai của bị cáo này có thể ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì chủ tọa phiên tòa phải cách ly họ

Bị cáo bị cách ly được thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đó

Bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn Kiểm sát viên hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội và những tình tiết khác của vụ án

Người bào chữa hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa và tình tiết khác của vụ án

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hỏi bị cáo về những tình tiết liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự

Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ toạ phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết liên quan đến họ

Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án

Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác về các vấn đề có liên quan đến bị cáo

1.3 Đánh giá quy định của BLTTHS 2015 về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm

BLTTHS 2015 đã lần đầu tiên nguyên tắc tranh tụng được thể hiện trong BLTTHS, đồng thời từ đó vấn đề tranh tụng cũng đã được thể hiện trong một loạt các quy định khác nhau của Bộ luật, với mục đích tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình

sự, nhằm bảo đảm quyền con người, chống oan sai, nhanh chóng xác định sự thật khách quan của vụ án Nguyên tắc này được thể hiện đậm nét, đặc trưng nhất là tại phiên tòa sơ thẩm qua các điều luật với các nội dung cụ thể như sau:

Trang 6

Thứ nhất, BLTTHS năm 2015 đã được bổ sung một điều luật về giải quyết yêu

cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa (Điều 279), trong đó quy định rõ trách nhiệm của Tòa án đối với việc giải quyết yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa, bảo đảm phiên tòa có đầy đủ các chủ thể tố tụng, các chứng cứ, tài liệu, đồ vật được đưa đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp Quy định này nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp mà Đảng ta đã đề ra

Thứ hai, Nhằm khắc phục tình trạng chất lượng tranh tụng còn hạn chế ở một số

phiên tòa có đông bị cáo, có nhiều luật sư tham gia, do chỉ cho phép tối đa hai Kiểm sát viên tham gia (Điều 189 BLTTHS năm 2003), BLTTHS năm 2015 được sửa đổi theo hướng Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên Số lượng cụ thể Kiểm sát viên do Viện trưởng VKSND cùng cấp quyết định, trên cơ sở căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng vụ án (Điều 289)

Thứ ba, Để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, đồng thời nhấn mạnh đến việc

tôn trọng ý chí của bị cáo trong trường hợp bị cáo nhận thấy sự vắng mặt của người bào chữa không ảnh hưởng đến quyền tự bào chữa và khắc phục tình trạng phải hoãn phiên tòa nhiều lần do vắng mặt người bào chữa như hiện nay, BLTTHS năm 2015 được sửa đổi quy định về sự có mặt của người bào chữa theo hướng trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa Nếu người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn

mở phiên tòa xét xử (Điều 291)

Trang 7

Thứ tư, khắc phục tình trạng trong thực tế tại nhiều phiên tòa, bị cáo không nhận

tội và cho rằng việc khai nhận tại Cơ quan điều tra là do bị ép, bức cung, bảo đảm thống nhất với quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014, BLTTHS năm 2015 đã được bổ sung quy định sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa với tư cách là người đã điều tra vụ án (Điều 296) để góp phần làm rõ những chứng cứ hoặc những vấn đề có liên quan đến vụ án, bảo đảm các chứng cứ được đưa ra có tính thuyết phục cao hơn Ngoài ra, Bộ luật còn bổ sung quy định về sự có mặt của người giám định, người định giá tài sản (Điều 294) để trình bày các vấn đề liên quan đến việc định giá; và bổ sung quy định về sự có mặt của người phiên dịch, người dịch thuật (Điều 295)

Thứ năm, để bảo đảm sự độc lập của Tòa án trong xét xử, bảo đảm phán quyết

của Tòa án phải trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh tụng và những chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa, BLTTHS năm 2015 đã được bổ sung quy định về giới hạn của việc xét xử trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó nhưng quá trình xét xử phải bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo

và tuân thủ các quy định khác của Bộ luật (Điều 298)

Thứ sáu, khắc phục việc trình tự xét hỏi còn đặt nặng trách nhiệm chứng minh tội

phạm thuộc về Hội đồng xét xử theo quy định tại BLTTHS 2003, BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung theo hướng Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi (Điều 307) Đồng thời, Bộ luật còn bổ sung quy định khi được Chủ tọa phiên tòa đồng

ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác, hỏi người làm chứng, hỏi bị hại, đương sự

Trang 8

hoặc người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo (các Điều 309, 310 và 311) Sửa đổi theo hướng này để tạo ra một cơ chế thực sự dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa, tạo điều kiện để thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền buộc tội và gỡ tội tại phiên tòa

Thứ bảy, để có cơ sở tranh luận dân chủ tại phiên tòa, BLTTHS năm 2015 đã

được bổ sung quy định nội dung luận tội của Kiểm sát viên phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và

vi phạm pháp luật (Điều 321) và nhấn mạnh trách nhiệm của Kiểm sát viên là phải đưa

ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Đồng thời, bổ sung trách nhiệm của Hội đồng xét xử là phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản

án (Điều 322)

Thứ tám, BLTTHS năm 2015 quy định rõ bản án phải căn cứ vào kết quả thẩm vấn, tranh tụng và những chứng cử đã được xem xét tại phiên tòa, theo đó bổ sung yêu cầu đối với bản án sơ thẩm là phải rõ ý kiến của người bào chữa, bị hại, đương sự, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập; phân tích lý do mà Hội đồng xét

Trang 9

xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự và người đại diện, người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa ra; phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử (Điều 260)

2 Thực tiễn tranh tụng tại phiên tòa sở thẩm tại TAND thành phố Điện Biên

và một số kiến nghị.

2.1 Thự tiễn tranh tụng tại phiên tòa sở thẩm

2.1.1 Những thành tích đã đạt được

Thứ nhất, chủ trương cải cách thủ tục tư pháp và coi mở rộng tranh tụng tại phiên

tòa là khâu đột phá trong cải cách tư pháp đã thu được những kết quả đáng khích lệ Việc mở rộng tranh tụng tại phiên tòa đã tác động trực tiếp đến chất lượng điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan điều tra, kiểm sát và tòa án Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp đã có Công văn số 15 ngày 04/11/2002, TANDTC có kết luận số 290 ngày 05/11/2002, kế hoạch số 17-KH/BCS ngày 05/12/2002 và các quy định của BTTHS 2015 về tranh tụng tại phiên tòa, theo đó Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa chỉ hỏi có tính chất nêu vấn đề, còn lại những câu hỏi có tính chất buộc tội hoặc gỡ tội thuộc trách nhiệm của Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa HĐXX không được có lời lẽ khẳng định hoặc phủ định bất cứ vấn đề nào mà Kiểm sát viên, Người bào chữa và Những người tham gia tố tụng khác nêu ra Các bên tranh luận có quyền yêu cầu bên kia giải thích những vấn đề chưa rõ Thực tiễn triển khai Nghị quyết số 08-NQ/TW, nghị quyết 49-NQ/TW, BLTTHS 2015 cũng đã tạo được những chuyển biến tích cực trên thực tế

Thứ hai, việc mở rộng tranh tụng tại phiên tòa đã góp phần không nhỏ hạn chế

tình trạng án oan, sai trong xét xử VAHS Hàng năm ngành Tòa án Tỉnh Điện Biên đã

Trang 10

thụ lý và giải quyết một lượng khá lớn các VAHS Trong khoảng từ năm 2015 đến năm

2020, số liệu án hình sự như sau1:

Năm 2016, thụ lý 311 vụ/ 415 bị cáo, đã giải quyết 298 vụ/ 393 bị cáo Chưa giải quyết: 13 vụ/ 22 bị cáo, trong thời hạn luật định

Năm 2017, thụ lý 321 vụ/ 484 bị cáo, đã giải quyết 311 vụ/ 469 bị cáo Chưa giải quyết: 10 vụ/ 15 bị cáo, trong thời hạn luật định

Năm 2018, thụ lý 354 vụ/ 498 bị cáo, đã giải quyết 343 vụ/ 466 bị cáo Chưa giải quyết: 11 vụ/ 32 bị cáo, trong thời hạn luật định

Năm 2019, thụ lý 361 vụ/ 503 bị cáo, đã giải quyết 348 vụ/ 475 bị cáo Chưa giải quyết: 13 vụ/ 28 bị cáo, trong thời hạn luật định

Năm 2020, thụ lý 379 vụ/ 521 bị cáo, đã giải quyết 367 vụ/ 513 bị cáo Chưa giải quyết: 12 vụ/ 18 bị cáo, trong thời hạn luật định

Các vụ án đưa ra xét xử đều đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy

ra tình trạng oan, sai, lọt

Từ những kết quả trên có thể khẳng định rằng, về cơ bản công tác tranh tụng tại phiên tòa xét xử VAHS ở tỉnh Điện Biên trong những năm qua được thực hiện theo đúng tinh thần của Nghị quyết 08- NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW, các quy định của BLTTHS 2015, việc tranh tụng tại phiên tòa đã đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội; Không làm oan người vô tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng, góp phần tích cực trong việc đấu tranh phòng chống tội nham nói chung và ổn định an

2.1.2 Những hạn chế

Chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa còn yếu, việc tranh tụng giữa luật sư và kiểm sát không được coi trọng đúng mức và mang nặng tính hình thức Vai trò của luật sư chưa được coi trọng trong tranh tụng Trong một số vụ án các ý kiến luật sư đưa ra thì Viện kiểm sát không tranh luận, khi ra bản án thì cũng không có ý

1 Số liệu lấy từ báo cáo tổng kết công tác kiểm sát (các năm 2016, 2917, 2018,2019,2020) của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên

Ngày đăng: 08/12/2022, 15:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w