1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) mối QUAN hệ GIỮA hệ THỐNG QUẢN lí rủi RO DOANH NGHIỆP (ERM) và GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP đã được THỰC NGHIỆM tại các CÔNG TY cổ PHẦN được NIÊM yết TRÊN sàn CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

62 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa hệ thống quản lí rủi ro doanh nghiệp (ERM) và giá trị doanh nghiệp đã được thực nghiệm tại các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Người hướng dẫn Thầy Phùng Đức Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 786,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TÓM TẮT

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • 1. Lý do chọn đề tài

  • 2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • 4. Phương pháp nghiên cứu

  • 5 Ý nghĩa thực tiễn và tính mới của đề tài

  • 6 Bố cục đề tài

  • Bài ‘nghiên cứu được trình bày theo kết cấu gồm 5 chương sau:

  • CHƯƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY – CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

    • 1.1. Khung lý thuyết về rủi ro và hệ thống quản lý rủi ro trong doanh nghiệp:

      • 1.1.1. Khung lý thuyết về rủi ro trong doanh nghiệp:

      • 1.1.2. Khung lý thuyết về hệ thống quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM)

    • 1.2. Giá trị của doanh nghiệp: 

      • 1.2.1. Mối quan hệ giữa ERM và giá trị của doanh nghiệp: 

      • 1.2.2 Thực nghiệm về ERM tác động đến giá trị của doanh nghiệp: 

    • 1.3. Giả thuyết nghiên cứu:

  • CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DỮ LIỆU

    • 2.1. Phương Pháp và mô hình Nghiên Cứu:

    • 2.2. Các kiểm định mô hình:

      • 2.2.1. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến:

      • 2.2.3. Kiểm định hiện tượng tự tương quan:

    • 2.3. Mô hình nghiên cứu:

      • 2.3.1. Nguồn dữ liệu:

      • Thu thập từ báo cáo tài chính hằng năm của 200 doanh nghiệp Việt Nam được niêm yết trên sàn HNX, HOSE,... - Sử dụng phương pháp hồi quy tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), phương pháp ước lượng ( Pooled OLS),... thông qua phần mềm ứng dụng STATA ta sẽ thu được kết quả cho tập dữ liệu. Đề xuất mô hình đo lường tác động ERM tới giá trị doanh nghiệp cho các doanh nghiệp Việt Nam.

      • 2.3.2. Mô hình nghiên cứu:

      • 2.3.3. Một vài đặc điểm của mẫu nghiên cứu:

  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH HỒI QUY

    • 3.1.Xử lý dữ liệu:

      • 4.1.1. Thống kê mô tả dữ liệu:

    • 4.2. Thống kê mô tả biến:

      • 4.2.1. Ý nghĩa của các hệ số hồi quy trong mô hình:

      • 4.2.2. Kiểm định giả thuyết và mức độ phù hợp của mô hình (độ tin cậy 5%)

    • 3.3. Ma trận hệ số tương quan:

    • 3.4. Các kiểm định mô hình:

      • 4.4.1. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến:

      • 3.4.2. Kiểm định hiện tượng tự tương quan:

      • 3.4.3. Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi:

    • 3.5. Kết quả hồi quy OLS:

    • 3.6. Kết quả hồi quy FEM:

    • 3.7. Kết quả hồi quy REM:

    • 3.8. Lựa chọn phương pháp phù hợp:

    • 3.9. Kết quả hồi quy GMM:

      • 3.9.1. Vấn đề nội sinh trong mô hình nghiên cứu:

      • 3.9.2. Kết quả nghiên cứu mô hình GMM:

  • CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN

    • 5.1. Kết luận của bài nghiên cứu:

    • 5.2. Hạn chế của bài nghiên cứu và các khuyến nghị cho doanh nghiệp tại Việt Nam:

      • 5.2.1. Hạn chế của bài nghiên cứu:

    • 5.2.2 Khuyến nghị cho các doanh nghiệp tại Việt Nam:

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG ‘’NHÀ NGHIÊN CỨU TRẺ UEH’’ NĂM 2021 MỐI QUAN HỆ GIỮA HỆ THỐNG QUẢN LÍ RỦI RO DOANH NGHIỆP ERM VÀ GIÁ TRỊ

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Quản lý rủi ro doanh nghiệp được cho là có tác động đến giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên bằng chứng thực nghiệm về nó tác động vẫn được coi là khan hiếm Mục tiêu của nghiên cứu này là ước tính mối quan hệ giữa ERM và công ty giá trị trong các công ty cổ phần được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam Sau đó tác giả muốn kiểm định các nhóm doanh nghiệp khác nhau như: nhóm sử dụng ERM tác động thế nào đến giá trị doanh nghiệp, nhóm không sử dụng ERM tác động thế nào đến doanh nghiệp, nhóm sử dụng ERM về tỷ giá và lãi suất ở doanh nghiệp tài chính, phi tài chính, nhóm có ERM biến động giá ở doanh nghiệp sử dụng hàng hóa, ngược lại ở doanh nghiệp sản xuất hàng hóa.

Với mục tiêu nghiên cứu trên và với các bằng chứng thực nghiệm thì có thể thấy việc sử dụng ERM được thực hiện khá nhiều ở các nước phát triển vì chúng ta có thể dễ dàng thấy được những lợi ích đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu tác động tốt vậy thì liêu các doanh nghiệp Việt Nam có tiếp cận với ERM hay không? Từ đây tác giả muốn đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau:

Ở Việt Nam, mối quan hệ giữa quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) và giá trị doanh nghiệp cho thấy khi hệ thống ERM được triển khai đầy đủ và hiệu quả, giá trị doanh nghiệp có xu hướng tăng thông qua giảm biến động và tối ưu hóa quyết định đầu tư Tuy nhiên, so với các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới, kết quả ở Việt Nam cho thấy có sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng và điều kiện cần thiết để ERM phát huy tác dụng, phụ thuộc vào môi trường pháp lý, văn hóa quản trị và trình độ thực thi Nhiều nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của ERM đối với giá trị thị trường, lợi nhuận và cổ đông, nhưng vẫn tồn tại các trường hợp tác động hạn chế hoặc không có tác động rõ ràng nếu hệ thống ERM chưa được chuẩn hóa hoặc chưa gắn với chiến lược doanh nghiệp Do đó, để đánh giá đúng đắn, cần phân tích bối cảnh Việt Nam, các biến kiểm soát như quy mô doanh nghiệp, ngành nghề và mức độ trưởng thành của ERM Tóm lại, ERM có tiềm năng tác động tích cực lên giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam, nhưng mức ảnh hưởng có thể khác biệt so với các nghiên cứu trên thế giới tùy theo đặc thù thị trường và quá trình triển khai.

Các tác nhân ảnh hưởng đến hệ thống quản lý rủi ro doanh nghiệp ở Việt Nam có đặc điểm riêng so với các nước trên thế giới, song vẫn chịu ảnh hưởng từ các yếu tố chung như quản trị rủi ro, tuân thủ và mô hình quản trị Sự khác biệt giữa Việt Nam và thế giới phụ thuộc vào môi trường kinh doanh từng nơi và mức độ hội nhập kinh tế, pháp lý và văn hóa tổ chức Các yếu tố nội tại như cấu trúc tổ chức, nguồn lực, trình độ nhân sự và mức độ áp dụng công nghệ ảnh hưởng tới cách xây dựng và vận hành hệ thống quản lý rủi ro ở Việt Nam Các yếu tố bên ngoài như biến động kinh tế vĩ mô, chuỗi cung ứng toàn cầu và thay đổi quy định của nhà nước cũng tạo ra ngữ cảnh khác biệt cho quản trị rủi ro tại Việt Nam so với thế giới Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả, hệ thống quản lý rủi ro ở Việt Nam cần được thiết kế linh hoạt, phù hợp với môi trường kinh doanh địa phương và mức độ hội nhập của thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Phân tích dữ liệu bảng được ước lượng bằng bốn mô hình hồi quy: OLS pooled, Fixed Effects (tác động cố định), Random Effects (tác động ngẫu nhiên) và hệ thống GMM hai bước theo Blundell và Bond (1998) Kiểm định Hausman được sử dụng để lựa chọn mô hình phù hợp giữa FE và RE, đảm bảo ước lượng có tính nhất quán Đồng thời, hệ thống GMM hai bước được áp dụng để xử lý các vấn đề về động lực và sự đồng nhất tham số trong dữ liệu bảng.

Về phương pháp, nghiên cứu sử dụng các mô hình hồi quy trên dữ liệu panel với hai phương án chính là hồi quy tuyến tính Pool OLS và hồi quy định lượng GMM hệ thống hai bước theo đề xuất của Blundell và Bond (1998), nhằm kiểm chứng các giả thuyết một cách tương đối toàn diện; đồng thời tác giả còn ứng dụng FEM và REM để tăng độ tin cậy của kết quả và cung cấp góc nhìn đa chiều cho phân tích Thêm vào đó, phương pháp GMM hai bước còn xử lý hiệu quả các khuyết tật dữ liệu như nội sinh, phương sai thay đổi và tự tương quan trong chuỗi dữ liệu panel, từ đó nâng cao tính hợp lý và làm phong phú kết quả nghiên cứu.

Phương pháp định lượng được áp dụng để đo lường tác động của các rủi ro lên Hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) và thể hiện mối quan hệ giữa ERM và giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam Kết quả cho thấy ERM giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn bằng cách tập trung vào hoạch định chiến lược, củng cố hệ thống quản trị và nâng cao nhận thức về rủi ro của HĐQT, ban giám đốc và toàn thể tổ chức Qua đó, doanh nghiệp có khả năng nhận diện và quản lý rủi ro tốt hơn, đồng thời thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh bằng cách đánh giá kịp thời các biến động và triển khai các kế hoạch giảm thiểu rủi ro.

Ý nghĩa thực tiễn và tính mới của đề tài

Phân tích thực nghiệm trên mẫu các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn 2015-2019 cho thấy ERM có mối quan hệ tích cực với giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam, và mức độ tác động so sánh với thế giới cho thấy Việt Nam có lợi ích tương đối rõ Kết quả này củng cố các nghiên cứu trước đây cho thấy hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) có tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp Lợi ích của ERM đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh được dễ dàng nhận thấy, góp phần nâng cao hiệu quả và giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên, một số bằng chứng thực nghiệm cho thấy hiệu quả không tích cực vẫn xuất hiện ở một số trường hợp, được giải thích do khác biệt về quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính (nợ vay), tốc độ tăng trưởng doanh thu, dự trữ tiền mặt, ROA và cổ tức.

Quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) là yếu tố thiết yếu để doanh nghiệp tính toán và đánh giá các rủi ro, nhận diện mối quan hệ giữa chúng và giảm thiểu ở mức tối ưu ERM giúp vượt qua áp lực danh tiếng, bảo vệ lợi ích cổ đông và nhà đầu tư, đồng thời đảm bảo tuân thủ các quy định pháp lý Việc dự báo rủi ro cho phép hoạch định chiến lược hiệu quả; các rủi ro được đánh giá kịp thời và có kế hoạch hạn chế thiệt hại, thậm chí biến rủi ro thành lợi thế khi nhanh chóng xử lý và đưa ra các chiến lược khả thi hơn Nền tảng hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp vững chắc giúp doanh nghiệp bắt kịp nhịp độ thị trường và tăng cường khả năng thích nghi Một cách tiếp cận ERM hiệu quả là phân loại khách hàng dựa trên độ rủi ro từ hồ sơ đánh giá và sử dụng các công cụ tính toán để phản ánh mức độ rủi ro thực tế cho từng khách hàng, từ đó tối ưu chi phí, tối đa hóa nguồn lực và lợi nhuận từ vốn đầu tư Các nghiên cứu cho thấy rủi ro được đánh giá hệ thống có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí và tăng hiệu quả, đồng thời cho phép thích nghi với các rủi ro đa dạng hơn.

Bố cục đề tài: Bài ‘nghiên cứu được trình bày theo kết cấu gồm 5 chương sau

Bài ‘nghiên cứu được trình bày theo kết cấu gồm 5 chương sau:

Chương 1 trình bày khung lý thuyết về rủi ro doanh nghiệp và hệ thống quản trị rủi ro (ERM), giới thiệu các khía cạnh nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro nhằm bảo vệ và tăng giá trị doanh nghiệp Đồng thời, chương phân tích mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp và hiệu quả của ERM, dựa trên các lý thuyết quản trị rủi ro và tác động của quản trị rủi ro đến hiệu suất tài chính Bên cạnh đó, phần tổng quan bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam đánh giá tác động của ERM lên giá trị doanh nghiệp, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng và các khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn trong bối cảnh Việt Nam.

Chương 2: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu được trình bày rõ ràng, nêu nguồn dữ liệu, cơ sở dữ liệu và cách thức thu thập, xử lý để bảo đảm chất lượng và tính đáng tin cậy của phân tích Mô hình nghiên cứu được mô tả chi tiết, với danh mục các biến và ý nghĩa của từng biến trong mô hình, đồng thời xác định các mối quan hệ được giả thiết và hướng phân tích Phần phương pháp nghiên cứu giải thích thiết kế nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, kỹ thuật phân tích và quy trình triển khai nhằm kiểm tra giả thuyết và rút ra kết luận có độ tin cậy cao.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu trình bày kết quả thực nghiệm thông qua các phân tích và giải thích về thống kê mô tả, hệ số tương quan và kết quả hồi quy Dữ liệu được mô tả bằng thống kê mô tả (trung bình, độ lệch chuẩn, phạm vi) nhằm làm rõ đặc điểm mẫu và sự biến thiên của các biến đo lường Mối quan hệ giữa các biến được đánh giá thông qua hệ số tương quan, cho thấy mức độ liên hệ và hướng tác động giữa các yếu tố nghiên cứu Các kết quả hồi quy được báo cáo với ước lượng tham số, độ tin cậy và ý nghĩa thống kê, từ đó đánh giá mức độ tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc và sự phù hợp của mô hình Các phân tích này được giải thích để làm rõ ý nghĩa thực tế của kết quả và làm nền tảng cho các kết luận cùng đề xuất ở chương sau.

Chương 4 kết luận tổng hợp những kết quả chính của nghiên cứu, làm rõ đóng góp của đề tài và gợi ý các hướng cải thiện dành cho các công ty Việt Nam Đồng thời, chương nêu rõ các hạn chế của nghiên cứu, như phạm vi dữ liệu, phương pháp và mức độ khái quát hóa kết quả Trên cơ sở này, các hàm ý chính sách được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, tăng cường cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững cho doanh nghiệp Việt Nam, bao gồm tăng cường ứng dụng công nghệ, chuẩn hóa quy trình và nâng cao năng lực nguồn nhân lực, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư và thể chế.

KHUNG LÝ THUYẾT – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY – CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Khung lý thuyết về rủi ro và hệ thống quản lý rủi ro trong doanh nghiệp

1.1.1 Khung lý thuyết về rủi ro trong doanh nghiệp:

Rủi ro là đặc tính không thể tránh khỏi của mọi tổ chức và doanh nghiệp, bắt nguồn từ những yếu tố không chắc chắn và các biến cố bất ngờ không thể dự đoán trước được Điều này đồng nghĩa với việc dù có hệ thống quản trị tốt đến đâu cũng không loại bỏ được mọi mối nguy, mà chỉ có thể nhận diện, đánh giá và ứng phó nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực Việc hiểu và quản trị rủi ro giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động ổn định và bảo vệ giá trị tài sản trong bối cảnh thị trường biến động Theo Hanafi.

(2009) rủi ro được chia thành 2 trường phái khác nhau: Rủi ro thuần tuý (Pure risk) và Rủi ro đầu cơ (Speculative risk)

Rủi ro thuần tuý là rủi ro chỉ tồn tại hai khả năng: bị thiệt hại hoặc không bị thiệt hại Theo Hanafi (2006), rủi ro thuần tuý được xem là một khái niệm nền tảng trong quản lý rủi ro và được phân thành ba dạng chính, được trình bày để giúp nhận diện và xử lý các tình huống rủi ro một cách có tổ chức.

- Rủi ro tài sản, vật chất là do một số sự kiện ảnh hưởng xấu đến tài sản, vật chát của tổ chức.

- Rủi ro nhân viên đề cập đến rủi ro do nhân viên của tổ chức gặp phải các sự kiện bất lợi.

- Rủi ro pháp lý là rủi ro do các hợp đồng kinh doanh không phù hợp với các tài liệu dự kiến và thông tin bị sai lệch.

Rủi ro đầu cơ là rủi ro tồn tại 3 khả năng xảy ra có lợi, thiệt hại và không thay đổi.

Các loại rủi ro đầu cơ bao gồm:

Rủi ro thị trường là rủi ro phát sinh từ biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán và giá hàng hóa trên thị trường Thông tư 08/2017/TT-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành, có hiệu lực từ ngày 01/12/2017, quy định trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng nhằm thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin về đối tượng giám sát qua hệ thống thông tin và báo cáo để phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định pháp luật liên quan Rủi ro thị trường được định nghĩa là một nội dung trọng tâm tại Điểm b Khoản 2 Điều 8 của Thông tư này.

Rủi ro lãi suất là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất trên thị trường đối với giá trị của các giấy tờ có giá và các công cụ tài chính có lãi suất Nó cũng bao gồm các sản phẩm phái sinh lãi suất được ghi nhận trên sổ kinh doanh của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Hiểu và quản trị rủi ro lãi suất giúp các tổ chức tài chính đánh giá mức độ nhạy cảm của danh mục đầu tư với biến động lãi suất và bảo toàn giá trị cũng như tối ưu lợi nhuận.

Rủi ro ngoại hối là rủi ro phát sinh từ biến động bất lợi của tỷ giá trên thị trường đối với các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trạng thái ngoại tệ Khi tỷ giá dao động, giá trị tài sản và nghĩa vụ bằng ngoại tệ mà các tổ chức này nắm giữ có thể bị suy giảm, ảnh hưởng đến lãi/lỗ, thanh khoản và cấu trúc vốn của họ.

Rủi ro giá cổ phiếu là rủi ro do biến động bất lợi của giá cổ phiếu trên thị trường, ảnh hưởng đến giá trị của cổ phiếu và giá trị chứng khoán phái sinh trên sổ kinh doanh của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Đây là loại rủi ro tài chính có thể làm giảm giá trị đầu tư và tác động tới các công cụ phái sinh mà ngân hàng nắm giữ, đồng thời làm biến động mức rủi ro trên bảng cân đối kế toán Quản trị rủi ro giá cổ phiếu đòi hỏi theo dõi xu hướng thị trường, đánh giá phơi nhiễm và triển khai các biện pháp quản lý nhằm giữ ổn định tài sản và thanh khoản cho tổ chức.

Rủi ro giá hàng hóa là biến động bất lợi của giá hàng hóa trên thị trường, ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của các sản phẩm phái sinh hàng hóa và giá trị của các vị thế trong giao dịch giao ngay Với các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, rủi ro này thể hiện ở mức độ biến động giá hàng hóa tác động đến lợi nhuận, thanh khoản và vốn Quản trị rủi ro giá hàng hóa tập trung theo dõi biến động thị trường, đánh giá tác động lên các sản phẩm phái sinh và giao dịch giao ngay, từ đó xây dựng biện pháp phòng ngừa và phân bổ vốn phù hợp.

- Rủi ro tín dụng (Credit Risk):

Rủi ro tín dụng ở Việt Nam được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ theo cam kết Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Thông tư 02/2003/TT-NHNN, rủi ro tín dụng còn được định nghĩa là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cam kết.

Theo quan điểm quốc tế, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của định chế tài chính do khách hàng không thực hiện đúng các cam kết trên hợp đồng tín dụng Tổn thất dự kiến (EL) là những tổn thất có khả năng xảy ra nhưng được ngân hàng dự tính trước Tổn thất ngoài dự kiến (UL) là những tổn thất có khả năng xảy ra nhưng không hoặc chưa được ngân hàng dự tính trước.

- Rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk):

Khả năng thanh toán là khả năng của một công ty hoặc cá nhân thanh toán các khoản nợ của mình mà không gặp thiệt hại nghiêm trọng Rủi ro thanh khoản xuất hiện khi các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc họ có khả năng trả nợ đúng hạn nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó Theo Thông tư 08/2017/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng.

+ Rủi ro thanh khoản được đo lường bằng: Tổn thất thanh khoản dự tính Thâm hụt thanh khoản x Chi phí thanh khoản

- Rủi ro hoạt động (Operational Risk)

Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2001), rủi ro hoạt động là rủi ro gây tổn thất từ các nguyên nhân như lỗi con người, sự thiếu hoặc vận hành không hiệu quả các quy trình và hệ thống, cũng như từ các sự kiện khách quan bên ngoài Các loại rủi ro hoạt động được xác định gồm rủi ro do quy chế và quy trình nghiệp vụ, rủi ro do cán bộ trong tổ chức, rủi ro do các nguyên nhân khác, rủi ro do tác động từ bên ngoài, và rủi ro từ hệ thống công nghệ thông tin.

Rủi ro hoạt động phát sinh từ trước khi bắt đầu cho tới sau khi kết thúc một quy trình trong doanh nghiệp (các nghiệp vụ kinh doanh và nghiệp vụ hỗ trợ) Quản trị rủi ro hoạt động gồm thiết lập chính sách, triển khai hành động và theo dõi kiểm soát nhằm bảo đảm tiến trình vận hành đúng chuẩn Trách nhiệm chính thuộc về các nhà quản lý cấp cao, nhiệm vụ của họ là phân công công việc cho các bộ phận và đảm bảo tiến trình vận hành thông suốt Mục tiêu là tránh tình trạng một bộ phận vừa xây dựng chính sách vừa thực hiện và vừa theo dõi kiểm soát, nhằm giảm thiểu sự chệch lệch và tăng hiệu quả quản lý rủi ro.

Để đo lường rủi ro hoạt động một cách hiệu quả, cần áp dụng các nguyên tắc Khách quan, Thống nhất, Tính khả dụng, Minh bạch, Toàn diện và Đầy đủ Quá trình đo lường rủi ro hoạt động được thực hiện qua bốn bước chính: Thu thập dữ liệu liên quan đầy đủ; Xây dựng bảng đánh giá để chuẩn hóa và so sánh các nguồn rủi ro; Rà soát và xác nhận tính hợp lý của kết quả nhằm đảm bảo độ tin cậy; và Sử dụng kết quả đánh giá để quyết định biện pháp quản trị và cải thiện hoạt động Việc thực hiện đầy đủ các bước cùng với các nguyên tắc này giúp tổ chức nhận diện, đo lường và quản trị rủi ro hoạt động một cách minh bạch và hiệu quả.

1.1.2 Khung lý thuyết về hệ thống quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM)

Quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) là quá trình quản lý toàn diện các rủi ro phù hợp với công ty bằng cách xem xét mối tương quan giữa các rủi ro, nhằm định hình khẩu vị rủi ro và đảm bảo nguồn lực được phân bổ hợp lý để duy trì tạo ra giá trị cho cổ đông ERM là một phần của quản trị rủi ro và cung cấp tín hiệu cho nhà đầu tư bằng cách chuyển giao thông tin từ các người quản lý có thông tin đầy đủ đến cổ đông có thông tin ít hơn Như một khái niệm mở, ERM có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy nghề nghiệp và ưu tiên trong quản lý các loại và mức độ rủi ro Gates (2006) cho rằng Quản trị rủi ro doanh nghiệp tự khẳng định là mô hình thống trị trong quản lý rủi ro doanh nghiệp Hai thập kỷ gần đây chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ nhu cầu đối với ERM và cải thiện quản trị rủi ro, trong đó áp lực từ bên ngoài công ty ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển và nguy cơ phá sản bắt nguồn từ việc chấp nhận rủi ro quá mức Điểm đặc biệt của ERM là nhìn nhận rủi ro từ quan điểm của ban giám đốc và hội đồng quản trị, không phải giới hạn ở rủi ro dự án hay rủi ro đầu tư, mà tập trung vào quản trị rủi ro ròng và tổng hợp của toàn doanh nghiệp và cách hình thành mức sẵn sàng, năng lực để chấp nhận các rủi ro đó.

Theo Smith và Stulz (1985) và Froot, Scharfstein (1993), các công cụ phân tích tài chính doanh nghiệp được dùng để mô tả các vấn đề quản lý rủi ro mà doanh nghiệp phải đối mặt ERM được đề xuất như một giải pháp do Hội đồng quản trị áp dụng để giải quyết những vấn đề này, xoay quanh vấn đề đại lý và bất cân xứng thông tin trong công ty Do những bất thường này, một công ty có thể tham gia vào quản trị rủi ro chính thức ngay cả khi không có mâu thuẫn bên ngoài hoặc có mâu thuẫn bên ngoài nhưng không áp dụng quản trị rủi ro Do đó, lý thuyết này bổ sung cho lý thuyết quản trị rủi ro doanh nghiệp truyền thống, tập trung vào việc loại bỏ ảnh hưởng của những mâu thuẫn tồn tại bên ngoài công ty, chẳng hạn như thuế hoặc các vấn đề hợp đồng giữa công ty và các tác nhân thị trường khác.

Giả thuyết nghiên cứu

Theo định lý không phù hợp về tài chính của Modigliani và Miller, một công ty sẽ không tham gia vào các hoạt động phòng ngừa rủi ro, vì những hoạt động này không mang lại giá trị gì cho công ty (Modigliani & Miller, 1958) Bắt đầu từ những năm 80, vai trò của quản lý rủi ro đã được xem xét lại và nhiều tài liệu lý thuyết đã lập luận rằng, trước sự không hoàn hảo của thị trường vốn, quản lý rủi ro doanh nghiệp là một phương tiện để tăng giá trị của cổ đông Những đóng góp lý thuyết quan trọng trong lĩnh vực này là của Smith & Stulz (1985), Bessembinder (1991), Nance và cộng sự (1993), Froot & Stein (1998), Noco & Stulz (2006), và Aretz và cộng sự (2007)

Hoyt và Liebenberg (2011) đã phát hiện ra rằng ERM có tương quan tích cực với giá trị doanh nghiệp (được đo lường bằng Tobin’s Q) trong ngành bảo hiểm Hoa

Kỳ từ năm 1998 đến 2005 Cụ thể, hệ số Q của các công ty bảo hiểm tham gia vào ERM cao hơn 20% so với bảo hiểm khác các công ty Baxter và cộng sự (2013) đã phân tích sự hiệu quả của ERM trong lĩnh vực bảo hiểm và ngân hàng của Hoa Kỳ và cho ra kết quả phù hợp với Hoyt và Liebenberg (2011) Các áp dụng ERM dẫn đến tăng 1,14% và 3,40% trong ROA và Tobin’s Q, tương ứng Nhiều phát hiện thú vị được tìm thấy trong báo cáo ở Beasley (2008) Sử dụng chỉ số ERM để ủy quyền áp dụng ERM, Gordon và cộng sự (2009) đã tìm thấy bằng chứng giống như ở Beasley (2008); nhưng mối quan hệ giữa ERM và giá trị doanh nghiệp (được đo bằng thị trường chứng khoán một năm trở lại) phụ thuộc vào độ chính xác để khớp ERM với công ty thuộc những ngành cụ thể, tức là môi trường không cố định, cạnh tranh trong ngành, quy mô công ty, độ phức tạp của công ty và giám sát bởi ban quản lí.

Ngược lại, Lin và cộng sự (2012) cho rằng việc chấp nhận ERM có thể là một công cụ hủy giá trị Họ tiến hành nghiên cứu trên 85 công ty bảo hiểm tài sản và thương vong được giao dịch công khai tại Hoa Kỳ từ năm 2000–2007, và sử dụng cả thước đo giá trị kinh tế lẫn thước đo dựa trên kế toán, cụ thể Tobin’s Q và ROA, để đánh giá giá trị doanh nghiệp Phân tích cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa ERM và giá trị doanh nghiệp: việc áp dụng ERM làm giảm Tobin’s Q khoảng 5% và ROA khoảng 4% Họ cho rằng liên kết tiêu cực có thể do ERM phức tạp (Fraser, Schoening-Thiessen & Simkins, 2008) và chi phí thực hiện ERM cao (Beasley et al., 2008; Pagach & Warr, 2010) Phát hiện tương tự được tìm thấy trong các nghiên cứu bảo hiểm rủi ro doanh nghiệp (xem Callahan, 2002; Jin & Jorion, 2006; Khediri & Folus, 2010).

Sử dụng bảng xếp hạng ERM, McShane và cộng sự (2011) cho thấy không có bằng chứng cho thấy giá trị công ty tăng lên khi ERM được áp dụng trong các công ty bảo hiểm ở Hoa Kỳ Cụ thể, họ cho thấy giá trị công ty tăng lên khi TRM diễn ra, nhưng điều này không tăng khi công ty đạt được ERM Ở thị trường mới nổi, Manab và cộng sự đã xem xét tác động của ERM đối với giá trị doanh nghiệp.

Nghiên cứu năm 2010 cho thấy mục tiêu chính của việc áp dụng EWRM tại các công ty tài chính ở Malaysia là sự sống còn chứ không phải tạo ra giá trị Hơn nữa, Tahir và Razali (2011) cũng như Chen (2012) đều tìm thấy kết quả không đáng kể từ danh sách các công ty được niêm yết ở Malaysia và Đài Loan.

Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) và giá trị doanh nghiệp chủ yếu dựa trên mô hình tĩnh, mô tả lợi ích tức thời của ERM; tuy nhiên, ERM đòi hỏi thời gian để triển khai đầy đủ và tác động lên hiệu suất cũng như giá trị của doanh nghiệp có thể không được nhận ra ngay Do đó, cần mở rộng phân tích để xem xét ảnh hưởng của ERM đến hiệu suất và giá trị của doanh nghiệp theo thời gian, bổ sung thêm khía cạnh dài hạn bên cạnh các lợi ích ngắn hạn.

Các nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ rõ giữa ERM và giá trị doanh nghiệp trong các tổ chức tài chính, và McShane và cộng sự (2011); Farrell & Gallagher (2015); Bromiley và cộng sự (2015) cũng đồng ý với quan điểm này Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm trên các doanh nghiệp phi tài chính cho thấy ERM có thể có ba tác động khác nhau đến giá trị doanh nghiệp: (i) tác động xấu; (ii) tác động tốt; (iii) tác động không rõ ràng (tức là không làm tăng cũng như giảm giá trị doanh nghiệp) Điều này có thể được giải thích bởi một số nguyên nhân khác nhau.

Quy mô doanh nghiệp có mối liên hệ với hiệu suất và giá trị doanh nghiệp theo lập luận của Tongli và cộng sự (2005) Các doanh nghiệp lớn có thể tăng quy mô nhanh hơn nhờ thành tựu trong quá khứ, và điều này phản ánh giá trị doanh nghiệp Ví dụ, khi một công ty tăng quy mô từ 5 triệu lên 10 triệu trong năm tới, điều này cho thấy hoạt động kinh doanh đang mạnh và tạo ra giá trị 5 triệu cho cổ đông Từ quan điểm của cổ đông, kết quả này là tích cực, vì họ nhận được triển vọng trả cổ tức tăng và có thể đầu tư nhiều hơn Do vậy, có một mối quan hệ tích cực giữa quy mô doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp.

Trong thực tế kinh doanh, hầu hết các công ty dùng nợ để tài trợ cho hoạt động đầu tư và mở rộng quy mô Các nguồn vốn cho hoạt động có thể được tạo ra từ quyền chọn, hợp đồng tương lai hoặc các công cụ tài chính phái sinh khác Việc vay nợ cho phép công ty tăng đòn bẩy tài chính, nắm bắt cơ hội đầu tư mà không cần tăng vốn chủ sở hữu, từ đó tạo ra giá trị cho các bên liên quan khi doanh nghiệp có lợi nhuận Hơn nữa, đòn bẩy cao giúp tối ưu hóa thuế nhờ khả năng khấu trừ lãi vay so với thuế thu nhập doanh nghiệp Như đã được công nhận bởi Aggrawal và cộng sự.

Đòn bẩy tài chính có thể làm tăng giá trị doanh nghiệp vì nợ buộc các nhà quản lý phải loại bỏ các dự án có NPV âm và phải trả các chi phí đầu tư đã định trước Sharma (2006) cho rằng một công ty chỉ dùng vốn cổ phần sẽ không tối ưu bằng một công ty sử dụng sự kết hợp hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và các hình thức nợ khác nhau Việc quản lý cấu trúc vốn tối ưu giúp giảm chi phí vốn và từ đó tăng giá trị doanh nghiệp Vì vậy, có một mối quan hệ tích cực giữa nợ và giá trị doanh nghiệp khi cấu trúc vốn được cân bằng và phù hợp với mục tiêu dài hạn của công ty.

Tốc độ tăng trưởng doanh thu được xem là yếu tố quan trọng tác động đến giá trị doanh nghiệp Theo Maury (2006) và King & Santor (2008), tốc độ tăng trưởng doanh thu thể hiện khả năng duy trì sự phát triển của doanh nghiệp theo từng năm, và mức tăng trưởng càng cao, ổn định sẽ thu hút nhiều khách hàng lớn bằng cách cho thấy tiềm năng tăng trưởng Do đó, theo Mayer (1977), mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng doanh thu và giá trị doanh nghiệp là thuận chiều: khi tốc độ tăng trưởng doanh thu tăng lên thì giá trị doanh nghiệp cũng tăng lên nhanh chóng.

Thứ tư, tiền mặt dự trữ Theo Jiang Baoqiang và Bi Xiaofang (2006), họ đã tiến hành nghiên cứu lượng tiền mặt nắm giữ của các doanh nghiệp niêm yết ở Trung Quốc nhằm làm rõ mức độ tiền mặt dự trữ và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định nắm giữ tiền mặt trong quản trị tài chính doanh nghiệp Nghiên cứu này góp phần làm rõ vai trò của tiền mặt dự trữ đối với thanh khoản, chi phí cơ hội và chiến lược tài chính của doanh nghiệp.

Quan điểm của tác giả cho rằng khi doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt sẽ gánh chịu chi phí đại diện, làm ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp Lượng tiền mặt thấp khiến nhà đầu tư cho rằng doanh nghiệp đang tích cực đầu tư để tạo lợi nhuận, trong khi lượng tiền mặt cao lại khiến họ nghĩ doanh nghiệp không tham gia dự án nào và triển vọng tăng trưởng kém Do đó, mức tiền mặt cao có thể làm giảm giá trị doanh nghiệp, trong khi tiền mặt dự trữ thấp có thể thúc đẩy giá trị tăng lên Tóm lại, tồn tại một mối quan hệ nghịch chiều giữa lượng tiền mặt nắm giữ và giá trị doanh nghiệp.

Khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cho thấy công ty tạo ra thu nhập sau chi phí và các chi phí khác, đồng thời phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản và quản lý Nó được đo bằng ba chỉ số tài chính chủ yếu: tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận ròng trên doanh thu), lợi tức vốn chủ sở hữu (lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu) và tỷ suất sinh lời trên tài sản (lợi nhuận ròng trên tổng tài sản) Những tỷ lệ này cho thấy cách doanh nghiệp tạo ra doanh thu từ đầu tư vào tài sản và mức độ hiệu quả của hoạt động quản trị Khả năng sinh lời cao có thể tác động đến thị giá cổ phiếu và thu hút thêm vốn đầu tư, đồng thời cung cấp tín hiệu cho các chủ nợ về khả năng trả nợ Theo Naccur và Goaied (2002) dựa trên nghiên cứu thị trường chứng khoán Tunisia, hệ số sinh lời là một yếu tố tạo ra giá trị tương lai để thu hút nhà đầu tư mới; và theo Varaiya và cộng sự, lợi nhuận làm tăng giá trị cho cổ đông.

Mohamad và Saad (2010) nghiên cứu trên 172 công ty niêm yết tại Bursa Malaysia cho thấy Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) là thước đo lợi nhuận có ý nghĩa thống kê ở mức 1% so với giá trị doanh nghiệp theo đề xuất Tobin's Q Do đó, mối quan hệ tích cực giữa lợi nhuận trên tổng tài sản và giá trị doanh nghiệp được thể hiện rõ.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DỮ LIỆU

KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH HỒI QUY

Ngày đăng: 08/12/2022, 15:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w