1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) PHÂN TÍCH cơ cấu tổ CHỨC và cấu TRÚC của hệ THỐNG THÔNG TIN PHỤC vụ LÃNH đạo và QUẢN lý (MIS) CHO ví dụ cụ THỂ 01 cơ QUAN THÔNG TIN ở VIỆT NAM

31 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Cơ Cấu Tổ Chức và Cấu Trúc của Hệ Thống Thông Tin Phục Vụ Lãnh Đạo và Quản Lý (MIS) Cho Ví Dụ Cụ Thể 01 Cơ Quan Thông Tin Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý hệ thống thông tin
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 267,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống thông tin quản lý là một công cụ đắc lực giúp các doanhnghiệp trong các nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh, hỗ trợ việc ra quyếtđịnh của doanh nghiệp và hỗ trợ cải thiện khả năng c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

Trang 2

hệ thống này có mặt hầu hết ở tất cả lĩnh vực quản lý theo chức năng củamọi tổ chức Ngày nay sự phát triển như vũ bão của ngành công nghệ thôngtin - sản phẩm của trí tuệ con người là động lực cho quá trình phát triểnkinh tế xã hội của mỗi quốc gia Nó sẽ là công cụ hữu hiệu giúp các nướcđang phát triển như Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới và rút dầnkhoảng cách tụt hậu với các nước phát triển Đối với các doanh nghiệp,việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin, xây dựng các chươngtrình phần mềm phục vụ công tác điều hành, quản lý nghiên cứu, sản xuất,kinh doanh sẽ tạo bước ngoặt cho sự phát triển, làm "phép nhân" hiệu quảvật chất thay cho "phép cộng" hiện nay Đặc biệt trong công tác quản lý,công nghệ thông tin là một yêu cầu cấp bách nhằm nâng cao chất lượng củacông tác quản lý, góp phần thúc đẩy tổ chức phát triển toàn diện, từng bướcđáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế.

—Trong bối cảnh tự do hóa thương mại quốc tế và quá trình hội nhập kinh tếquốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam, các doanh nghiệp ngày càng gặpnhiều áp lực cạnh tranh Chính vì vậy, doanh nghiệp luôn cần phải nắm bắtchính xác và kịp thời xu hướng của xã hội để tránh thụt lùi, lạc hậu Trong

đó, hệ thống thông tin quản lý đóng một vai trò rất lớn vào việc giúp doanh

Trang 3

nghiệp tồn tại, phát triển bền vững và tạo được lợi thế cạnh tranh trên thịtrường Hệ thống thông tin quản lý là một công cụ đắc lực giúp các doanhnghiệp trong các nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh, hỗ trợ việc ra quyếtđịnh của doanh nghiệp và hỗ trợ cải thiện khả năng cạnh tranh cho doanhnghiệp.

—Nhận thức rõ vai trò cũng như tầm quan trọng của hệ thống thông tin đốivới những người làm quản lý, lãnh đạo, góp phần vào sự nghiệp phát triểnnên em đã lựa chọn đề tài “PHÂN TÍCH CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CẤUTRÚC CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN PHỤC VỤ LÃNH ĐẠO VÀQUẢN LÝ (MIS)? CHO VÍ DỤ CỤ THỂ 01 CƠ QUAN THÔNG TIN ỞVIỆT NAM” để nghiên cứu cho bài tiểu luận của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

—Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ đặc điểm của hệ thống thông tinquản lý nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống thông tin với lãnh đạo vàquản lý

—Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ vai trò hệ thống thông tin trong hoạt độngthông tin phục vụ lãnh đạo và quản lý Nghiên cứu xác định cơ cấu tổ chức

và cấu trúc của hệ thống thông tin quản lý

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

—Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo và quản lýquản lý

—Phạm vi nghiên cứu: Các tài liệu về môn thông tin phục vụ lãnh đạo vàquản lý

4 Phương pháp nghiên cứu

—Sử dụng phương pháp phân tích, vận dụng những kiến thức đã học, thamkhảo sách báo và các tài liệu liên quan

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

—Làm phong phú thêm lý luận về hệ thống thông tin Kết quả nghiên cứu của

đề tài sẽ là cơ sở để các đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp,… đẩy mạnh hơn

Trang 4

nữa hoạt động thông tin của mình, đồng thời góp phần không nhỏ vào sự lớn mạnh, thành công của đất nước.

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ.

1.1 Hệ thống và hệ thống thông tin.

1.1.1 Hệ thống

—Hệ thống có thể định nghĩa một cách tổng quát như một tập hợp các phần

tử có liên hệ với nhau để tạo thành một tổng thể chung Ngoài ra có thể dùng định nghĩa hẹp hơn, phù hợp hơn với nhu cầu mô tả hệ thống thông tin:

—Hệ thống là một tập hợp các phần tử (các thành phần) có liên hệ với nhau, hoạt động để hướng tới mục đích chung theo cách tiếp nhận các yếu tố vào,sinh ra các yếu tố ra trong một quá trình xử lý có tổ chức

—Như vậy, hệ thống có ba thành phần cơ bản tương tác với nhau:

 Các yếu tố đầu vào

 Xử lý, chế biến

 Các yếu tố đầu ra

—Khi xem xét một hệ thống, người ta còn có thể đề cập đến các yếu tố và cáckhái niệm khác liên quan đến hệ thống như:

 Môi trường mà hệ thống tồn tại (bao gồm môi trường bên ngoài và bên trong);

 Hệ thống con của hệ thống;

 Hệ thống đóng nếu nó không quan hệ với môi trường và ngược lại – hệ thống mở, nếu nó có quan hệ với môi trường…

Trang 5

 Độ tin cậy thể hiện các mặt về độ xác thực và độ chính xác Thông tin ít

độ tin cậy dĩ nhiên là gây cho tổ chức những hậu quả tồi tệ

 Tính đầy đủ của thông tin thể hiện sự bao quát các vấn đề đáp ứng yêu cầu của nhà quản lý Nhà quản lý sử dụng một thông tin không đầy đủ cóthể dẫn đến các quyết định và hành động không đáp ứng với đòi hỏi của tình hình thực tế

 Tính thích hợp và dễ hiểu: Thông tin cần mạch lạc, thích ứng với người nhận, không nên sử dụng quá nhiều từ viết tắt hoặc đa nghĩa tránh tổn phí do việc tạo ra những thông tinkhông dùng hoặc là ra quyết định sai vìthiếu thông tin cần thiết

 Tính được bảo vệ: Thông tin là một nguồn lực quý báu của tổ chức Thông tin phải được bảo vệ và chỉ những người được quyền mới được phép tiếp cận tới thông tin Sự thiếu an toàn về thông tin cũng có thể gây

ra những thiệt hại lớn cho tổ chức

 Tính kịp thời: Thông tin có thể là tin cậy, dễ hiểu, thích ứng và được bảo

vệ an toàn nhưng vẫn không có ích khi nó không được gửi tới người sử dụng vào lúc cần thiết

—Ngày nay, hệ thống thông tin sử dụng các công cụ tính toán điện tử và các phương pháp chuyên dụng để biến đổi các dòng thông tin nguyên liệu ban đầu thành các dòng thông tin kết quả

—Khi nghiên cứu các hệ thống thông tin cần phân biệt hai khái niệm: dữ liệu

và thông tin

Trang 6

 Dữ liệu là các số liệu hoặc các tài liệu thu thập được chưa qua xử lý, chưa được biến đổi cho bất cứ một mục đích nào khác Ví dụ, các cuộc điều tra dân số sẽ cung cấp nhiều dữ liệu về số nhân khẩu của từng hộ gia đình, họ tên, tuổi, giới tính, nghề nghiệp… của từng thành viên trong mỗi hộ… Khi một doanh nghiệp bán được một lô hàng nào đó sẽ sinh ra các dữ liệu về số lượng hàng hoá đã bán, giá bán, địa điểm bán hàng, thời gian bán hàng, hình thức thanh toán, giao nhận hàng… Các dữ liệu này sẽ được lưu trữ trên các thiết bị tin học và chịu sự quản lý của một chương trình máy tính phục vụ cho nhiều người dùng với các mục đích khác nhau.

 Khác với dữ liệu được xem là nguyên liệu ban đầu, thông tin có dạng như sản phẩm hoàn chỉnh thu được sau quá trình xử lý dữ liệu, là những

dữ liệu đã được xử lý sao cho nó thực sự có ý nghĩa đối với người sử dụng Ví dụ như Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội có thể dựa vào dữliệu điều tra dân số để thống kê số người theo độ tuổi, theo giới tính… Các doanh nghiệp dựa vào dữ liệu bán hàng để tính tổng doanh thu, số lượng hàng đã bán trong một giai đoạn nào đó (ngày, tuần, tháng, …)

—Các HTTT có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý kinh tế Làm thếnào để có một HTTT hoạt động có hiệu quả cao là một trong những công việc của bất kỳ một nhà quản lý hiện đại nào

1.1.3 Quy trình xử lý thông tin.

Quy trình xử lý thông tin là quy trình biến đổi các dòng dữ liệu đầu vào thành các dòng thông tin kết quả Trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của khoa học và kỹ thuật, quy trình này gắn liền với các phương pháp chuyên dụng và các công cụ tính toán điện tử, từ đó việc xử lý khối lượng thông tinkhổng lồ, đa dạng ngày càng nhanh chóng và hiệu quả

Trang 7

Quy trình xử lý thông tin bao gồm bốn công đoạn, đó là: thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin.

Thu thập thông tin.

—Có vai trò quan trọng vì chỉ có thu thập được đầy đủ các thông tin cần thiết mới đảm bảo cho ta những số liệu chính xác, phản ánh toàn diện các mặt hoạt động của tổ chức

—Liên kết trực tiếp với nguồn phát sinh dữ liệu như khách hàng (đơn đặt hàng, tiền thanh toán hoá đơn), quầy bán hàng (số lượng giao dịch, tiền thu mỗi ngày)…

—Mục tiêu thu thập thông tin phải được đặt ra rõ ràng và cụ thể (bao nhiêu chỉ tiêu cần thu thập, bao nhiêu chỉ tiêu cần xử lý…) Trên cơ sở đó người

ta mới quyết định nên thu thập các loại thông tin nào, khối lượng bao

nhiêu, thời gian thu thập, các phương pháp thu thập (thủ công, bán thủ cônghay tự động hoá)…

Xử lý thông tin.

—Là công đoạn trung tâm, có vai trò quyết định, bao gồm tất cả các công việc như sắp xếp thông tin, tập hợp hoặc phân chia thông tin thành nhóm, tiến hành tính toán theo các chỉ tiêu… Kết quả cho ta các bảng số liệu, biểu

đồ, các con số đánh giá hiện trạng và quá trình phát triển của tổ chức

—Bao gồm 2 bộ phận:

 Bộ phận kết xuất thông tin: liên kết với nơi sử dụng thông tin như người quản lý (nhận báo cáo thống kê doanh thu, báo cáo tiến độ thực hiện), các hệ thống khác (hệ thống quản lý đơn đặt hàng cung cấp các đơn đặt hàng hợp lệ cho hệ thống quản lý kho để lập phiếu xuất kho) Các thông tin kết xuất từ hệ thống là những thông tin mang ý nghĩa thiết thực giúp cho người quản lý ra quyết định đúng

Trang 8

 Bộ phận xử lý: có thể là con người (tiến hành công việc), máy tính (thực thi phần mềm) Các hoạt động xử lý đều dựa trên chuẩn, quy trình và quy tắc quản lý của tổ chức.

Lưu trữ thông tin.

—Kết quả của quá trình xử lý thông tin được lưu trữ để sử dụng lâu dài

—Các thông tin được lưu trữ dưới dạng các file, các cơ sở dữ liệu

—Nơi lưu trữ thông tin thường là đĩa từ, băng từ, trống từ, đĩa CD… Ngoài ra

có thể lưu thông tin dạng hard – copy tại các tủ chứa hồ sơ, công văn

Truyền đạt thông tin

—Các kết quả xử lý thông tin được truyền đạt đến các đối tượng có nhu cầu

sử dụng thông tin ở phạm vi trong nội bộ tổ chức hoặc ra bên ngoài

(thường để báo cáo cấp trên hoặc thông báo).

—Quy trình xử lý thông tin có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý vàquản trị kinh doanh Nó cung cấp các thông tin cần thiết, kịp thời và chính xác cho các cấp lãnh đạo và cán bộ quản lý để họ có thể đưa ra được các quyết sách kinh tế hiệu quả

1.2 Hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo và quản lý.

Hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo và quản lý là một hệ thống tích hợp

“Người - Máy”, cung cấp thông tin trợ giúp hoạt động sản xuất, kinh

doanh, quản lý và hỗ trợ ra quyết định Hệ thống thông tin quản lý sử dụng các thiết bị tin học, các phần mềm, các quy trình thu thập, các cơ sở dữ liệu, các thủ tục, các mô hình phân tích, đánh giá và phân phối những thôngtin cần thiết, kịp thời và chính xác, thuận tiện cho lập kế hoạch và ra quyết định quản lý trong một tổ chức

Trang 9

Khái niệm hệ thống thông tin quản lý cũng được xem xét dưới nhiều góc

độ khác nhau:

—Theo quan điểm cung cấp thông tin phục vụ lãnh đạo và quản lý, hệ thốngthông tin quản lý cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết, được diễn đạt bằng những hình thức thích hợp, trợ giúp cho các nhà quản lý điều hành và ra quyết định đạt hiệu quả cao

—Theo quan điểm tổ chức, hệ thống thông tin quản lý được xem là một tổ hợp đầy đủ các bộ phận cấu thành cho thực hiện các chức năng thu thập,

xử lý, lưu trữ, khai thác và cung cấp thông tin Hệ thống thông tin quản lý cũng có thể là một tiểu hệ thống thuộc một hệ thống thông tin rộng hơn (siêu hệ thống) của một tổ chức nhất định

—Dưới góc độ quản lý thông tin, hệ thống thông tin quản lý được hiểu là một hệ thống tích hợp các cơ sở dữ liệu và các kênh thông tin ở các bộ phận quản lý thuộc các cấp quản lý khác nhau của một tổ chức, có nhiệm

vụ thu thập, trao đổi và cung cấp dữ liệu đã được xử lý, đáp ứng nhu cầu thông tin của tổ chức

—Với cách tiếp cận áp dụng công nghệ thông tin, hệ thống thông tin quản

lý là hệ thống được trang bị máy tính và các thiết bị ngoại vi khác, có khả năng tích hợp dữ liệu từ nhiều nguồn kháu nhau nhằm cung cấp những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định quản lý

—Trên góc độ tổng quát, hệ thống thông tin quản lý được hiểu là một tập hợp nhiều thành tố (phần tử), mối liên hệ giữa các thành tố (phần tử) này, cũng như liên hệ giữa chúng với các hệ thống khác là liên hệ (trao đổi) thông tin với nhau, có chức năng thu thập hoặc phản hồi, xử lý, lưu trữ và phân phối thông tin, trợ giúp quá trình ra quyết định, điều hành, giám sát

và đánh giá trong một tổ chức (cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà trường,

…)

Trang 10

 Như vậy, hệ thống thông tin quản lý là một hệ thống thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý ở các cấp khác nhau, cung cấp cho các nhà lãnh đạo và quản lý những thông tin cần thiết để thực hiện các chức năng quản lý và hỗ trợ ra quyết định Thông tin đầu ra của hệ thống có thể là dữ liệu, số liệu đãđược xử lý có hiệu quả hoặc sự hỗ trợ công việc giao dịch hoặc cung cấp thông tin dưới hình thức phù hợp với đối tượng sử dụng trong thời gian thích hợp hoặc tiến hành những phân tích thông tin để đưa ra các lựa chọn tối ưu giúp các nhà lãnh đạo và quản lý ra quyết định.

Chức năng và nhiệm vụ của hệ thống thông tin quản lý:

—Hệ thống thông tin quản lý có chức năng thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau, xử lý, lưu trữ dữ liệu, bảo quản và cung cấp thông tin, phục vụ chủ yếu cho thực hiện các chức năng quản lý trợ giúp ra quyết định ở các cấp thẩm quyền quản lý khác nhau

—Hệ thống thông tin quản lý có nhiệm vụ thực hiện việc liên lạc giữa các bộ phận và cung cấp thông tin cho các hệ tác nghiệp và hệ quyết định, trao đổithông tin với môi trường ngoài, cụ thể:

 Thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin quản lý một cách có hệ thống

 Kiểm tra và xử lý dữ liệu đã được thu thập

 Thay đổi, sửa chữa, tiến hành tính toán trên các nhóm chỉ tiêu, tạo ra thông tin mới Phân tích dữ liệu để rút ra những thông tin hữu ích

 Tạo điều kiện để lấy thông tin ra một cách dễ dàng khi có yêu cầu

 Cung cấp thông tin, trợ giúp cho quá trình ra quyết định quản lý

 Giúp các nhà quản lý phân tích vấn đề, tìm hiểu các đối tượng và sáng tạo các sản phầm mới

CHƯƠNG 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN PHỤC VỤ LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ.

Trang 11

—Cơ cấu tổ chức và cấu trúc của hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo và quản lý được thiết kế nhằm mục đích cung cấp thông tin cho thực hiện các chức năng quản lý và hỗ trợ ra quyết định, vì thế, kết cấu tổ chức và cấu trúc của hệ thống thông tin quản lý được xác định dựa trên đặc thù cơ cấu

tổ chức quản lý nhà nước trong một quốc gia nhất định Hệ thống thông tin quản lý hiện hữu dưới mọi hình dạng và quy mô, bao gồm các yếu tố cơ bản sau: Cơ quan quản lý, Đối tượng quản lý, Thông tin về quá trình quản

lý và Tác động quản lý

2.1 Cơ cấu tổ chức của hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo và quản lý.

—Cơ cấu tổ chức của hệ thống thông tin quản lý được thiết kế và xây dựng theo kiến trúc phân cấp của các cơ quan (đơn vị) quản lý nhà nước với các cấp thẩm quyền quản lý khác nhau, cùng hoạt động để đạt mục tiểu chung Trên cơ sở này cơ cấu tổ chức của hệ thống thông tin quản lý cũng được xây dựng cho phù hợp trong phân cấp thu thập, xử lý và cung cấp thông tin

Hệ thống thông tin quản lý được thiết kế áp dụng cho các cấp độ khác nhau: Một cá nhân, một tổ chức (cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà

trường), một ngành (lĩnh vực), một quốc gia Xây dựng hệ thống thông tin quản lý chính là xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin phục vụ lãnh đạo và quản lý

—Theo Quyết định số 280/TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 29/4/1997 vềviệc xây dựng mạng tin học diện rộng để truyền nhận thông tin trong các

cơ quan quản lý Nhà nước, cơ cấu tổ chức của hệ thống thông tin quản lý bao gồm 4 cấp quản lý tương ứng với 4 mức sau:

 Mức A: Cấp Chính phủ

 Mức B: Cấp bộ, tỉnh

 Mức C: Cấp sở ban ngành, huyện, thị hoặc đơn vị thuộc bộ

Trang 12

 Mức D: Cấp xã, phường.

—Ở cấp Chính phủ và cấp bộ, tỉnh sẽ hình thành các trung tâm tích hợp dữ liệu Các đơn vị quản lý nhà nước cấp bộ, cấp tỉnh sẽ liên kết với nhau qua trung tâm mạng tin học diện rộng của Chính phủ Các đơn vị quản lý nhà nước cấp tỉnh sẽ liên kết với nhau qua trung tâm mạng tin học diện rộng của văn phòng HĐND và UBND Các đơn vị thuộc bộ, sở ban ngành thuộc tỉnh liên kết với bộ thông qua mạng diện rộng của tình và Chính phủ

Hệ thống thông tin quản lý được phân thành 3 tuyến chính:

 Tuyến tổng thể: Phục vụ quản lý nhà nước trên phạm vi quốc gia (Chính phủ điện tử) Bao quát hoạt động từ Chính phủ đến các địa phương, bộ, ngành

 Tuyến theo lĩnh vực: Phục vụ nhu cầu quản lý nhà nước của các bộ, ngành Đảm bảo sự liên lạc thông tin hai chiều trong phạm vi của bộ, ngành, thực hiện những hoạt động trao đổi thông tin với các trung tâm thông tin thuộc vệ thống thông tin quản lý theo quy định của nhà nước Bao gồm các trung tâm thông tin trực thuộc hoặc nằm trong văn phòng

bộ, ngành

 Tuyến theo lãnh thổ: Phục vụ nhu cầu quản lý nhà nước của địa phương Tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý nhà nước Đảm bảo tính thống nhất, tập trung của nhà nước từ trung ương tới địa phương Phải biết kết hợp, phát huy tính năng động sáng tạo bên cạnh tính tự chủ, truyền thốngcủa từng địa phương trong khuôn khổ pháp luật nhà nước quy định Bao gồm các trung tâm thông tin thuộc tỉnh, thành phố Các thành phần trong

hệ thống nằm ở các quận, huyện, thị xã Cung cấp thông tin về các chủ trương, chiến lược phát triển của địa phương, về thủ tục hành chính do

cơ quan đảm trách, thông tin hướng dẫn khai báo tiểu mẫu, kết quả giải

Trang 13

quyết các yêu cầu hành chính, thông tin về kết quả giải đáp, giải thích, trả lời về những vấn đề do cơ quan thực hiện có liên quan đến nhu cầu của công dân.

—Ngày nay, môi trường quản lý càng trở lên phức tạp, gia tăng khối lượng lớn thông tin cần xử lý, cũng như gia tăng các dòng tin trao đổi bên trong

và bên ngoài tổ chức Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi các cơ quan, tô chức, doanh nghiệp phải nhanh chóng tự động hóa quá trình thông tin phục

vụ lãnh đạo và quản lý Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt độngcủa cơ quan nhà nước, hướng tới phát triển chính phủ điện tử là xu thế tất yếu, là mô hình phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới

—Để nâng cao năng lực ra quyết định và điều hành của các bộ, cơ quan ngang bộ, tính/ thành phố trực thuộc trung ương, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch, chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước hết sức cụ thể, thiết thực, như: Luật công nghệ thông tin, Nghị định số 64/2007/NĐ - CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạtđộng của các cơ quan nhà nước, Quyết định số 1605/QĐ - TTg ngày

27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015, Nghị định số 43/2011/NĐ - CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của các cơ quan nhànước, Luật an toàn thông tin, Nghị định số 36a/NQ - CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử, Quyết định số 1819/QĐ - TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình quốc gia

về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020

Trang 14

—Trong số đó, Nghị định số 64/2007/NĐ - CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước là căn cứ pháp lý cho phê duyệt kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước năm 2008 và những năm tiếp sau Có thể nói, Nghị định 64 đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng các hệ thống thông tin tự động hóa phục vụ lãnh đạo và quản lý rộng khắp trên phạm vi toàn quốc Theo đó, các hoạt động chỉ đạo, điều hành, quản lý văn bản, trao đổi tài liệu giữ các cơ quan quản lý nhà nước được từng bước chuyển đổi sang môi trường mạng Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước đã được triển khai xây dựng, kết nối đến cấp

sở, ban ngành, quận, huyện trên cả nước Các bộ, ngành, địa phương đã từng bước được trang bị máy tính, phần mềm đáp ứng các tiểu chuẩn, quy chuẩn về an toàn, an ninh thông tin Công tác đảm bảo an toàn an ninh thông tin cũng được các bộ, ngành, địa phương quan tâm đầu tư hơn với các phần mềm diệt virus cho máy tính, các thiết bị tường lửa (Firewall), hệ thống lưu trữ dữ liệu, thiết bị bảo mật và chặn lọc thư rác chuyên dụng

—Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 được phê duyệt nhằm cung cấp các dịch vụcông cơ bản trực tuyến mức dộ 4 (cấp xã), đồng thời phát triển và hoàn thiện các ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ cơ quan Nhà nước, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ nhu cầu người dân và doanh nghiệp Theo đó, phát triển hệ thống quản lý thông tin tổng thể, tiến tới xây dựng

cơ quan điện tử, bảo đảm kết nối liên thông dữ liệu diện tử từ Chính phủ đến cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, phát triển các ứng dụng công nghệ thôngtin vào các hoạt động nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu công tác đặc thù tại mỗi

cơ quan, cũng như các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin khác trong công tác nội bộ theo hướng tăng cường hiệu quả và mở rộng kết nối chia sẻ

Trang 15

dữ liệu, triển khai chứng thực điện tử và chữ ký số trong các cơ quan thuộc

hệ thống chính trị

—Cùng với việc xây dựng Chính phủ điện tử, hệ thống thông tin quản lý tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, bộ, ngành thuộc Chính phủ đã được thiết lập Mạng diện rộng của Chính phủ đã được xây dựng cho phép kết nối các mạng trung tâm của các tỉnh, thành và các bộ, ngành trên cả nước Trong đó có các mạng diện rộng và mạng liên ngành như thống kê, thủy sản, tài chính, vật giá, thương mại, du lịch, yêu cầu tế, giáo dục,…

Yêu cầu đối với hệ thống thông tin phục vụ quản lý nhà nước:

 Phải đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ, thống nhất và thông suốt từ trung ương tới cơ sở

 Phải đảm bảo tính chuyên sâu của từng lĩnh vực quản lý cũng như của từng cấp quản lý cụ thể

Vai trò hệ thống thông tin phục vụ quản lý nhà nước:

 Là ngân hàng dữ liệu về pháp luật, văn bản quy phạm của nhà nước

 Là trung tâm quản lý

 Cung cấp và đáp ứng mọi nhu cầu về thông tin, tạo cơ sở chặt chẽ,

nghiêm túc cho việc ban hành những quy định pháp lý mang tính khoa học

Nhiệm vụ của hệ thống thông tin quản lý là truyền nhân thông tin chỉ đạo

và thông tin báo cáo Trong mỗi cơ quan quản lý nhà nước đều thiêt lập trang thông tin điện tử (trang Web nội bộ) với các tính năng chung như sau:

Ngày đăng: 08/12/2022, 15:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w