HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI Môn học: Toàn cầu hoá và văn hoá Tiểu luận: CƠ HỘI CỦA VIỆT NAM DƯỚI SỰ BIẾN ĐỔI CỦA HỆ THỐNG QUAN HỆ QUỐC TẾ TRONG TOÀN CẦU H
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI
Môn học: Toàn cầu hoá và văn hoá
Tiểu luận:
CƠ HỘI CỦA VIỆT NAM DƯỚI SỰ BIẾN ĐỔI CỦA HỆ THỐNG QUAN HỆ
QUỐC TẾ TRONG TOÀN CẦU HOÁ
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
MSV:
PGS.TS Phạm Thái ViệtNguyễn Thị Ngọc KhánhTT45A-014-1822
Trang 2Mục Lục
I Tổng quan 4
1 Khái niệm “Toàn cầu hoá” và “Toàn cầu hoá” dưới các góc độ 4
2 Lý thuyết “Hệ thống quan hệ quốc tế" 7
II Sự biến đổi của hệ thống quan hệ quốc tế dưới tác động của Toàn cầu hoá và sự ảnh hưởng của chúng tới Việt Nam 9
1 Sự biến dạng của các tác nhân trong hệ thống 9
1.1 Tác nhân nhà nước dân tộc 9
1.2 Tác nhân thể chế quốc tế 11
1.3 Tác nhân tổ chức phi chính phủ 12
1.4 Các phong trào xã hội toàn cầu 13
1.5 Các công ty đa quốc gia 14
2 Sự tương phản của các quan hệ trong hệ thống 15
2.1 Tính phụ thuộc 15
2.2 Tính tự quyết 16
III Cơ hội của Việt Nam dưới sự biến đổi của hệ thống quan hệ quốc tế trong toàn cầu hoá 17 LỜI KẾT 19
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ và là một xu thế tất yếu đối với sự pháttriển của thế giới ngày nay Vai trò của nó đang ngày càng được khẳng định trong việcthúc đẩy sự giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và an ninh mà không một quốcgia nào nằm ngoài xu thế đó Tuy nhiên, quá trình diễn ra của “Toàn cầu hoá", một sốcác tác nhân của hệ thống quan hệ quốc tế cũng dần thay đổi, dẫn theo một loạt các hệquả cho các nước trong khu vực
Nhìn chung, đến nay toàn cầu hóa đã làm thay đổi hệ thống quan hệ quốc tếmột cách đáng kể Toàn cầu hóa đã đưa các quốc gia lại gần nhau hơn, khiến chúngtrở nên phụ thuộc lẫn nhau và liên kết với nhau hơn Thế giới không còn là nơi củanhiều quốc gia khác nhau và tách biệt nữa, chúng dã gần như tạo thành một thực thể ởnhiều cấp độ khác nhau Các vấn đề không còn nảy sinh đơn lẻ nữa, do đó, các giảipháp cũng được tìm thấy trong hoạt động tập thể thay vì cá nhân Các tác nhân của hệthống quan hệ quốc tế đã đóng vai trò hàng đầu trong việc giải quyết các vấn nạnchung và tạo ra một thị trường và nền kinh tế toàn cầu
Mặc dù, quá trình biến đổi mang lại cả những mặt trái trong hệ thống quan hệ quốc tế, tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh nào thì vẫn luôn có những cơ hội cho Việt Namnắm lấy để tiến tới sự phát triển Bài tiểu luận này sẽ tập trung bàn luận về sự biến đổi của các tác nhân trong quá trình toàn cầu hoá, từ đó phân tích các cơ hội của Việt Namdưới sự biến đổi của hệ thống quan hệ quốc tế trong toàn cầu hoá
Trang 4I Tổng quan
1 Khái niệm “Toàn cầu hoá” và “Toàn cầu hoá” dưới các góc độ
Từ thời xa xưa đến nay, các học giả đã đưa ra nhiều khái niệm về “Toàn cầuhóa” Định nghĩa sớm nhất về toàn cầu hóa phải kể đến từ những năm 1960, khi cáchọc giả cũng như chính trị gia thấy được sự cần thiết phải sử dụng một thuật ngữ cónăng lực lý giải các hiện tượng xuyên quốc gia Phần lớn các khái niệm về Toàn cầuhóa tại thời điểm đó được xét dưới góc nhìn của một nhà nước dân tộc (national-state)Nhưng trải qua các giai đoạn sự kiện lịch sử, với sự phát triển của công nghệ, quátrình hợp nhất các nền kinh tế, sự bùng nổ các dòng di cư khổng lồ hay những lo ngại
về các mối hiểm họa sinh thái,… đã khiến các học giả phải nhìn nhận lại định nghĩa
về Toàn cầu hóa một cách tổng quan hơn Từ đó, Toàn cầu hóa còn được xem xétdưới các góc độ khác như kinh tế, quan hệ quốc tế, văn hóa, xã hội:
1.1 Toàn cầu hoá dưới góc độ kinh tế
Trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hóa hầu như được dùng để chỉ các tác độngthương mại nói chung và “tự do hóa thương mại” hay “tự do thương mại” nói riêng:
Toàn cầu hóa có thể được định nghĩa như là một quá trình mà thông qua đó thịtrường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, do đótính năng động của việc buôn bán hàng hóa và dịch vụ cũng giống như tính năng độngcủa sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ
Toàn cầu hóa như là một quá trình trong đó thị trường và sản phẩm ở các quốcgia ngày càng phụ thuộc vào nhau nhờ sự trao đổi năng động về hàng hóa, dịch vụ, tàichính và công nghệ
Toàn cầu hóa kinh tế là sự phát triển những thị trường rộng khắp thế giới chohàng hóa, vật chất, các dịch vụ, vốn cố định, khoa học kỹ thuật, vốn tài chính (vốn đầu
tư trên danh sách) và thông tin
Trang 5Toàn cầu hóa là tiến trình hội nhập các nền kinh tế trên thế giới thành một nềnkinh tế duy nhất Quá trình này được tính từ đầu thế kỷ XX, khi mà sự tồn tại của các
đế chế ở Châu Âu đã trở nên lệ thuộc vào các thuộc địa của chúng và ngược lại
Toàn cầu hóa là sự tự do hóa: sự dỡ bỏ các rào cản của nhà nước đối với cácdòng luân chuyển để tạo ra một nền kinh tế thế giới phi quốc gia
1.2 Toàn cầu hoá dưới góc độ quan hệ quốc tế
Toàn cầu hóa là quá trình phân rã lãnh thổ nhà nước dân tộc để tạo ra mộtkhông gian siêu lãnh thổ Nói cách khác, nó đang cơ cấu lại không gian xã hội vốntrước đó vẫn dựa vào địa lý, khiến cho những sự kiện mang tính địa phương có ảnhhưởng đến toàn thế giới, và ngược lại; nó làm nảy sinh những dòng chảy và nhữngmạng lưới hoạt động xuyên lục địa, liên khu vực
Toàn cầu hóa là một hình thức trá ngụy của hệ tư tưởng chủ nghĩa toàn cầu.Hình thức này đã lợi dụng các khuynh hướng khách quan của sự phát triển thế giới đểxây dựng uy tín cho các lợi ích dân tộc vị kỷ của những “ông lớn” trong quan hệ quốc
tế đương đại, và biện hộ cho chính sách bá quyền trong các sự vụ thế giới
Toàn cầu hóa là sự hình thành nên một trật tự thế giới tùy thuộc lẫn nhau củacác quan hệ siêu quốc tế và xuyên quốc gia Những mối liên hệ này đang chuyển hóamạnh mẽ các cơ chế giải quyết vấn đề nội bộ sang một cơ chế thống nhất chung chotoàn nhân loại
1.3 Toàn cầu hoá dưới góc độ xã hội
Toàn cầu hóa là đặc điểm và khuynh hướng chủ đạo của giai đoạn phổ quát hóa
xã hội thông tin – hậu công nghiệp (cái hiện đang cuốn toàn nhân loại vào một nấcthang văn minh mới trong sự phát triển của nó)
1.4 Toàn cầu hoá dưới góc độ văn hoá
Vào khoảng cuối thế kỉ XX, đầu thế kỷ XVI, khái niệm “toàn cầu hóa” xuấthiện thường xuyên hơn trong các công trình nghiên cứu văn hóa Khái niệm nàydường như nói lên một hiện tượng ở đó tính chất cá nhân của mỗi nền văn hóa dân tộc
và địa phương bị “quét sạch” và bị đồng nhất hóa một cách khách quan bới quyền lực
Trang 6thương mại to lớn của các công ty đa quốc gia và bởi các mạng lưới thông tin khắp thếgiới:
Toàn cầu hóa là phương Tây hóa (đặc biệt là Mỹ hóa) hay Hiện đại hóa Nó là
cơ chế hủy diệt những nền văn hóa và những thể chế tự trị đang hiện hành, để thayvào đó một cấu trúc xã hội nhất dạng (chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩacông nghiệp)
1.5 Các dòng chảy chủ đạo
Mặc dù tồn tại sự tách biệt nhưng xuyên suốt các định nghĩa vẫn tồn tại những ýtưởng tạo thành “dòng chảy chủ đạo” bao gồm:
1 Toàn cầu hoá (ít hoặc nhiều) đang làm suy giảm vai trò của nhà nước dân tộc
2 Toàn cầu hoá làm gia tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước và giữa cácdân tộc trên thế giới
3 Toàn cầu hoá hình thành nên các thị trường tài chính, hàng hoá và dịch vụ ở cấp độtoàn thế giới, hay là một nền kinh tế thế giới thống nhất
4 Toàn cầu hoá làm nảy sinh không gian thông tin toàn cầu, theo đó, hoạt động giaotiếp giữa các chủ thể không còn lệ thuộc nhiều vào không gian địa lý và thời gian vậtlý
5 Toàn cầu hoá chuyển hoá tri thức thành các đơn vị cơ bản của tài sản xã hội, và do
đó, tiến đến thay thế loại hình lao động truyền thống bằng lao động sáng tạo
6 Toàn cầu hoá làm cho các giá trị tự do, dân chủ (trước hết là các giá trị gắn vớinhân quyền, thẩm thấu một cách mạnh mẽ vào thực tiễn quan hệ quốc tế, cũng nhưvào đời sống chính trị trong nước
Trên nền tảng của những đánh giá chung như vậy, chúng ta sẽ có cơ sở để bàn về cácđặc trưng của toàn cầu hoá, để từ đó, đi đến nhận diện quá trình phức tạp và mới měnày
1.6 Kết luận khái niệm
Những định nghĩa trên đã cho thấy, ý niệm về toàn cầu hóa còn quá phân tán vàkhác biệt Bởi lẽ, toàn cầu hóa là một định nghĩa mới mẻ và quá rộng lớn, thế nên mỗichủ thể chỉ phác họa đối tượng ở một phương diện nào đó Tùy thuộc vào lợi ích của
Trang 7bản thân mỗi tổ chức, quốc gia hay cá nhân thì mỗi ý kiến và quan điểm của mỗi chủthể đấy về toàn cầu hóa lại khác nhau, dẫn đến các mâu thuẫn về định nghĩa Đồngthời, sự phân hóa các ý kiến về toàn cầu hóa còn bị biến đổi tùy theo những lĩnh vựchoạt động thực tiễn cũng như theo từng chuyên ngành khoa học khác nhau, thế nênđối với mỗi tổ chức, người nghiên cứu sẽ chỉ nhìn và phân tích toàn cầu hóa dưới góc
độ chuyên môn của mình
Tuy nhiên, dẫu sao dưới những sự khác biệt về định nghĩa toàn cầu hóa như đãnêu trên, có thể rút ra những điểm chung nhất được thừa nhận về bản chất của toàncầu hóa như sau:
Toàn cầu hóa là một hiện tượng đa chiều làm rộng mở và tăng cường các mối quan hệ về kinh tế- chính trị, văn hóa- xã hội; đồng thời làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và các kết nối xã hội để các kết nối đó mang tính toàn cầu.
2 Lý thuyết “Hệ thống quan hệ quốc tế"
2.1 Lý thuyết “Hệ thống"
Lý thuyết hệ thống do nhà sinh học người Đức Ludwig von Bertalanffy (L.V.Bertalanffy (1901-1972) người Áo, thuộc trường Đại học Tổng hợp Chicago), khởixướng vào những năm 40 của thế kỷ XIX Lý thuyết ra đời do xuất hiện những vấn đềtrật tự, tổ chức và tính toàn thể ở các đối tượng vật thể và phi vật thể trong mọi lĩnhvực nghiên cứu, dẫn đến cái nhìn thế giới như một tổ chức vĩ đại được tạo thành từ vô
số những tổ chức nhỏ hơn
Lý thuyết này đã được bổ sung và hoàn thiện nhờ sự đóng góp của nhiều thế
hệ các nhà khoa học tự nhiên, và đặc biệt là của các nhà triết học biện chứng như
I.Kant, F.Hegel… Theo đó, lý thuyết khẳng định: hệ thống là một hiện thực được cấu
thành bởi những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau và bởi những tương tác giữa chúng, dựa trên một phương thức tổ chức nhất định.
Trong một hệ thống, các yếu tố liên kết và tương tác với nhau theo quan hệnhân quả, nghĩa là mỗi sự thay đổi của một hay một số yếu tố đều kéo theo sự thay đổi
Trang 8của các yếu tố còn lại Sẽ tồn tại một số yếu tố nổi trội và có ảnh hưởng chi phối cácyếu tố còn lại tùy theo vị thế và chức năng của chúng Chính sự phụ thuộc và chi phối
lẫn nhau khiến các yếu tố gắn kết với nhau và tạo thành chỉnh thể, do đó, hệ thống
không phải là tập hợp của các đơn vị riêng lẻ mà là một thể thống nhất của những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau.
2.2 Lý thuyết “Hệ thống quan hệ quốc tế"
Tuy nhiên, lý thuyết hệ thống chỉ thực sự thâm nhập vào các nghiên cứu vềquan hệ quốc tế nhờ đóng góp của Kenneth Waltz với tác phẩm “Theory ofInternational Politics (1979)”, đánh dấu sự ra đời của một trào lưu mới trong nghiêncứu quan hệ quốc tế: Chủ nghĩa Hiện thực mới (CNHTM) hay còn gọi là Chủ nghĩaTân Hiện thực (Neorealism)
Chủ nghĩa Hiện thực Mới (Neorealism)
Chủ nghĩa Hiện thực Mới (bên cạnh Chủ nghĩa hiện thực Cổ điển) làmột phân nhánh của Chủ nghĩa hiện thực Trong khi chủ nghĩa hiện thực cổ điển(classical realism) tìm lời giải thích cho các hành vi của quốc gia thông qua các nhân
tố giải thích ở mức độ cá nhân thì chủ nghĩa hiện thực mới (neorealism) phân tíchquan hệ quốc tế ở cấp độ hệ thống
Nhìn chung, hệ thống quan hệ quốc tế được CNHTM hình dung như sau:
a Tác nhân chủ yếu trong hệ thống quan hệ quốc tế là các quốc gia - dân
tộc có chủ quyền Bên cạnh đó còn các nhân khác mang tính thứ yếu như: Thế chế
quốc tế (UN, WTO, OECD, ), các tổ chức phi chính phủ, các phong trào xã hội toàncầu, các công ty đa quốc gia…
b Về bản chất, hệ thống quan hệ quốc tế là một hệ thống vô chính phủ,
không có quyền lực nào cao hơn chủ quyền nhà nước dân tộc Các nhà nước chỉ tuânthủ theo ý chí riêng, với mục tiêu là nâng cao quyền lực để đạt được lợi ích quốc gia
c Lợi ích của các nhà nước thường mâu thuẫn với nhau, để giải quyết mâu
thuẫn, chiến tranh không phải là phương tiện nhất thiết và duy nhất Mâu thuẫn không
mất đi nhưng có thể được kìm nén bằng thỏa hiệp, đàm phán…
Trang 9d Hệ thống quan hệ quốc tế chỉ ổn định khi tồn tại sự cân bằng sức mạnh
giữa các tác nhân (đối với mô hình nhiều cực), hoặc khi tồn tại một sức mạnh duynhất có đủ khả năng thiết lập một trật tự quốc tế (mô hình đơn cực)
e Cơ cấu phân bổ sức mạnh được hiểu là trật tự thế giới, có tác dụng duytrì trạng thái ổn định của hệ thống quan hệ quốc tế Trong lịch sử từng tồn tại các loạihình trật tự như: đơn cực, đa cực và lưỡng cực Theo thông lệ, các cực thường là cácsiêu cường
II Sự biến đổi của hệ thống quan hệ quốc tế dưới tác động của Toàn cầu hoá
và sự ảnh hưởng của chúng tới Việt Nam
1 Sự biến dạng của các tác nhân trong hệ thống
1.1 Tác nhân nhà nước dân tộc
Trong hệ thống quan hệ quốc tế, nhà nước dân tộc là tác nhân chính yếu, đây làhiện thân của một thực thể lịch sử toàn vẹn, một thực thể chính trị duy lý, duy nhất
Nó có khả năng bảo tồn tính cấu kết của xã hội công dân, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
và chu cấp các tiện ích công cộng, đồng thời là đại diện hợp pháp cho các công dâncủa mình trong môi trường quốc tế
Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, đường biên giới giữa các nhànước, dân tộc đang dần được làm mờ Các nhà nước, dân tộc từ đó cũng đối mặt vớinhững sự thay đổi rõ ràng dưới tác động của toàn cầu hóa:
● Không gian của nền kinh tế quốc dân không còn gói gọn trong lãnh thổ nhà
nước, nó được mở rộng ra và hình thành các cấu trúc kinh tế - tài chính xuyên quốc gia Từ đó mà vai trò điều tiết của nhà nước, dân tộc sẽ bị hạn
chế nhiều hơn, ngày càng trở nên khó khăn hơn
● Toàn cầu hóa đang đẩy nhiều vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường trong lòng
nhà nước dân tộc lên thành vấn đề quốc tế chung Để giải quyết được
những vấn đề như: phát triển bền vững, khủng hoảng tài chính, khai thác và
sử dụng hợp lý tài nguyên, đấu tranh chống tội phạm có tổ chức cần phải
Trang 10có sự nỗ lực chung của toàn nhân loại, chứ không thể đơn thuần dựa vàosức mạnh của từng quốc gia đơn lẻ hay thậm chí tập thể các quốc gia.
● Toàn cầu hóa đang làm “mềm” các giới hạn lãnh thổ - lĩnh vực bất khả
xâm phạm của quốc gia có chủ quyền; ý thức phân biệt “bên trong” và
“bên ngoài” quốc gia đang bị mờ dần bởi sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế
và tri thức Xu thế này tạo nên những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động qua
lại giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới không phân biệt thể chế chính trị,biên giới lãnh thổ và dưới nhiều mức độ, tính chất khác nhau
● Toàn cầu hóa đang làm giảm sút năng lực kiểm soát tín dụng, tiền tệ và
ngân sách của nhà nước dân tộc Đây là những quyền lực được coi như trụ cột chính duy trì sự tồn tại của một nhà nước, dân tộc Tuy nhiên những
yếu tố này đang bị toàn cầu hoá thay thế bằng những yếu tố mới là: hệthống tỷ giá hối đoái thả nổi (System of floating rates), sự hợp nhất tiền tệ(Monetary Unification), tự dỡ bỏ hàng rào thuế quan và mậu dịch bằng cáchiệp ước khu vực hay đa phương (NAFTA, WTO, ASEAN )
● Toàn cầu hóa đang làm suy yếu khả năng chu cấp phúc lợi công cộng và
khả năng duy trì sự công bằng trong xã hội công dân - một chức năng vốn được xem là cố hữu của mô hình nhà nước dân tộc truyền thống.
Dưới áp lực của toàn cầu hoá, khoảng cách giàu nghèo trên thế giới ngày mộtgia tăng bất chấp nỗ lực của các chính phủ Toàn cầu hóa đang đẩy hàng triệungười lao động đến chỗ thất nghiệp, phá vỡ những phương thức sinh sốngtruyền thống của họ, trực tiếp hay gián tiếp tạo ra các dòng di cư, sự tàn phámôi trường thiên nhiên ở thế giới thứ ba Nó tạo cơ hội cho giới đầu cơ và gieorắc sự khốn cùng cho người lao động: ngân sách giáo dục và y tế bị cắt giảm đểtrả nợ khiến hàng triệu trẻ em thất học và hàng triệu người mất việc làm, đồnglương thực tế suy giảm, cấu trúc gia đình bị phá vỡ, sự mất ổn định xã hội kèmtheo tội phạm và bạo lực tăng lên Những cơn khủng hoảng tài chính do toàncầu hóa đang thường xuyên tái diễn, với mức độ ngày càng sâu rộng hơn - vàrốt cuộc tất cả những gánh nặng suy thoái đó đều đổ lên đầu những người laođộng - những người không gây ra các cuộc khủng hoảng ấy Đứng trước tình
Trang 11trạng này, hiện các chính phủ đang tỏ ra bất lực - nhất là các chính phủ củanhững quốc gia đang hoặc chậm phát triển.
● Toàn cầu hoá có xu hướng gạt nhà nước dân tộc ra ngoài lề các chương
trình nghị sự liên quan đến ba lĩnh vực: Môi trường - Dân chủ - Nhân quyền Nhân danh giá trị mang tính nhân loại chung, và do đó phi quốc gia,
các nguồn quyền lực mới - con đẻ của toàn cầu hóa, đang thách thức vàcạnh tranh với vai trò của nhà nước dân tộc trên ba mặt trận quốc tế này
1.2 Tác nhân thể chế quốc tế
Kỳ vọng đối với các thể chế quốc tế có khả năng quản trị một thế giới với tínhkết nối ngày một lớn đang tăng lên mạnh mẽ Quá trình toàn cầu hóa khiến các quốcgia gặp nhiều khó khăn hơn khi giải quyết các vấn đề xuyên quốc gia bằng các công
cụ truyền thống của nhà nước vốn bị bó hẹp trong các lãnh thổ quốc gia đã được xác
định Sự xuất hiện của các vấn đề toàn cầu với quy mô và tính chất phức tạp đã vượt
ngoài khả năng giải quyết của bất kỳ một quốc gia đơn lẻ nào đòi hỏi phải có nỗ lực chung của nhiều quốc gia thông qua hợp tác sâu rộng mới có thể giải quyết được.
Nhu cầu hợp tác trong các khuôn khổ thể chế đa phương để xử lý các vấn đề toàn cầu do đó đã tăng lên Tính chất và đặc điểm của các vấn đề toàn cầu hiện nay
đòi hỏi tất cả các nước, dù lớn hay bé đều phải chủ động tham gia hợp tác quốc tế vàtrở thành những chủ thể có trách nhiệm, tuỳ thuộc vào vị trí địa lý, tầm vóc và tínhnăng động của từng nước Nói cách khác, nhu cầu xây dựng các thể chế hiệu quả đểquản trị một thế giới với tính kết nối ngày một lớn đang tăng lên mạnh mẽ
Tuy nhiên, quá trình thể chế hóa các quan hệ toàn cầu, nhất là thương mại và đầu tư, đang chậm lại Do sự phức tạp của các vấn đề toàn cầu và do sự thiếu hiệu quả
của các cơ chế đa phương hiện hành, tâm lý và hành vi quay lưng lại và giảm cam kếtđối với các giải pháp đa phương cũng mạnh hơn Trước những tác động tiêu cực củatoàn cầu hóa, tâm lý chống toàn cầu hóa (còn gọi là làn sóng “phản toàn cầu hóa”)tăng mạnh nhất là ở các nước phát triển Một bộ phận dân chúng ở các nước phươngTây lo lắng bị mất việc làm và mất bản sắc văn hóa Lợi dụng tâm lý này, các chính trịgia dân túy đề cao “chủ nghĩa dân tộc về kinh tế,” chủ trương quay vào bên trong và