1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học tiếng việt lớp 1

21 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt lớp 1
Trường học Trường Tiểu học ...
Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 157,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện thực tế của trường tôi là: Tranh, ảnh phục vụ cho bài học còn hạn chếviệc giúp học sinh lớp 1 hiểu nghĩa của từ qua tranh ảnh còn gặp khó khăn, mà yêucầu đặt ra ngày càng cao đ

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT:

I ĐẶT VẤN ĐỀ

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, để ngày mai thế giới có những chủ nhântương lai tốt của đất nước Trong giai đoạn mới là các em được đi học và cấp họcTiểu học để các em học sinh lĩnh hội kiến thức, làm nền tảng phát triển cho các cấphọc tiếp theo

Nhưng thực tế các em ở nhiều các vùng miền khác nhau và cụ thể là đối tượngcác em học sinh của tôi ở trường Tiểu học …… thuộc vùng sâu, vùng xa hầu hết các

em chưa qua lớp mẫu giáo, cụ thể là học sinh của lớp 1 tôi trực tiếp giảng dạy khinhận diện các âm, vần và tốc độ đọc còn chậm nên đã làm ảnh hưởng trực tiếp đếnthời lượng của giờ học, sự tiếp thu kiến thức thật khó khăn

Điều kiện thực tế của trường tôi là: Tranh, ảnh phục vụ cho bài học còn hạn chếviệc giúp học sinh lớp 1 hiểu nghĩa của từ qua tranh ảnh còn gặp khó khăn, mà yêucầu đặt ra ngày càng cao đòi hỏi học sinh phải nắm bắt được kiến thức một cách vữngvàng để kiến thức đi sâu vào cuộc sống hàng ngày, biết vận dụng kiến thức của mônTiếng Việt vào cuộc sống Khi các em bắt đầu học chữ, học đọc học viết và nói lênđược những yêu cầu cần thiết của một bài học, từ đó nhìn vào âm – vần – tiếng Từđây các em hiểu thêm được các tiếng, từ, câu Nên việc giúp trẻ tăng thêm vốn từ hiểu

từ, biết dùng từ chính xác tới nền tảng vững chắc cho việc học những lớp học trên làviệc làm khó khăn và đòi hỏi quá trình lâu dài Bản thân tôi đã sử dụng những kinhnghiệm này trong giảng dạy lớp 1 của tôi ở năm học đã qua và đạt hiệu quả khá cao

Vì vậy tôi chọn đề tài “Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt lớp 1”.

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

Trang 2

cụ, là chìa khoá, là phương tiện để học sinh tiếp nhận tri thức loài người Tập đọcgiúp các em hiểu được cái hay, cái đẹp tinh tế của nghệ thuật ngôn từ Tập đọc, đặcbiệt là đọc đúng giúp các em học được cách nói, cách viết một cách chính xác, trongsáng có nghệ thuật, góp phần không nhỏ vào việc rèn luyện kĩ năng đọc mà còn pháttriển cho học sinh vốn từ ngữ Tiếng Việt phong phú Từ đó, các em sẽ học tốt cácmôn học khác, bởi đọc đúng được chính xác nội dung một vấn đề nào đó Từ đó, các

em sẽ làm Toán đúng, viết đúng và nói đúng, Đọc đúng góp phần quan trọng vàoviệc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh Những bài tập đọc trong chươngtrình sách giáo khoa Tiếng Việt 1 là những câu chuyện gần gũi, những bài văn, bàithơ hay Chính vì thế mà các em có vốn văn học phong phú Cũng như các môn họckhác ở các cấp học, môn Tập đọc đòi hỏi giáo viên phải đổi mới phương pháp: Lấyhọc sinh làm trung tâm, học sinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình học tập, thầy thiết

kế - trò thi công Tự tìm tòi để hiểu nội dung, phát hiện kiến thức dưới sự chỉ đạo,

Trang 3

hướng dẫn của người thầy Với những yêu cầu quan trọng như vậy thì người thầyphải là người tổ chức linh hoạt chuẩn bị được nhiều tình huống phong phú cho họcsinh Trong chương trình tiểu học, các bài tập đọc của lớp 1 đã được chọn lọc kĩ càng.Nhằm cung cấp, bồi dưỡng cho các em lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu ngườilao đông, yêu người thân, hiểu và yêu thêm lịch sử Việt Nam.

2 Về chương trình Tiếng Việt 1

- Phương pháp dạy học mới khơi gợi tính sáng tạo, tự giác thiếp thu bài, tạo sựhứng thú giúp học sinh làm chủ kiến thức

- Phương pháp mới giúp học sinh nắm chắc kiến thức ngữ âm, chất lượng mônhọc Tiếng Việt của học sinh đã được nâng lên nhiều so với trước

- Lượng kiến thức nặng so với học sinh lớp 1 (VD: Ngay bài đầu tiên, nhiều họcsinh chưa biết chữ cái nhưng đã phải viết như dạng chính tả Trong quá trình học, các

em còn phải phân biệt được tiếng có âm đầu; tiếng có âm chính; tiếng có âm đệm, âmchính; tiếng có âm đệm, âm chính, âm cuối…

Trước đây, học hết 8 tuần, các em thuộc bảng chữ cái và có thể ghép vần thành

âm, tiếng Nay, hết 6 tuần, học sinh đã phải đọc những bài dài tới 30 tiếng, hay có bàihọc bốn vần hay có khi học sáu vần một ngày đối với HS lớp một là quá nhiều)

- Nhiều bài đọc không gần gũi với học sinh nên học sinh khó nhớ

3 Những lỗi thường thấy của học sinh lớp1 khi học phân môn tiếng Việt.

a Lỗi về phát âm

* Sai về phụ âm đầu

- Đây là lỗi mà nhiều em mắc phải, nguyên nhân này có thể do ảnh hưởng củatiếng địa phương, do nói theo bạn nhiều thành quen( bạn phát âm sai), do bản thâncác em chưa kiên trì luyện tập, do bộ phận phát âm chưa hoàn chỉnh vì vậy dẫn đếnphát âm không chuẩn từ đó làm cho người nghe hiểu sai ý muốn nói

Ví dụ: “nòng nọc” ý muốn nói đến con “nòng nọc” nhưng lại phát âm là “lònglọc” làm cho người nghe hiểu sang cái lòng được lọc, dẫn đến sai ý muốn nói

Trang 4

* Sai về dấu thanh

- Lỗi về dấu thanh là lỗi HS cũng hay bị mắc nhưng không nhiều bằng lỗi về phụ

âm đầu, tuy nhiên lỗi về dấu thanh rất khó sửa, cần nhiều thời gian và kiên trì luyệntập

Ví dụ: “ củ sả” ý muốn nói đến củ sả để nấu ăn, nhưng HS phát âm thành “ cụsạ” dẫn đến người nghe không hiểu được nghĩa muốn nói

* Sai về vần

Lỗi này thường mắc ở một số em do thói quen sử dụng từ ngữ của vùng miền( rượu – riệu, gãy – gẫy )

Ví dụ: “ cô Thanh” ý muốn nói đến cô tên Thanh nhưng HS lại phát âm lại đọc

là “ cô Thăn” làm cho người nghe hiểu lầm sang tên cô là Thăn

b Nguyên nhân dẫn đến thực trạng đọc sai của học sinh tiểu học hiện nay là:

Từ việc điều tra, tìm hiểu, tôi thấy việc đọc sai của học sinh lớp 1 chủ yếu tậptrung ở một số nguyên nhân sau:

Một là: Các em chưa hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ về nghĩa của tiếng, của từ,của câu

Hai là: Chưa ý thức được phải phát âm chuẩn thì người nghe mới hiểu hết nghĩa

mà mình muốn diễn đạt

Ba là: Do bản thân các em đọc sai lại chưa kiên trì, tự giác tập luyện để sửa sai

4 Đặc điểm của SGK Tiếng Việt 1 trong 5 bộ sách giáo khoa mới

* Bộ sách Cánh diều

Nội dung gồm ba phần: học chữ cái, vần và luyện tập tổng hợp Mỗi bài học 2chữ cái hoặc 2 vần để phù hợp với mọi đối tượng học sinh; việc học mỗi chữ, mỗi vầnđều bắt đầu từ một từ khóa chỉ những sự vật quen thuộc trong đời sống

Điểm mới về nội dung của sách là bài 1 dạy chữ cái a thay vì e như sách hiệnhành Nhiều người cho rằng, dạy chữ cái a trước vì tiếng học sinh phát ra đầu đời là a,

ba Đây cũng được xem là một lý giải khá thuyết phục bởi dạy chữ cái a sẽ dễ dàng,

Trang 5

vừa sức với mọi học sinh hơn Ở đây, các tác giả đã sắp xếp thứ tự dạy các chữ cáitheo nhóm nét chữ để học sinh dễ viết Bắt đầu bằng nhóm nét cong, chuyển sangnhóm nét khuyết, đồng thời kết hợp dạy theo thứ tự bảng chữ cái, kết hợp yêu cầuchính tả…

Cái hay, cái mới của SGK mới là phần luyện tập tổng hợp, học sinh có thêm cácgiờ tự đọc sách báo và hoạt động trải nghiệm dưới tên gọi Góc sáng tạo Góc sáng tạogiúp đưa bài học vào cuộc sống thường nhật, gần gũi với cuộc sống của học sinh Ởđây các em sẽ được vận dụng những điều mình đã học, đã biết vào việc viết, trưngbày, giới thiệu về sản phẩm như: bưu thiếp tặng người thân, sưu tầm ảnh thiên nhiên,ảnh về thầy cô, bạn bè, ảnh của mình để giới thiệu về mình

Sách Tiếng Việt lớp 1 Cánh diều là cuốn sách được nhiều người quan tâm, đánhgiá cao bởi có nhiều điểm mới so với SGK hiện hành, hình thức trình bày đẹp, phùhợp với nội dung Chương trình giáo dục phổ thông mới, với phương pháp dạy họchiện đại… Tuy nhiên, bên cạnh những cái hay về nội dung, đẹp về hình thức, rất tiếcSGK Tiếng Việt 1 tập 1 Cánh diều còn những hạn chế đáng nói Nhiều đoạn văn, câuvăn chưa được hay, đưa vào sách rất ít thơ (chỉ có 2 bài)

* Bộ sách vì sự bình đẳng trong GD

Nội dung

Ngoài việc đảm bảo yêu cầu về phẩm chất và năng lực nhằm hiện thực hoá mụctiêu chung của chương trình Ngữ văn: giáo dục các phẩm chất yêu nước, nhân ái,chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; các năng lực chung như: tự chủ và tự học, giaotiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo, SGK Tiếng Việt 1 của bộ sách Vì sựbình đẳng và dân chủ trong giáo dục do tôi chủ biên chú ý hình thành năng lực đọchiểu và viết sáng tạo bằng cách đưa nội dung đọc hiểu dạy ngay từ giai đoạn Học vần,

có nội dung viết sáng tạo (viết câu, đoạn) chứ không chỉ viết kĩ thuật theo đúng yêucầu của chương trình mới môn Tiếng Việt

Trang 6

Sách đã sử dụng nhiều biện pháp và kĩ thuật biên soạn để hiện thực hoá cácnguyên tắc tích hợp, giao tiếp, tích cực hoá hoạt động và kích hứng thú của học sinh.Đặc biệt, các tác giả không chỉ trình bày nội dung học tập mà cố gắng tối đa thể hiệncách học của học sinh trên từng trang sách Phương châm biên soạn là dễ hóa và thú

vị hóa, bảo đảm sự thành công của học sinh ngay từ những ngày đầu đến trường

* Điểm thú vị của sách là có giai đoạn Làm quen cho học sinh ghi nhớ đúng hìnhdạng chữ cái bằng cách huy động kinh nghiệm bản thân, khám phá từ các đồ vậtquanh mình và tạo hình cơ thể

Ví dụ:

* Sách lựa chọn trật tự dạy vần theo nguyên tắc đưa từ nghi vấn vào sớm, tạo cơhội cho học sinh nhanh chóng tự đọc được câu hỏi, bài tập, phát huy khả năng tự học.Sách đưa hết các vần có âm chính a và âm cuối trong tuần học Vần đầu tiên để họcsinh sớm đọc được các từ nghi vấn (ai, sao, cái gì, làm gì, tại sao, thế nào, bao giờ,khi nào) là những từ công cụ để điều hành dạy học bằng câu hỏi

Ví dụ: Đến Bài 33 (ăn – ăt), học sinh đã được học hết các vần an, at, am, ap, ang,

ac, anh, ach, ai, ay, ao, au và biết cách đọc các tiếng chứa các vần này nên có thể tựđọc được các câu hỏi trong bài

* Sách xây dựng được một hệ thống bài tập có tính "mở" để trên một vật liệu tốithiểu đạt được kết quả tối đa

Ví dụ:

Bài tập Tạo tiếng có âm, vần vừa học Sách đưa ra mô hình tiếng mẫu để học sinhdựa vào đó tự tạo các tiếng bằng cách ghép các phụ âm đầu bất kì với vần vừa học;sau đó các em phải biết chọn được các tiếng có nghĩa (tiếng có khả năng tạo từ) trong

số các âm tiết ghép được Ví dụ khi học vần an, với chữ b, học sinh sẽ tạo ra được 5tiếng cũng là 5 từ đơn: ban, bàn, bản, bán, bạn

Những điểm mới của SGK Tiếng Việt 1 và những điều lưu ý với thầy cô

Trang 7

Các câu hỏi/ bài tập mở rộng vốn từ, viết, nói và nghe đều có tính "mở" để họcsinh được thể hiện ý kiến cá nhân tùy theo trình độ và kinh nghiệm của bản thân, tạo

cơ hội để học sinh có những ý kiến khác nhau

Các bài Đọc mở rộng đưa ra các yêu cầu mang tính “mở” để học sinh có thể tìmkiếm văn bản đọc mở rộng từ nhiều nguồn khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cánhân, nhà trường và địa phương

* Sách có tính tích hợp cao trong các bài

Tích hợp các hoạt động hình thành các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, đọc thànhtiếng với đọc hiểu; tích hợp đọc hiểu và viết câu, đoạn, Việc cung cấp kiến thứctiếng Việt và hình thành kĩ năng nói và nghe, viết sẽ dạy gắn chặt với kĩ năng đọchiểu chứ không rời theo từng mạch Phần Nói và nghe không theo hệ thống âm màtheo các chủ đề giao tiếp gắn với tình huống trong bài đọc Vì thế, số lượng bài tậpkhông nhiều nhưng vẫn đảm bảo phát triển đầy đủ các kĩ năng

Ví dụ:

* Sách xây dựng được đường phát triển năng lực ở nhiều mức, phù hợp vớinhiều vùng miền và đưa ra được các cách thức, kĩ thuật dạy học để tạo ra sự phát triểnnăng lực này một cách chắc chắn

Ví dụ: Bài kể chuyện Quạ trồng đậu

Những điểm mới của SGK Tiếng Việt 1 và những điều lưu ý với thầy cô

+ Mục tiêu của bài học: Dựa vào tranh và câu hỏi gợi ý, học sinh kể được câuchuyện ngắn Quạ trồng đậu bằng 4 – 5 câu và hiểu được kết quả, niềm vui của laođộng, từ đó hình thành phẩm chất chăm chỉ

+ Bước 1: Hướng dẫn học sinh kể theo từng tranh dựa vào câu hỏi gợi ý dướitranh

Kết quả của bước 1 là học sinh sẽ đạt được kết quả mong đợi, nói được 4 câu:

“Quạ nhặt được những hạt đầu Quạ vùi những hạt đậu xuống đất Những hạt đậu

Trang 8

mọc thành cây đậu Cuối cùng, những cây đậu mọc ra rất nhiều quả Quạ cảm thấy rấtvui.”

+ Bước 2: Hướng dẫn học sinh kể toàn bộ câu chuyện

– Sau khi sử dụng kĩ thuật liên kết, học sinh sẽ đạt được kết quả mong đợi là kểđược: "Một hôm, Quạ nhặt được những hạt đậu Quạ bèn vùi chúng xuống đất Chẳngbao lâu sau, những hạt đậu đã mọc lên thành cây đậu Cuối cùng, những cây đậu ấy

đã mọc ra bao nhiêu là quả Quạ cảm thấy sung sướng vô cùng."

– Sau khi sử dụng kĩ thuật phát triển, học sinh sẽ đạt được kết quả mong đợi là

kể được: "Một hôm, Gà trống vác một túi đậu về nhà Túi bị thủng nên những hạt đậurơi ra ngoài Quạ nhặt được chúng./ Quạ rất thích trồng cây Thế là cậu ta bèn vùinhững hạt đậu xuống đất./ Chẳng bao lâu sau, những hạt đậu đã nảy mầm, mọc thànhnhững cây đậu./ Cuối cùng, những cây đậu đã mọc bao nhiêu là quả xum xuê Nhìnthấy thế, quạ chỉ muốn nhảy lên vì vui."

* Các trang sách được trình bày cân đối, hài hòa giữa kênh chữ và kênh hình,giữa tuyến cung cấp thông tin và tuyến tổ chức hoạt động của học sinh Các hình ảnhtươi sáng, ngộ nghĩnh và phù hợp với tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 1

* Bộ sách chân trời sáng tạo

Bộ Chân trời sáng tạo chức năng ấn định nghĩa về sự mở rộng của một thế giớitri thức, sự vô hạn của khoa học kiến thức và công nghệ, sự bảo vệ của thế giới nghệthuật và hướng đến những giá trị tinh thần tốt đẹp của loại nhân Bộ sách không chỉ

Trang 9

là chuyển đổi tri thức mà còn gợi mở, cảm hứng các đề tài HS truyền thông, khámphá, sáng tạo và chinh phục

Chân trời giúp các em HS định hướng tư duy; tự khám phá và phát triển mọichức năng của bản thân Không chỉ giúp người học dễ dàng vận dụng kiến thức, kỹnăng vào thực hiện cuộc sống; giải quyết một cách linh hoạt, hài hòa các vấn đề giữa

cá nhân và cộng đồng; nhận biết các thân bản giá trị và năng lực nghề nghiệp mà cònnuôi dưỡng lòng tự hào, tình yêu tha thiết với quê hương đất nước, mong muốn đượcđóng góp sức xây dựng không sông tươi đẹp hơn

SGK Tiếng Việt 1 tạo điều kiện cho GV tổ chức dạy học và phát triển các kỹnăng ngôn ngữ cho HS trên cùng một nguồn tài liệu; tạo điều kiện GV sử dụngphương pháp dạy học đa giác quan - phương pháp dạy học giúp HS tiếp nhận kiếnthức, rèn luyện kỹ năng bằng nhiều kênh khác nhau, như thị giác, cảm giác, xúc giác.Tiếng Việt 1 liên kết các loại văn bản trong chủ đề của bài học Chủ đề phânphối các loại bài đọc cũng như định hướng và chỉ phân phối các hoạt động rèn luyện

và phát triển các kỹ năng đọc, viết, nói và nghe; Gia tăng tỉ lệ các văn bản thông tin;tích hợp dạy đọc, viết, nói và nghe với các môn học khác trong chương trình, nhưĐạo đức, Mỹ thuật, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm, Tự nhiên và Xã hội.Sách thiết kế các bài học theo dạng hoạt động Theo đó, các bài học đều bắt đầu bằnghoạt động nói và nghe giúp HS khai thác kinh nghiệm ngôn ngữ, vốn sống để rút ranhững nội dung liên quan đến bài học, đồng cảm nhận được ý nghĩa của việc đọc, viết

; từ đó tự giác tham gia vào hoạt động đọc viết và vận dụng các điều học trong bàihọc nói, nghe, viết (sáng tạo) Ngoài ra, Tiếng Việt 1 cũng có thể hiện hoạt động đọcphần mở rộng theo quy trình giúp GV có thể tổ chức các hoạt động hướng dẫn HSđọc phần mở rộng

Tiếng Việt 1 xây dựng các chủ đề với tên gọi gần đây, thân thuộc với HS, lấy HSlàm trung tâm, phát triển và mở rộng dần theo đồng nguyên tắc Mặt khác, qua cácbài học, các nội dung giáo dục về sự chia sẻ, về những nét đẹp của văn hóa, phong tục

Trang 10

tập quán nhiều phần được bố trí sắp xếp gần hoặc trùng với các dịp lễ tết, với các hoạtđộng văn hóa, giáo dục, v

* Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống

Ngay từ những bài đầu tiên, sách đã đặt những âm chữ được học vào câu, gắnvới một sự việc, trạng thái cụ thể Như vậy, khác với nhiều SGK Tiếng Việt cho lớp 1khác, ở giai đoạn đầu, dạy âm chữ chỉ gắn với từ ngữ (đơn vị định danh), cuốn sáchTiếng Việt 1 này dạy âm chữ gắn ngay với câu (đơn vị giao tiếp) Từ câu trọn vẹn đểnhận biết âm chữ, vần; rồi từ âm chữ, vần ghép thành tiếng, từ ngữ, câu, đoạn

SGK dạy học tiếng mẹ đẻ cho HS lớp 1 của Phần Lan, xuất bản năm 2014, vàmột số SGK dạy học tiếng khác ở châu Âu cũng có cách “giới thiệu” âm chữ mớitrong bài học qua đơn vị câu Tăng cường gắn kết đơn vị ngôn ngữ cần dạy học vớingữ cảnh giao tiếp là xu hướng dạy học ngôn ngữ hiện đại, có cơ sở lí luận và thựctiễn vững chắc, được SGK của nhiều nước phát triển áp dụng Tiếng Việt 1 nỗ lực đổimới theo cách tiếp cận đó

Ngoài ra, Tiếng Việt 1 cũng tạo cho HS cơ hội tự đọc được câu ngay từ bài đầu(từ câu đơn giản nhất là A!) Theo cách này, HS không chỉ được phát triển nhanh kĩnăng giao tiếp mà còn có được cơ hội phát triển khả năng quan sát, tưởng tượng, suyluận,…

Việc dạy học các vần riêng biệt kết thúc ở học kỳ 1 Sang học kỳ 2, học các vănbản trọn vẹn Để thực hiện được ý tưởng đó, Tiếng Việt 1 áp dụng những giải phápsau: Các vần ít thông dụng, đặc biệt là vừa ít thông dụng vừa khó (24 vần), được học

ở tập hai, lồng ghép vào văn bản đọc, tức gắn vần với từ ngữ chứa vần đó và đưa từngữ chứa vần đó vào ngữ cảnh giao tiếp, chứ không dạy thành bài riêng biệt như ở tập

mô ̣t Đây là giải pháp cơ bản

Thiết kế nhiều (20) bài học có 3 vần (bên cạnh 14 bài học 2 vần và 6 bài học 4vần) Các bài 3 hoặc 4 vần thường bao gồm những vần đơn giản (dễ đọc, dễ viết),phát âm gần nhau và viết tương tự nhau, giúp HS phát huy được khả năng loại suy khi

Ngày đăng: 08/12/2022, 15:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w