Việc sử dụng đất nông nghiệp có vai trò quyết định đối với các vùng nông thôn nước ta, ảnh hưởng mạnh đến việc tạo ra sản lượng nông sản như lương thực, thực phẩm tác động trực tiếp đến
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
***
-TIỂU LUẬN Môn: QUẢN LÍ NÔNG TRẠI
Đề tài: QUẢN LÍ TÀI NGUYÊN ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÍ, SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Họ và tên: Võ Minh Toàn MSSV: 31191024070 Lớp: AB001
Khóa: 45 Giảng viên bộ môn: Nguyễn Ngọc Vinh
Trang 2QUẢN LÍ TÀI NGUYÊN ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÍ, SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP Ở VIỆT NAM
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu
Quản lí tài nguyên đất nói chung và tài nguyên đất nông nghiệp nói riêng luôn là vấn đề được quan tâm của Đảng, Nhà nước và người dần đặc biệt vì hàng chục triệu người dân Việt Nam đang tham gia sản xuất nông nghiệp và gần như gắn liền cuộc sống với nông nghiệp Việc sử dụng đất nông nghiệp có vai trò quyết định đối với các vùng nông thôn nước ta, ảnh hưởng mạnh đến việc tạo ra sản lượng nông sản như lương thực, thực phẩm tác động trực tiếp đến nguồn thu nhập của người nông dân
Song song đó việc quản lí tốt công tác sử dụng đất nông nghiệp còn góp phần phát triển nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững Đặc biệt hơn trong những năm gần đây với sự chuyển phát triển của nền kinh tế thị thường công tác quản lí và khai thác tài nguyên đất nông nghiệp cũng có nhiều sự thay đổi trọng điểm tạo ra nhiều sản phẩm theo hướng hàng hóa nhằm đảm bảo và tăng thu nhập của các hộ nông dân
Mặt khác đối với lĩnh vực nông nghiệp, việc sử dụng đất hợp lí là ưu tiên tối quan trọng Xã hội càng phát triển, dân số tăng nhanh vô hình kéo theo nhu cầu về nguồn cung về lương thực thực phẩm cũng như nhà ở, xã hội Ta càng phải khai thác đất đai để thỏa mãn nhưng nhu cầu này
Xét về đất nông nghiệp ngoài giới hạn về diện tích còn đứng trước trở ngại suy thoái trước tác động của thiên nhiên cũng như sự thiếu ý thức của con người Xuất phát từ hiện trạng đó việc quản lí tài nguyên đất đặt biệt là đất nông
Trang 32 Mục đích
Trong tình hình dịch bệnh kéo dài trong nhiều năm trở lại đây không chỉ gây cản trở cho thói quen sinh hoạt của người dân Việt Nam mà còn là một bước lùi lớn của nền kinh tế Việt Nam khi các ngành dịch vụ, kinh doanh quốc tế
bị đứt gãy Nhưng ngành nông nghiệp vốn là thế mạnh của Việt Nam không bị ảnh hưởng quá lớn như các ngành khác đang trở lại thành một điểm tựa cho nền kinh tế Việt Nam Mục đích của khóa luận này nhằm chỉ ra các công tác quản lí và sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp chưa hiệu quả từ đó rút ra bài học làm cở sở định hướng và phát triển lâu dài cho việc sử dụng đất nông nghiệp ở các địa phương
II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
1 Khái niệm đất nông nghiệp
Luật đất đai năm 1993 khẳng định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tài liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư ,xây dựng các cơ sở văn hoá xã hội, an ninh và quốc phòng
Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu dựa vào mục đích sử dụng để sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Đất đai trong nông nghiệp vừa là đối tượng vừa là tài liệu lao động
Ở đây, đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng của của lao động mà còn có chức năng cung cấp dưỡng chất cho cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển Với ý nghĩa đó đất nông nghiệp
là một tài liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội
2 Đặc điểm của đất nông nghiệp
Nhắc đến đất nông nghiệp người ta thường nghĩ ngay đến việc sử dụng đất vào sản xuất các ngành nông nghiệp, nhưng trên thực tế có nhiều trường hợp
sử dụng đất vào các mục đích khác nhau trong ngành nông nghiệp Trong các trường hợp đó, tài nguyên đất được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất mới được xem là đất nông nghiệp, còn lại sẽ được xếp vào loại đất khác
Do đặc điểm tính chất từng loại đất này có sự khác nhau, dẫn đến tác dụng
sử dụng cụ thể cũng khác nhau nên người ta chia đất nông nghiệp thành 4 loại chính:
Trang 4 Đất trồng cây hàng năm: toàn bộ diện tích thực tế trồng nhưng loại cây có thời gian sinh trưởng và tồn tại không quá một năm như đất trồng lúa, đất trồng chuyên rau, đất trồng hoa màu…
Đất trồng cây lâu năm: toàn bộ diện tích thực tế đã trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng và tồn tại trên một năm như cà phê, dừa, cam, chanh…
Đất trồng cây nông nghiệp lâu năm không bao gồm cây lâm nghiệp, cây công nghiệp lâu năm trồng xen, trồng kết hợp các loại đất khác
Đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi: bao gồm diện tích đồng cỏ tự nhiên, đồng cỏ trồng, bãi cỏ để thả gia súc
Đất nông nghiệp ở Việt Nam phân bố không đều giữa các vùng trong cả nước Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm tỷ trọng đất nông nghiệp trong tổng diện tích đất tự nhiên lớn nhất cả nước, 2.654.066 ha đất nông nghiệp, chiếm 67,1% diện tích toan vùng Tính chất đất cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đế độ phì và
độ màu mỡ của đất nông nghiệp vì vậy đất nông nghiệp ở các vùng đồng bằng ven sông lớn thường xuyên được phù sa bồi tụ trở nên màu mỡ hơn các vùng khác
Phân bổ cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018
Nguồn: Bộ Tài nguyên & Môi trường
Dù đất đai khác nhau nhưng để khai thác hợp lý đất nông nghiệp cần phải có các biện pháp hợp lí kết hợp khoa học với truyền thống áp dụng đổi mới để đạt được hiệu quả tốt nhất
3 Vai trò của đất nông nghiệp
Trang 5Trong nông nghiệp, đất đai là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng trong ngành Đất đai được sử dụng trong nông nghiệp thường được gọi là ruộng đất Ruộng đất là tài liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thay thế được Con người sử tận dụng các tính chất tự nhiên của ruộng đất để tác động lên cây trồng
4 Thực trạng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông nghiệp chiếm 31% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở Việt Nam Tuy nhiên, việc sử dụng đất nông nghiệp đã có những thay đổi mạnh mẽ kể từ khi đất nước thống nhất năm 1975 Việc chiếm dụng đất và đầu cơ đất đai đã gây ra nhiều khó khăn cho các hộ gia đình nông thôn sống dựa vào nghề nông để kiếm sống Chính quyền trung ương đã giao 2/3 diện tích đất cho khu vực nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, chỉ khoảng 12% được giao cho các hộ gia đình cá nhân Đây là một nguyên nhân chính gây
lo ngại vì điều cốt yếu là các hộ gia đình nông thôn phải tiếp cận đủ đất canh tác cho sinh kế của họ Một lí do khác đó là Việt Nam phải gánh chịu mức độ mở rộng đô thị ngày càng tăng, dẫn đến mất đất nông nghiệp Trong tổng diện tích của cả nước, đất nông nghiệp chiếm khoảng 40%
Biểu đồ tăng trưởng ngành Nông nghiệp giai đoạn 2012 - 2019
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Ngày nay, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính với tỷ trọng đóng góp là 20% Nông nghiệp cũng mang lại công ăn việc làm cho hơn 60% người Việt
Trang 6Nam hiện nay Tuy nhiên, sử dụng đất bền vững đã là một vấn đề lâu dài của ngành nông nghiệp nước ta Trong những năm gần đây, vấn đề này đã trở nên trầm trọng hơn bởi nạn chiếm đoạt đất đai và đầu cơ đất đai Mặc nước ta đã và đang gặt hái được nhiều thành công trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp nước ta đang bị thu hẹp và tình trạng này ngày càng trở nên nghiêm trọng Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta:
1/3 tổng diện tích đất có rừng
1/4 sẽ được sử dụng để phát triển đô thị
Trừ 1/5 sẽ được để lại để sản xuất cây trồng và các mặt hàng lương thực khác từ gia súc gia cầm và thủy sản
Điều này có nghĩa chỉ còn 12 triệu ha dùng cho sản xuất nông nghiệp Con
số này thấp hơn nhiều so với thời điểm Pháp mới giải phóng năm 1945, vào khoảng 19 triệu ha
Bảng 2.2 So sánh về tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta vào các năm
1998 và 2008 như sau:
Đơn vị tính: Diện tích: một ngàn ha; tỷ trọng %
– Đất trồng cây lâu năm 5668 6309,6 17,1 19,0
– Đất trồng cỏ cho chăn nuôi 200 56,1 0,6 0,1
– Đất trồng cây hàng năm
– Đất trồng cây lâu năm 1533 3110,7 4,6 9,3
Trang 7– Rừng đặc dụng - 1991,7 - 6,0
Đất nuôi trồng thủy sản 442 728,6 1,3 2,2
Nguồn: Tổng cục thống kê – Hiện trạng sử dụng đất tính đến 1.1.2008
Có thể thấy trong 10 năm qua diện đất nông nghiệp cũng đã có sự gia tăng từ 57,3% lên 75,4% nhưng việc này đến chủ yếu từ việc sử dụng đất đai qua việc khai hoang, rửa chua Mặc dù diện tích nuôi trồng thủy sản tăng gần 64,8% (so với 1998) nhưng chưa tương xứng với tiềm năng khai thác biển và sông, hồ của nước ta
5 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lí và sử dụng đất nông nghiệp
5.1.Cơ cấu dân số
Tỷ lệ dân số nông nghiệp và phi nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý đất đai vì tỷ lệ đó phản ảnh mức độ nhu cầu sử dụng đất đai cho hoạt động sản xuất và đời sống của dân cư Một đặc trưng khác nữa ảnh hưởng đến quản lí đất nông nghiệp trong cơ cấu dân số chính là việc gia tăng dân số cơ học Chỉ số này tăng cao đồng nghĩa với việc phải thu hẹp diện tích đất nông nghiệp để xây dựng các công trình đô thị dân cư nhằm đáp ứng nhu cầu về nhà ở của dân cư
Với dân số khoảng 86 triệu người và tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 331.150 km2 thì diện tích đất bình quân trên một người hiện nay là 3800 m2
thuộc hạng trung bình thấp trên toàn thế giới còn tính trên diện tích đất nông nghiệp thì bình quân đầu người khoảng 2900 m2 chỉ số này rất thấp so với nhiều nước trên thế giới
5.2.Cơ cấu ngành kinh tế
Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động kinh tế xã hội Đất đai là địa điểm là cơ sở của các thành phố làng mạc, các công trình công nghiệp… Có thể thấy đất đai không chỉ có vai trò quyết định trong ngành nông nghiệp mà ở các ngành kinh tế khác đất đai cũng chiếm vai trò cực kì quan trọng Vì vậy nhu cầu
sử dụng đất đai làm cơ sở nền tảng, đối tượng lao động trong quá trình bố trí hoạt động kinh doanh sản xuất cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc quản lí đất nông nghiệp
Các ngành kinh tế cụ thể như Công nghiệp, Nông nghiệp, Dịch vụ - Du lịch, Giao thông vận tải cũng có nhu cầu sử dụng đất đai cùng với các điều kiện
Trang 8tự nhiên khác là một trong những cơ sở quan trọng để hình thành các vùng kinh
tế của đất nước, nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các tiềm năng về tự nhiên, kinh tế, xã hội ở mỗi vùng của đất nước
5.3.Tác động của quá trình đô thị hóa
Trong đà tăng trưởng phát triển của đất nước quá trình đô thị hóa là không thể tránh khỏi Nhưng tốc độ quá trình đô thị hóa tăng nhanh dẫn đến việc đất nông nghiệp bị thu hẹp khá lớn để phục vụ cho nhu cầu xây dựng nhà ở đô thị của dân cư của các đơn vị cơ quan Nhà nước và xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật
Năm 2009 diện tích đất đô thị cả nước là 105.000 ha thì theo kế hoạch năm 2020 chúng ta phấn đấu có 450.000 ha Dành cho 45 triệu người sinh sống tại các khu đô thị chiếm
40% dân số cả nước
Bảng 2.3 Số lượng đô thị ở Việt Nam
Nguồn: Trang web Bộ xây dựng: www.moc.gov.vn
Công tác quản lí đất nông nghiệp bị ảnh hưởng do quá trình đô thị hóa bởi các lý do:
Tác động của quá trình đô thị hóa dân cư biến động cơ học dẫn đến tình trạng nhu cầu về đất xây dựng gia tăng, tình trạng mua bán trái phép, mua bán đất nông nghiệp để xây dựng nhà ở phát sinh rất phức tạp Hiện trạng
vi phạm pháp luật đất đai của các cá nhân, tổ chức kèm theo đó là tình trạng vi phạm về công tác quản lí trật tự xây dựng đô thị
Trong khi quỹ đất đai của chúng ta có hạn nhưng quá trình đô thị hóa đòi hỏi phải sử dụng diện tích đất ngày càng nhiều để xây dựng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị và các công trình nhằm phục vụ đời sống văn hóa, phát triển sản xuất
Công tác quy hoạch sử dụng đất còn hạn chế, việc canh tác nông nghiệp vẫn con mang nặng tính tự phát và theo phong trào, hệ lụy là bất ổn về giá trong tiêu thụ, khó khăn trong công tác kiểm soát
Trang 9 Do tốc độ của đô thị hóa tăng nhanh ảnh hưởng rất lớn tới việc thiết lập các hồ sơ tài liệu bao gồm:
- Thống kê tổng hợp diện tích các loại đất và theo thành
phần sử quản lí sử dụng
- Lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất ở loại tỷ lệ
- Hoàn chỉnh hệ thống bản đồ địa chính, thiết lập sổ mục
kê, sổ đăng ký thống kê đất đai tới từng chủ sử dụng
- Quá trình lập quy hoạch kiến trúc chịu tác động mạnh
mẽ của quá trình đô thị hóa
5.3.Địa hình
Nước ta có địa hình khá phức tạp và phân bố không đồng đều chủ yếu là đồi núi điều này ảnh hưởng trức tiếp đến quá trình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Do địa hình đồi núi nhiều dẫn đến diện tích sử dụng cho đất nông nghiệp trở nên ít hơn Việc địa hình phức tạp còn dẫn đến phát sinh nhiều chi phí vận chuyển sản phẩm nông nghiệp Điều này càng tạo ra thêm nhiều thách thức trong công tác quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
5.4.Khí hậu
Việt Nam là nước có điều kiện khí hậu cận nhiệt đới gió mùa cho nên các hoạt động sản xuất nông nghiệp thường chỉ mang tính mùa vụ không liên tục Bên cạnh đó việc biến đổi khí hậu toàn cầu cũng đặt ra thách thức lớn cho công tác quản lý và sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Theo ước tính của các chuyên gia có thể trong vài thập kỉ tới hàng triệu m2
đất của nước ta tại các vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và Đồng Bằng Sông Hồng sẽ nằm dưới mực nước biển Ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ đứng trước thách thức trong việc đưa ra các biện pháp kiểm soát cũng như hạn chế các tác động đó
6 Quỹ đất nông nghiệp của nước ta
Quỹ ruộng đất là tổng thể về diện tích ruộng đất trên một vùng lãnh thổ theo một ranh giới nhất định, nằm trong phạm vi một đơn vị sản xuất như hộ gia đình , doanh nghiệp sản xuất
Tổng quỹ đất nông nghiệp ở Việt Nam là 7.637.710 ha Tuy nhiên trong các quỹ đất, quỹ đất tự nhiên mang tính bao trùm và được phân thành nhiều loại khác nhau Vì vậy quỹ đất nông nghiệp và một số quỹ đất chuyên dùng khác có
sự biến động nhất định Sự biến động này diễn ra theo hai hướng:
Trang 10 Hướng thứ nhất: Quỹ đất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp Do quá trình đô thị hóa và sự phát triển của các kết cấu hạ tầng nông thôn cũng như hình thành các trung tâm công nghiệp mới, Việc hình thành nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp đã làm thu hẹp quỹ đất nông nghiệp.Vì vậy việc
bố trí quy hoạch hiệu quả để sử dụng đất đạt hiệu quả cao và tránh tình trạng quy hoạch xây dựng trên đất nông nghiệp là hết sức cần thiết
Hướng thứ hai: Quỹ đất nông nghiệp sẽ tăng Do nhu cầu về lao động
và thu nhập, do nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng, dân số ngày càng đông nên việc khai khẩn đất hoang để đưa vào sản xuất nông nghiệp sẽ tăng lên Đây là vấn đề cần được khuyến khích và thực hiện theo những chính sách, định hướng của Nhà nước tránh tình trạng khai hoang theo phong trào tự phát
III KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
1 Kết luận
Có thể thấy công tác quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam vẫn đang vấp phải nhiều trở ngại từ các yếu tố khách quan đến chủ quan Dưới đây
là sơ lược một số hạn chế và nguyên nhân vẫn còn tồn đọng trong công tác quản lí và sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam nhiều năm qua:
Diện tích đất nông nghiệp giảm dần do bị chuyển mục đích sử dụng trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, xây dựng và tích nước của các đập hồ thủy điện làm ngập các thung lũng trồng lúa, vùng đồi trồng cây ăn quả
Hiệu quả sử dụng đất, năng suất lao động còn thấp và không đồng đều; tình trạng sản xuất manh mún, phân tán vẫn tồn tại, nhất là các tỉnh miền Bắc và miền Trung, đời sống nông dân nhìn chung còn nghèo, khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng dãn ra, trong đó khoảng cách về mức sống giữa nông dân miền xuôi và miền ngược, giữa vùng trồng lúa và vùng trồng cây công nghiệp, thủy sản cũng ngày một lớn hơn
Khả năng tích tụ và tập trung ruộng đất của nông dân còn rất thấp dẫn đến mức lợi nhuận thu được từ những mảnh ruộng nhỏ không đủ để bảo đảm chi tiêu trong cuộc sống của họ Rất nhiều nông dân vì làm nông nghiệp không hiệu quả, đã phải kiếm thêm thu nhập bằng các hoạt động phi nông nghiệp phi chính thức
Thiếu hỗ trợ tín dụng nên rất khó khăn cho các nông dân giỏi, có nhiều tâm huyết có đủ khả năng mua hoặc thuê lại đất của các nông dân khác