Nó cũng giúp các nhà quản lý và chủ đầu tư hiểu và có biện pháp đầu tư tôn tạo cảnh quan ngày càng đáp ứng nhu cầu cao của du khách - Về thời gian nghiên cứu : Điều tra phỏng vấn khách d
Trang 1Luận văn
Ứng dụng phương pháp TCM để định giá giá trị cảnh quan tại Thung lũng tình yêu.
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU TRONG CHUYÊN ĐỀ 6
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ TRONG CHUYÊN ĐỀ 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Phạm vi nghiên cứu 9
4 Các phương pháp nghiên cứu. 9
5 Tóm tắt chuyên đề 10
NỘI DUNG 14
PHẦN CHƯƠNG I: TIẾP CẬN PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH ĐỂ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ HÀNG HÓA CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG. 12
1.1 Hàng hóa chất lượng môi trường 12
1.1.1 Khái niệm 12
1.1.2 Giá trị kinh tế của hàng hóa chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh tế (TEV)
15
1.2 Đánh giá chất lượng môi trường 18
1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá chất lượng môi trường 18
1.2.2 Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường 18
1.3 Phương pháp chi phí du lịch TCM sử dụng cho đánh giá chất lượng môi trường 20
1.3.1 Khái niệm: 20
1.3.2 Các cách tiếp cận 22
1.3.2.1 Phương pháp chi phí du lịch cá nhân (ITCM : Individual Travel Cost Method) 22
1.3.2.2 Phương pháp chi phí du lịch vùng (ZTCM : Zonal Travel Cost Method) ………23
Trang 31.3.3 Các bước thực hiện 22
1.3.4 Ưu điểm 27
1.3.5 Hạn chế 28
1.4 Tiểu kết chương I 29
CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ KHU DU LỊCH THUNG LŨNG TÌNH YÊU Ở LÂM ĐỒNG 30
2.1 Đặc điểm chung 30
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên: 30
2.1.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng 31
2.1.1.3 Khí hậu, thủy văn 34
2.1.1.4 Hệ động, thực vật 35
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 34
2.2 Thực trạng về hoạt động du lịch 36
2.2.1.Tiềm năng du lịch 36
2.2.2 Thực trạng du lịch 37
2.2.2.1 Lượng khách du lịch 37
2.2.2.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch 38
2.2.3 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch 39
2.3 Những hoạt động bảo tồn thiên nhiên và giáo dục môi trường 40
2.3.1 Nghiên cứu khoa học 40
2.3.2 Công tác quản lý và bảo vệ rừng 40
2.3.3 Công tác tôn tạo cảnh quan 40
2.3.4 Công tác phát triển kinh tế vùng đệm 42
2.4 Tiểu kết chương II 43
CHƯƠNG III ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TCM ĐỂ ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ CẢNH QUAN TẠI THUNG LŨNG TÌNH YÊU 44
3.1 Sử dụng ZTCM để xác định giá trị cảnh quan cho khu du lịch Thung lũng tình yêu 43
3.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin 44
3.2.1 Đối với thông tin sơ cấp 44
3.2.1.1 Thiết kế bảng hỏi 44
Trang 43.2.1.2 Tiến hành điều tra lấy mẫu 45
3.2.2 Đối với thông tin thứ cấp 46
3.3 Tổng quan về đặc điểm mẫu nghiên cứu 47
3.3.1 Đặc điểm của du khách tham gia phỏng vấn 48
3.3.2 Các hoạt động tại Thung lũng tình yêu của du khách tham gia phỏng vấn. 52
3.3.3 Số ngày lưu trú và các chi phí du lịch của khách du lịch 56
3.4 Xác định mô hình hàm cầu du lịch cho Thung lũng tình yêu 56
3.4.1 Phân vùng khách du lịch 56
3.4.2 Xác định chi phí cho một chuyến đến Thung lũng tình yêu 58
3.4.2.1 Chi phí đi lại của du khách 58
3.4.2.2 Chi phí thời gian 61
3.4.2.3 Chi phí sinh hoạt: bao gồm chi phí ăn ở, vé vào cửa, mua sắm đô lưu niệm… 62
3.4.2.4 Tổng hợp chi phí 63
3.5 Xây dựng đường cầu giải trí 64
3.51 Tỷ lệ tham quan của vùng xuất phát 64
3.5.2 Xác định hàm cầu và đường cầu giải trí 65
3.5.3 Xác định thặng dư và giá trị giải trí 68
3.5.4 Nhận xét, đánh giá 71
3.6 Những hạn chế trong quá trình thực hiện ZTCM tại Thung lũng tình yêu. 72
3.7 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng môi trường tại Thung lũng tình yêu 72
3.8 Tiểu kết chương III 73
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 5GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
DUV Direct Use Value Phương pháp chi phí du lịch
cá nhân
ITCM Individual Travel Cost Method
Phương pháp chi phí du lịch
cá nhân IDUV Indirect Use Value Giá trị sử dụng gián tiếp
TEV Total Economics Value Tổng giá trị kinh tế TCM Travel Cost Method Phương pháp chi phí du lịch
WTP Willingness to Pay Bằng lòng chi trả
ZTCM Zonal Travel Cost Method
Phương pháp chi phí du lịch
theo vùng
Trang 6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU TRONG CHUYÊN ĐỀ
3.15 Lượng khách mỗi vùng khi chi phí tăng thêm 100.000 đồng 68 3.16 Lượng khách mỗi vùng khi chi phí tăng thêm 200.000 đồng và
300.000 đồng
68
3.17 Thặng dư của du khách tính theo vùng 70
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ TRONG CHUYÊN ĐỀ
1.2 Nhu cầu giải trí theo phương pháp chi phí du lịch 27 2.1 Lượng khách du lịch đến Thung lũng tình yêu qua các năm 32 2.2 Bản đồ vị trí khu du lịch Thung lũng tình yêu 38 3.1 Đường cầu giảitrí Thung lũng tình yêu 69
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đều biết : môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu
tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên Đối với cá thể con người cũng như đối với cả xã hội loài người môi trường có ba chức năng cơ bản như sau:
Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, bao gồm tài nguyên tái sinh, tài nguyên không tái sinh và các dạng thông tin mà con người khai thác sử dụng
Môi trường là nơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và sản xuất của mình
Môi trường là không gian sống, cung cấp các dịch vụ cảnh quan thiên nhiên Môi trường là nơi duy nhất cho con người được hưởng các cảnh đẹp thiên nhiên, thư thái về tinh thần, thư thái về các nhu cầu tâm lý
Chính vì vậy môi trường có mối quan hệ gắn bó mật thiết với các hoạt động kinh tế Môi trường và kinh tế tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau cùng phát triển: môi trường cung cấp các điều kiện cần thiết như tài nguyên… làm đầu vào cho các hoạt động kinh tế giúp kinh tế ngày càng mở rộng, lớn mạnh, còn kinh tế quay lại cung cấp nguồn tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường, cho các quỹ hoạt động vì môi trường… giúp môi trường được cải thiện vì vậy chúng ta phải coi trọng và phát triển cả kinh tế lẫn môi trường nhưng cho đến nay ở hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển người ta vẫn chú trọng phát triển kinh tế mà bỏ qua các vấn đề về môi trường, người ta lạm dụng môi trường, khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên, không quan tâm đến các vấn đề xử lý chất thải, nước thải…
Trang 9Dân Việt Nam có câu:” rừng vàng biển bạc” vì thế người ta chỉ tập trung khai thác không quan tâm đến vấn đề khai thác hay bảo tồn dẫn đến tài nguyên cạn kiệt Chúng ta đã phải nhập khẩu cả những mặt hàng được coi là thế mạnh như than…, diện tích rừng che phủ bị suy giảm trầm trọng ( trước kia khoảng hơn 50%, hầu hết là rừng nguyên sinh nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 28 – 32 % chủ yếu là rừng trồng) còn chất lượng môi trường bị suy giảm nghiêm trọng, ô nhiễm đất, nước, không khí…ngày càng diễn ra trên quy mô rộng hơn và chúng ta chưa có quy chế nghiêm để xử lý như vụ Vedan, Miwon…Nguyên nhân một phần do môi trường chưa được định giá đúng trên thị trường
Chưa bao giờ vấn đề môi trường lại cấp bách như hiện nay, các công ước về bảo vệ môi trường lần lượt ra đời, các quỹ, các tổ chức hoạt động vì môi trường ngày càng phát triển mạnh Người ta quan tâm đến phát triển sạch, thích đi du lịch ở những nơi có chất lượng môi trường tốt đặc biệt là những nơi có cảnh quan tự nhiên…chính vì vậy hoạt động du lịch sinh thái rất phát triển , du lịch sinh thái phát triển mạnh ở những khu vực có rừng tự nhiên Một trong những giá trị cơ bản của rừng là tạo cảnh quan môi trường đẹp
đẽ để con người có thể đến thưởng ngoạn Khi chúng ta đến một khu rừng để giải trí là chúng ta mong muốn nhận được sự thoải mái, giảm bớt sự căng thẳng, lo âu… và điều đó có nghĩa là rừng đã mang lại cho chúng ta giá trị giải trí Tuy nhiên giá trị này không được thể hiện trên thị trường và để đánh giá chúng ta có thể sử dụng thị trường thay thế thông qua quan sát sự sẵn lòng chi trả cho tiêu dùng dịch vụ môi trường Một trong những phương pháp truyền thống dựa trên thị trường thay thế là phương pháp chi phí du lịch (TCM - Travel Cost Method)
Việc nghiên cứu giá trị cảnh quan của khu du lịch sinh thái Thung lũng tình yêu có ý nghĩa trong việc bảo tồn và phát huy giá trị cảnh quan của khu
Trang 10vực Nó cũng giúp các nhà quản lý và chủ đầu tư hiểu và có biện pháp đầu tư tôn tạo cảnh quan ngày càng đáp ứng nhu cầu cao của du khách
- Về thời gian nghiên cứu : Điều tra phỏng vấn khách du lịch vào tháng 1 năm
2009, sử dụng số liệu thống kê lượng khách du lịch đến thung lũng tình yêu từ năm 2006 đến 2008
- Về giới hạn khoa học : Giá trị chất lượng môi trường tại thung lũng tình yêu bao gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng Tuy nhiên, đề tài chỉ nghiên cứu và tính toán giá trị cảnh quan tại đây ( một phần của giá trị phi sử dụng )
4 Các phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu trong đề tài được kế thừa từ các phiếu điều tra đã có do Trung tâm nghiên cứu môi trường và sinh thái thuộc viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam thực hiện trong đề tài: Định giá rừng trình diễn tại
Lâm Đồng Dưới đây là ý nghĩa một số phương pháp đã đước áp dụng
- Phương pháp thu thập thông tin : Tổng hợp số liệu thứ cấp và phỏng vấn trực tiếp khách du lịch
- Phương pháp thực địa : Đây là phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu đánh giá môi trường, đặc biệt là khi sử dụng phương pháp TCM Kết hợp
Trang 11với việc nghiên cứu qua bản đồ, các tài liệu liên quan, phương pháp này luôn được coi là phương pháp chủ đạo của đề tài luận văn vì lãnh thổ nghiên cứu nhỏ, đòi hỏi khảo sát thực địa tương đối cụ thể để nắm được đặc trưng lãnh thổ một cách thực tế Phương pháp này được kết hợp với phương pháp điều tra xã hội học các đối tượng khách du lịch Vì vậy các thông tin thực tế qua quan sát, nghe ngóng, trao đổi thu thập thông tin càng được phong phú hơn
- Phương pháp điều tra xã hội học : Phương pháp này được coi là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu và tính toán định lượng giá trị cảnh quan của địa điểm nghiên cứu Các thông tin thu thập được qua điều tra giúp nhà nghiên cứu tổng hợp được các ý kiến và số liệu cần thiết cho tính toán Cùng với phương pháp thực địa, phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc tính toán các hiện tượng thực tế
- Phương pháp chuyên gia : Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về kinh tế môi trường trong việc xây dựng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn khách du lịch cũng như việc xây dựng các mô hình tính toán trong đề tài
- Phương pháp xử lý số liệu bằng các phần mềm Excel : Các số liệu điều tra
sẽ được tổng hợp và tính toán bằng các hàm cơ bản trên Excel ( ví dụ : hàm Max, Min, Average…) Hàm cầu du lịch được hồi quy bằng công cụ Regression Analysis của Excel
- Phương pháp lượng giá giá trị cảnh quan : Để lượng giá giá trị cảnh quan của thung lũng tình yêu, đề tài sử dụng phương pháp chi phí du lịch theo vùng ZTCM ( Zonal Travel Cost Method)
Trang 12Chương II Tổng quan về Thung lũng tình yêu
Chương III Ứng dụng phương pháp TCM để định giá giá trị cảnh quan tại Thung lũng tình yêu
NỘI DUNG PHẦN CHƯƠNG I: TIẾP CẬN PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH
ĐỂ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ HÀNG HÓA CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
1.1 Hàng hóa chất lượng môi trường
+ Đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người ( sống)
+ Là điều kiện cần cho lao động sản xuất
+ Là một yếu tố khách quan của cuộc sống vì nó cũng cần phải tái sản xuất Cho đến nay kinh tế học môi trường cho rằng muốn nghiên cứu hàng hóa môi trường thì phải nhìn nhận trên góc độ tổng giá trị kinh tế
1.1.2 Giá trị kinh tế của hàng hóa chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh
tế (TEV)
Khái niệm TEV ra đời vào những năm 80 của thế kỷ XX, là khái niệm được xây dựng trên cơ sở nhìn nhận một cách toàn diện về giá trị hàng hóa môi trường mà sự nhìn nhận đó không chỉ gồm những giá trị trực tiếp có thể lượng hóa được mà còn có cả những giá trị gián tiếp – những giá trị ẩn khó nhìn thấy nhưng lại rất có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội
Trang 13Các nhà kinh tế học môi trường đã làm được rất nhiều khi phân loại giá trị kinh tế trong mối quan hệ của chúng với môi trường thiên nhiên Vấn đề thuật ngữ vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng phương pháp của họ đặt cơ sở trên cách giải thích truyền thống về sự hình thành của giá trị ( tức là dựa trên cơ sở sự tương tác giữa chủ thể con người, người định ra giá trị và khách thể - vật được đánh giá ) Các cá nhân có một số giá trị đã hình thành, điều này sẽ dẫn đến các khách thể sẽ bị gán cho một số giá trị khác nhau Trên nguyên tắc, để đo lường tổng giá trị kinh tế, các nhà kinh tế học bắt đàu bằng việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng
TEV = UV + NUV trong đó:
UV = DUV + IDUV
NUV = OV + BV + EXV
( UV : giá trị sử dụng
NUV : giá trị phi sử dụng
DUV : giá trị sử dụng trực tiếp
IDUV : giá trị sử dụng gián tiếp
OV : giá trị tùy chọn
BV : giá trị tùy thuộc
EXV : giá trị tồn tại
Vì OV không rõ ràng giữa UV và NUV ta có sơ đồ mô tả sau :
Hình 1.1: Sơ đồ tổng giá trị kinh tế
Trang 14Nguồn: Giáo trình bài giảng Kinh tế môi trường, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 1998
Giá trị sử dụng : Các nhà kinh tế phải tính giá trị sử dụng, là loại giá trị hình thành từ việc thực sự sử dụng môi trường Người câu cá, thợ săn, người đi dạo… tất cả đều sử dụng môi trường và thu được lợi ích mà không phải trả tiền trực tiếp Nó bao gồm:
Giá trị sử dụng trực tiếp: Là những giá trị mà trong thực tế nó liên quan đến sản lượng đầu ra của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ môi trường xác lập trên thị trường mà người ta có thể tính được giá của nó Một cá nhân có thể trực tiếp thưởng thức nguồn tài nguyên bằng cách tiêu dùng nó ( thu nhặt gỗ củi để đốt, câu cá để ăn, bán…) hoặc bằng cách tăng lợi ích từ bản thân thị trường tài nguyên ( Ví dụ: Cảnh quan của một công viên hay Vườn quốc gia…)
Giá trị sử dụng gián tiếp: Là những giá trị dựa chủ yếu trên chức năng của hệ sinh thái, có ý nghĩa về mặt sinh thái và môi trường, có chức năng gián tiếp hỗ trợ cho hoạt động kinh tế, hoạt động sống của con người đảm bảo lợi ích của con người và đảm bảo những thảm họa có thể không xảy ra Ví dụ: Một khu rừng giúp chống hiện tượng xói mòn đất hay cản bão làm giảm thiệt hại đối với tài sản
Tuy nhiên phân biệt giữa giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp không phải lúc nào cũng rõ ràng
Trang 15Giá trị tùy chọn: Là lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn nguồn lực hoặc một phần sử dụng nguồn lực đó để sử dụng cho tương lai Đây là giá trị do nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái Giá trị này không có tính thống nhất chung và cũng phải được tính về mặt tiền
tệ theo tính chất lựa chọn của nó
- Giá trị phi sử dụng : Thể hiện các giá trị phi phương tiện nằm trong bản chất thật sự của sự vật, nhưng nó không liên quan đến việc sử dụng thực tế , hoặc thậm chí việc chọn lựa sử dụng sản phẩm này Thay vào đó các giá trị này được coi như những yếu tố phản ánh sự lựa chọn của con người, những sự lựa chọn này có kể đến cả sự quan tâm đồng cảm và trân trọng đối với quyền lợi hoặc phúc lợi của các sinh vật không phải là con người.các giá trị này vẫn còn tập trung chú trọng nhiều đến con người nhưng nó có thể bao hàm cả nhận thức về các giá trị tồn tại của các giống loài khác nữa hoặc cả quần thể hệ sinh thái
- BV : Phụ thuộc vào tính đặc trưng sinh thái của khu vực nghiên cứu mà quan điểm của người đánh giá đưa ra trong đó nó liên quan chặt chẽ tới tính đặc thù, đặc trưng của từng hệ sinh thái mà các nhà kinh tế sinh thái cần thiết phải đưa ra đánh giá tính phụ thuộc của nó Việc lượng hóa giá trị này hết sức khó khăn và nó tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng chuyên gia
- EXV : Các tài nguyên môi trường đều có giá trị thực nội tại của chính bản thân chúng Giá trị này không liên quan tới việc sử dụng, nó liên quan đến các thế hệ mà duy trì giá trị của hệ sinh thái đó có ý nghĩa với thế hệ mai sau ( về kinh tế, chính trị, sinh thái ) Loại giá trị này nhận thức thì không khó nhưng lượng giá bằng tiền rất khó khăn
Ví dụ về tổng giá trị kinh tế của khu rừng:
- Giá trị sử dụng trực tiếp như : lợi tức từ gỗ, động vật, giá trị phi gỗ…
- Giá trị sử dụng gián tiếp như: duy trì nguồn nước ngầm, chống lũ quét, chống xói mòn đất…
Trang 16- Giá trị tùy chọn thì có sự khác nhau giữa các khu rừng Ví dụ: rừng miền núi
ở phía Bắc, giá trị tùy chọn có thể là giá trị của các loại gỗ lim, sến, táu… còn rừng miền núi ở Tây Nguyên thì giá trị tùy chọn lại là giá trị của gỗ cẩm lai…
- Giá trị tùy thuộc như là thắng cảnh cho các thế hệ tương lai hoặc ý muốn bảo tồn thiên nhiên Giá trị tùy thuộc cũng có sự khác nhau giữa các khu rừng Ví dụ đối với hệ sinh thái Ba Bể, rừng Nà Hang thì việc duy trì khu rừng này là chỗ dựa của loài voọc mũi hếch, còn ở Vườn quốc gia Cát Tiên là loài tê giác…
- Giá trị tồn tại của một khu rừng như là bảo tồn tính đa dạng sinh học Ví dụ rừng Cúc Phương là bảo tồn cây chò chỉ…
Như vậy việc tính toán giá trị kinh tế của hệ sinh thái dựa trên quan điểm tổng hợp người ta đã đưa ra giá trị TEV, đây là cơ sở cho các nhà kinh tế học môi trường đưa ra các phương pháp đánh giá nhằm lượng hóa các giá trị của môi trường phục vụ cho việc hoạch định chính sách duy trì, bảo tồn, đầu tư phát triển, đảm bảo phát triển bền vững
1.2 Đánh giá chất lượng môi trường
1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá chất lượng môi trường
Hiện nay người ta đã phải thừa nhận chất lượng môi trường là một loại hàng hóa và nó có sự trao đổi mua bán trên thị trường Tuy nhiên loại hàng hóa này có tính chất đặc thù : Có thể nó là hàng hóa mang tính cá nhân như tài nguyên thiên nhiên nhưng cũng có thể là hàng hóa công cộng, không thể trao đổi mua bán như hàng hóa cá nhân như : nguồn nước, không khí, cảnh quan môi trường…
Chính vì vậy kinh tế học môi trường cho rằng cần phải đánh giá những loại hàng hóa này phù hợp với giá trị của nó và nguyên lý tiếp cận trong kinh
tế học cũng như môi trường
Trang 171.2.2 Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường
Để đánh giá giá trị hàng hóa môi trường, hiện nay các nhà kinh tế môi trường dựa trên cơ sở nền tảng lý thuyết của kinh tế học và những vấn đề môi trường đưa ra những kỹ thuật đánh giá có cơ sở khoa học thực tiễn được áp dụng và phổ biến khá rộng rãi trên thế giới trong đó vấn đề cốt lõi cuối cùng
là phải xác định cho được giá của môi trường trong bối cảnh của TEV mà môi trường mang lại
Các phương pháp được sử dụng phổ biến:
+ Các phương pháp không sử dụng đường cầu:
Là các phương pháp trực tiếp hay gián tiếp khi đánh giá chất lượng môi trường người ta xác định dựa trên cơ sở các kỹ thuật đánh giá mà không lập hàm cầu ( hàm lợi ích) Đây là những phương pháp không thể lập được hàm cầu, do đó không đo lường được phúc lợi thực tế nhưng thông tin lại rất hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách Nó bao gồm các phương pháp sau:
- Phương pháp liều lượng đáp ứng
- Phương pháp chi phí thay thế
- Phương pháp chi phí cơ hội
- Phương pháp mô hình lựa chọn
- Phương pháp dựa vào hàm sản xuất
+ Các phương pháp sử dụng đường cầu :
Là các phương pháp được sử dụng trên cơ sở xây dựng đường cầu để đánh giá giá trị chất lượng môi trường Khi đánh giá giá trị chất lượng môi trường ở một khu vực nào đó người ta phải xác lập cho được hàm cầu mà dựa trên nguyên lý kinh tế trong mối quan hệ giữa chất lượng môi trường và giá
cả Đây là những phương pháp để đo lường phúc lợi Nó bao gồm những phương pháp sau:
Trang 18- Phương pháp chi phí du lịch ( TCM )
- Phương pháp mô hình đánh giá ngẫu nhiên ( CVM )
- Phương pháp đánh giá theo giá trị hưởng thụ ( HPM )
Trong đó phương pháp TCM được sử dụng khá phổ biến trong kinh tế học môi trường để lượng giá giá trị hàng hóa chất lượng môi trường và được
sử dụng trong đề tài: Đánh giá giá trị môi trường của KDL Thung lũng tình yêu ở Đà Lạt ( Lâm Đồng)
1.3 Phương pháp chi phí du lịch TCM sử dụng cho đánh giá chất lượng
môi trường
1.3.1 Khái niệm:
Là phương pháp dựa trên cơ sở những điểm du lịch có sức hấp dẫn đối với khách, thường là những nơi có chất lượng môi trường tốt và để đánh giá chất lượng môi trường đó người ta dựa vào khách du lịch để đánh giá
Nguyên tắc : nhu cầu về giải trí = nhu cầu về chất lượng môi trường tại khu vực cần đánh giá
TCM là một trong các kỹ thuật lượng giá những giá trị phi thị trường đã được sử dụng từ năm 1974 do Hotelling đề xuất nhằm đánh giá giá trị của các Vườn quốc gia của Mỹ Sau đó, phương pháp này được áp dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu lượng giá giá trị của các loại hình giải trí ngoài trời như câu cá, săn bắn, du thuyền và ngắm cảnh….hoặc đánh giá những thiệt hại ô nhiễm bằng việc quan sát sự thay đổi số lượng du khách đến một địa điểm giải trí nào đó Hiện nay, phương pháp chi phí du lịch có thể sử dụng để đánh giá giá trị của các nguồn lực tự nhiên (rừng, Vườn quốc gia, bãi biển, công viên…) sử dụng cho mục đích giải trí, hoặc đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường thông qua việc quan sát sự thay đổi lượng khách du lịch đến với địa điểm giải trí
Trang 19Để thực hiện, chúng ta sẽ phỏng vấn khách tham quan xem họ từ đâu đến, họ phải bỏ bao nhiêu chi phí cho chuyến đi và số lần đến địa điểm giải trí trong năm Qua đó, chúng ta có thể tìm được mối quan hệ hàm số giữa giá một lần tham quan (chi phí du hành) và số lần tham quan được thực hiện Mặt khác, từ sự bằng lòng chi trả của du khách cho chuyến đi và số lượt tham quan của du khách có thể xây dựng đường cầu du lịch thể hiện quan hệ giữa
số lượt tham quan và chi phí tham quan Giá trị cảnh quan của địa điểm nghiên cứu được đánh giá như là tổng lợi ích của du khách và được đo bằng phần diện tích dưới đường cầu
Một cách tổng quát, chi phí du lịch của du khách i tới địa điểm giải trí j (TCij) được xác định như sau:
Fi là phí vào cửa của địa điểm j
Giả sử Vi là số lượt tham quan của du khách i tới địa điểm j, khi đó Vi là biến phụ thuộc vào chi phí của chuyến đi (TCij) và một số biến thể hiện đặc điểm xã hội của du khách Hàm biểu thị số lượt tham quan của du khách như sau:
Vi = a + b.TCij + c INCi + d EDUi + e AGEi + f SEXi
Trong đó:
Trang 20Vi là số lượt viếng thăm địa điểm j của du khách i
TCij: Chi phí của một lần viếng thăm địa điểm j
INCi: Thu nhập của du khách i
EDUi: Trình độ học vấn của cá nhân i
AGEi: Độ tuổi của du khách i
SEXi: Giới tính của du khách i
Hệ số a, b, c, d, e, f lần lượt là các hệ số cần được ước lượng
Sau khi ước lượng được các hệ số tiếp tục xây dựng đường cầu mô tả mối quan hệ giữa số lượt tham quan và chi phí tham quan Phần diện tích nằm dưới đường cầu sẽ thể hiện giá trị cảnh quan của địa điểm giải trí
1.3.2 Các cách tiếp cận
Có hai cách tiếp cận phương pháp TCM:
1.3.2.1 Phương pháp chi phí du lịch cá nhân (ITCM : Individual Travel
Vi : số lần đến điểm du lịch của cá nhân I trong một năm
TCi : chi phí du lịch của cá nhân i
Si : các nhân tố khác có ảnh hưởng đến cầu du lịch của cá nhân, ví dụ : thu nhập, chi phí thay thế, độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn…
Đơn vị quan sát của ITCM là các cá nhân đến thăm điểm du lịch, giá trị giải trí của mỗi cá nhân là diện tích phía dưới đường cầu của họ Vì vậy, tổng
Trang 21giá trị kinh tế của khách du lịch sẽ được tính bằng cách tổng hợp các đường cầu cá nhân
Vì ITCM yêu cầu cần phải có sự giao động trong số lần đến địa điểm du lịch của một cá nhân hàng năm để ước lượng ra hàm cầu Vì vậy cách tiếp cận này sẽ gặp phải khó khăn khi sự giao động là quá nhỏ hoặc khi cá nhân không đến địa điểm du lịch một lần trong năm thì khó có thể chạy hàm hồi quy
Cách tiếp cận này chỉ phù hợp với khu du lịch mà khách du lịch đến nhiều lần trong một năm như vườn bách thảo, công viên, vườn thú…
1.3.2.2 Phương pháp chi phí du lịch vùng (ZTCM : Zonal Travel Cost
Vi : Số lần tới thăm từ vùng i tới điểm du lịch
POPi : Dân số của vùng i
Si : Là các biến kinh tế xã hội như thu nhập bình quân đầu người của mỗi vùng trong tháng hoặc trong năm
Thông thường các biến phụ thuộc được biểu diễn dưới dạng ( Vi/POPi ) hay tỷ lệ số lần thăm quan / 1000 dân – VR
Áp dụng ZTCM thì diện tích xung quanh điểm du lịch sẽ được chia thành các vùng với khoảng cách khác nhau tới điểm du lịch Vì vậy đơn vị quan sát của nó là các vùng Những hạn chế của ITCM sẽ được khắc phục trong ZTCM Phương pháp này sử dụng tỷ lệ số lần viếng thăm của mỗi vùng tới điểm du lịch ( VR ) là hàm của chi phí du lịch, do đó số lần một cá nhân đến điểm du lịch không ảnh hưởng đến hàm
Trang 22Tuy nhiên ZTCM cũng có những hạn chế riêng của nó Ví dụ: Nó tổng hợp khách du lịch từ số lượng lớn các cá nhân thành một vài vùng quan sát nên thống kê không hiệu quả và nó coi tất cả các cá nhân đến từ một vùng có chi phí du lịch như nhau trong khi điều này không thể xảy ra trên thực tế Tuy nhiên phương pháp ZTCM vẫn được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam
và cũng được áp dụng để tính giá trị cảnh quan của khu du lịch sinh thái Thung lũng tình yêu ở Đà Lạt
đó có hai yếu tố cần chú ý tới là:
- Quãng đường mà khách tới vị trí cần đánh giá là bao xa? (Phân chia khu vực xung quanh địa điểm du lịch được nghiên cứu thành các vùng xuất phát khác nhau theo khoảng cách địa lý Các vùng này có thể được phân chia theo các đường tròn đồng tâm kể từ điểm du lịch nhưng cũng có thể phân chia theo khu vực hành chính có cùng khoảng cách đến địa điểm giải trí Thông thường, số liệu về dân số thu thập theo địa giới hành chính dễ dàng hơn thu thập theo các đường tròn đồng tâm nên cách phân chia theo khu vực hành chính được sử dụng nhiều hơn Số lượng các vùng có thể tương đối lớn tùy theo tính chất của địa điểm nghiên cứu)
- Hàng năm khách du lịch thường lui tới vị trí đánh giá bao nhiêu lần?
Trang 23Trong đó số lần tham quan thứ i ( hay của người thứ i ) được xác định thông qua : Vi = f ( ci,x1,x2,…,xn )
Mà ci là chi phí của lần tham quan thứ i ( hay của người thứ i )
xi ( i = 1,n ) là các biến liên quan khác: thu nhập, độ tuổi, giới tính, trình
độ học vấn…
Như vậy trong bảng hỏi thể hiện khá đầy đủ các yếu tố ràng buộc liên quan Đây là cơ sở để chúng ta đưa vào kiểm định sau này trong thống kê nhằm xác định kết quả có ý nghĩa hay không
Trong thực tế chi phí một lần tham quan thường là chi phí đi lại, nó thay đổi theo ti nào đó còn giá pi vào cửa được xác lập thông qua giá ở vị trí điều tra Đương nhiên khi xử lý trong thống kê nếu chúng ta xác định được hàm
vi = α+ βci +ε = α + β( Ti + p ) + εi
Trong đó εi thường là yếu tố ngẫu nhiên còn α,β là các hệ số chặn được xác định từ kết quả thống kê phiếu điều tra
Bước 3:
Phân loại những người thường lui tới vị trí đánh giá Việc phân loại này
về cơ bản chúng ta căn cứ vào yếu tố khoảng cách và phải chia theo vùng và những người có cùng khoảng cách ghép vào một nhóm
Bước 4:
Ước tính chi phí đi lại và số lần lui tới địa điểm đó của từng nhóm trên
cơ sở đã phân nhóm ở trên
- Chi phí đi lại có thể xác định dựa trên thông tin về loại phương tiện sử dụng và mức chi phí trên mỗi km hoặc trên mỗi giờ
Với chi phí cơ hội về thời gian dành cho chuyến đi thường có nhiều phức tạp hơn Cách đơn giản nhất để ước tính chi phí thời gian là xác định chi phí thời gian dựa trên mức lương theo ngày/theo giờ
Trang 24- Tỷ lệ du khách đến thăm điểm du lịch được xác định bằng cách lấy tổng số du khách đến điểm giải trí trong năm của mỗi vùng chia cho tổng dân số của vùng
đó tính theo đơn vị nghìn người
Trong đó: Vzj là tỷ lệ du khách từ vùng Z tới địa điểm j,
TCzj là chi phí du lịch của du khách vùng Z tới địa điểm j,
Sz là các biến kinh tế - xã hội của du khách vùng Z
Sau đó xây dựng đường cầu du lịch cho địa điểm nghiên cứu trên cơ sở kết quả của phân tích hồi quy Mức chi phí du lịch sẽ tăng lên cho đến khi số lần viếng thăm của khách giảm xuống bằng 0, tức là có ít hơn một khách sẵn sàng
bỏ ra mức phí đó để được vào thăm khu du lịch Điểm đầu của đường cầu là số lượng du khách đến với điểm giải trí trong trường hợp chi phí du lịch bằng 0 Trên cơ sở xác định số lượt du khách ứng với từng mức phí vào cửa khác nhau
sẽ xây dựng đường cầu giải trí
Trang 25Cuối cùng ước lượng giá trị cảnh quan của điểm nghiên cứu thông qua tính thặng dư tiêu dùng của du khách hoặc xác định phần diện tích nằm phía dưới đường cầu
Ta có biểu đồ về nhu cầu giải trí theo phương pháp chi phí du lịch như sau
Hình 1.2: Nhu cầu giải trí theo phương pháp chi phí du lịch
Nguồn: Giáo trình bài giảng Kinh tế môi trường, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 1998
1.3.4 Ưu điểm
- Rất thuận lợi để tiến hành đánh giá giá trị môi trường tại những nơi có lượng khách đông
Số lần đến
Đường cầu về giải trí
Vùng dưới đường cầu = lợi ích của giải trí = lợi ích của khu vực tự nhiên ( theo giả định)
0
Chi phí
Trang 26- Là phương pháp dựa trên hàm cầu, xét về mặt kỹ thuật hiện nay rất phù hợp với nhà kinh tế do các phương pháp kinh tế đã sử dụng: điều tra xã hội học,
mô hình, phần mềm liên quan đều có sẵn
- Đây là phương pháp dễ được chấp nhận về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn
về mặt lý luận, dựa trên mô hình kinh tế truyền thống đã có để xây dựng dù
nó chưa hoàn hảo nhưng cũng đảm bảo được sự đồng thuận của các nhà kinh
tế Về thực tiễn, nó hoàn toàn phù hợp ở chỗ mối quan hệ giữa chất lượng hàng hóa môi trường với chấp nhận chi phí để hưởng thụ giá trị hàng hóa của khách du lịch
- Xem xét trên góc độ kinh tế phương pháp này cho ta một cách nhìn nhận tương đối dễ hiểu, dễ tiếp cận
- Nếu công việc điều tra, phỏng vấn khách quan và đúng quy trình thì kết quả mang lại phục vụ tốt cho công tác chính sách
1.3.5 Hạn chế
- Chi phí về thời gian rất khó xác định, ví dụ thời gian khách đi du lịch ( họ không làm việc ) nhưng thực tế ngày làm viẹc của họ có được tính trong giá trị không?
- Một hành trình có nhiều chuyến tham quan: thông thường đi du lịch tới các
vị trí thưởng ngoạn người ta đi theo tour nhưng khi đánh giá lại là một điểm, một vùng, nên vấn đề là việc bóc tách chi phí như thế nào trong tổng chi phí người ta thực hiện tại điểm đánh giá là vấn đề mà người làm đánh giá phải có cách xử lý phù hợp Nếu không kết quả trong phần tính chi phí sẽ phản ánh sai dẫn tới việc giá trị chất lượng môi trường không đúng
- Cảnh quan thay thế : Trong nhiều trường hợp việc chúng ta xác định điểm đánh giá trong đó giá trị chất lượng môi trường có thể được thay thế bằng cảnh quan khác thay vì cảnh quan mà chúng ta cần đánh giá đối với lựa chọn của khách du lịch
Trang 27Ví dụ : Theo truyền thống đi du lịch Cúc Phương là du lịch sinh thái, hiện nay Ba Vì mở sau nên khách du lịch truyền thống ở Cúc Phương chuyển sang Ba Vì nhưng giá trị chất lượng môi trường cảnh quan ở Cúc Phương không thay đổi Trong trường hợp đó cách xử lý của người đánh giá như thế nào để đảm bảo nguyên giá trị nếu không khách du lịch sẽ hạ thấp giá của Cúc Phương
- ( David Tuner – quyết định mua nhà ): Trong thực tế có nhiều trường hợp thay vì phải thường xuyên đi lại để thưởng ngoạn về môi trường người ta quyết định phương án không đi thường xuyên mà mua hẳn nhà ở đó Do vậy
sử dụng TCM trong trường hợp này không hợp lý
- Trường hợp không chi phí: Phương pháp TCM rất khó xác định khi phỏng vấn vì những người ở gần có thể đi bộ đến địa điểm cần đánh giá và họ có thể đánh giá rất cao giá trị môi trường ở đó
Tóm lại, phương pháp chi phí du lịch chỉ đại diện cho giá sẵn lòng chi trả cho một mức chất lượng môi trường Do đó phương pháp chi phí du lịch được
sử dụng hạn chế trong phân tích chi phí lợi ích Tuy nhiên nó lại rất hữu dụng trong việc tính giá trị kinh tế của một khu rừng, vườn quốc gia hay hệ sinh thái
1.4 Tiểu kết chương I
Tóm lại trong chương I của chuyên đề đã trình bày các khái niệm về hàng hóa, hàng hóa chất lượng môi trường, khái niệm TEV, sự cần thiết và phương pháp đánh giá môi trường và đặc biệt đã trình bày phương pháp chi phí du lịch sử dụng cho đánh giá chất lượng môi trường Qua đó giúp ta hiểu sâu hơn
về việc phải coi môi trường là hàng hóa và cần có các biện pháp đánh giá tổng giá trị của nó, điều đó sẽ giúp ích cho công tác nghiên cứu và bảo tồn Chương này chủ yếu tập trung vào phương pháp chi phí du lịch – một phương pháp phổ biến được dùng để đánh giá giá trị chất lượng môi trường, bao gồm: khái niệm, các cách tiếp cận, các bước thực hiện, ưu điểm và hạn chế của nó
Trang 28Đây là cơ sở giúp ta so sánh với các phương pháp đánh giá môi trường khác như phương pháp so sánh… để đưa ra những kết quả chính xác hơn, do đó sẽ thuận tiện cho quá trình ra chính sách
CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ KHU DU LỊCH THUNG LŨNG TÌNH YÊU Ở LÂM ĐỒNG
2.1 Đặc điểm chung
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên:
Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh Lâm Đồng Về phía Bắc, Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng
Khu du lịch sinh thái Thung lũng tình yêu nằm trên địa bàn phường 8 thành phố Đà Lạt, cách trung tâm thành phố khoảng 6km về hướng Đông Bắc Tổng diện tích tự nhiên là 299 ha trong đó diện tích khu du lịch là 133 ha Thung lũng Tình yêu là thắng cảnh thơ mộng và trữ tình nhất của Đà Lạt Ban đầu, người Pháp gọi nơi đây là Vallée D’amour sau nó được đổi tên thành Thung lũng Hòa Bình và năm 1953 trở lại là Thung lũng tình yêu Thung lũng Tình Yêu đẹp và cuốn hút bởi thung lũng sâu và đồi thông Năm 1972, một đập ngăn nước được xây dựng vắt ngang qua thung lũng tạo thành hồ Đa Thiện, làm tăng thêm sức quyến rũ cho cảnh quan chung, đồng thời xuất hiện thêm hai tên gọi khác bên cạnh Thung lũng Tình Yêu là đập 3
và hồ Đa Thiện
Lịch sử tên gọi Thung lũng Tình yêu được giải thích theo hai cách:
Trang 29- Trong nửa đầu thế kỷ XX, thung lũng gần Biệt điện Bảo Ðại (Dinh III) được gọi là Vallée D' Amour (Thung lũng Tình yêu) Sinh viên Viện Ðại học Ðà Lạt nhận thấy thung lũng ở đập III Ða Thiện là nơi hẹn hò lý tưởng của thanh niên nên cũng đặt tên là Thung lũng Tình yêu
- Hướng đạo sinh thường cắm trại ở thung lũng Ða Thiện và đặt tên Thung lũng Tình yêu với ý nghĩa tình yêu thiên nhiên, đất nước
Từ trên đồi cao nhìn xuống, Thung lũng Tình yêu và hồ Ða Thiện tựa như một bức tranh thủy mặc Xa xa là đỉnh Lang Biang ẩn hiện trong sương
mù Mặt hồ phẳng lặng, thấp thoáng những chiếc buồm nhỏ xinh với nhiều màu sắc rực rỡ Hồ nước uốn lượn qua những quả đồi nối tiếp nhau, rợp bóng thông mát rượi Những thung lũng với cỏ xanh mềm cùng con đường đất đỏ uốn lượn ôm gọn lấy lòng hồ và len giữa ngàn thông cây lá
Sau năm 1975, Thung lũng tình yêu được giao cho Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Ðà Lạt khai thác và kinh doanh du lịch Từ một thắng cảnh hoang sơ ban đầu, thời gian qua, những cán bộ trẻ ở đây đã có nhiều cố gắng để tôn tạo cho thiên đường tình ái này thêm sinh động Vườn hoa, cây cảnh, đội canô đưa du khách đi dạo trên hồ, đồng thời xây tượng đôi uyên ương, nhà giải khát, các kiosque bán quà lưu niệm Mặc dù tất cả hãy còn đơn giản, song với vẻ quyến rũ của hồ Ða Thiện - Thung lũng tình yêu vào những ngày đẹp trời hay các dịp lễ tết, khách du lịch thập phương vẫn nườm nượp kéo về nơi đây nhằm tận hưởng những giây phút sảng khoái khi con người hòa nhập với thiên nhiên Nếu như năm 1991 chỉ có 132.044 lượt
du khách đến tham quan Thung lũng tình yêu thì trong năm 1997, đã tăng lên 219.831 lượt người, năm 2008 là 467.585 lượt khách Doanh thu của khu du lịch cũng đã tăng từ 2,92 tỷ (năm 2006) lên 3,2 tỷ đồng (năm 2008)
Trang 30Năm 1998, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin đã ký quyết định công nhận hồ Ða Thiện - Thung lũng tình yêu là thắng cảnh cấp quốc gia Cũng trong thời gian này dự án tôn tạo và phát triển khu vực thắng cảnh này đã được thiết lập
Hình 2.1: Bản đồ vị trí khu du lịch Thung lũng tình yêu
Trang 31
Nguồn : http:// google.com.vn
2.1.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng
Thung lũng tình yêu
Trang 32Cao trung bình so với mặt biển là 1.500 m Nơi cao nhất trong trung tâm thành phố là Nhà Bảo Tàng (1.532 m), nơi thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương (1.398,2 m)
Bên trong cao nguyên, địa hình Đà Lạt phân thành hai bậc rõ rệt:
+ Bậc địa hình thấp là vùng trung tâm có dạng như một lòng chảo bao gồm các dãy đồi đỉnh tròn, dốc thoải có độ cao tương đối 25-100 m, lượn sóng nhấp nhô, độ phân cắt yếu, độ cao trung bình khoảng 1.500 m
+ Bao quanh khu vực lòng chảo này là các đỉnh núi với độ cao khoảng 1.700
m tạo thành vành đai che chắn gió cho vùng trung tâm Phía Đông Bắc có hai núi thấp: hòn Ông (Láp Bê Bắc 1.738 m) và hòn Bộ (Láp Bê Nam 1.709 m)
Ở phía Bắc, ngự trị cao nguyên Lang Biang là dãy núi Bà (Lang Biang) hùng
vĩ, cao 2.169 m, kéo dài theo trục Đông Bắc - Tây Nam từ suối Đa Sar (đổ vào Đa Nhim) đến Đa Me (đổ vào Đạ Đờng) Phía Đông án ngữ bởi dãy núi đỉnh Gió Hú (1.644 m) Về phía Tây Nam, các dãy núi hướng vào Tà Nung giữa dãy Yàng Sơreng mà các đỉnh cao tiêu biểu là Pin Hatt (1.691 m) và You Lou Rouet (1.632 m)
Bên ngoài cao nguyên là các dốc núi từ hơn 1.700 m đột ngột đổ xuống các cao nguyên bên dưới có độ cao từ 700 m đến 900 m
Thung lũng tình yêu thuộc loại bậc địa hình thấp, độ dốc bình quân từ 15-30 độ, hướng nghiêng của địa hình là hướng đông và đông nam Đất ở đây
là đất feralit vàng đỏ phát triển trên nền đá kết tinh chua, đất thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất dày trung bình từ 30- 80 cm, tỷ lệ đá lẫn dưới 20%, có kết cấu hơi chặt ( được xếp vào cấp đất II theo tiêu chuẩn phân hạng ) Thung
Trang 33lũng tình yêu có dạng như một lòng chảo, nó được bao bọc bởi đồi thông ngút ngàn Vì vậy để xuống được tận thung lũng không phải là chuyện dễ dàng
2.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
Do ảnh hưởng của độ cao và rừng thông bao bọc, Đà Lạt nói chung và thung lũng tình yêu nói riêng mang nhiều đặc tính của miền ôn đới Nhiệt độ trung bình 18–21°C, nhiệt độ cao nhất chưa bao giờ quá 30°C và thấp nhất không dưới 5°C
Ở đây có hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 Mùa hè thường có mưa vào buổi chiều, đôi khi có mưa đá
Lượng mưa trung bình năm là 1662 mm và độ ẩm 87%
Đặc biệt nơi này không bao giờ có bão, chỉ có gió lớn do ảnh hưởng bão
từ biển thổi vào vì sườn đông không có núi che chắn
Khí hậu Đà Lạt nói chung và khu du lịch Thung lũng tình yêu nói riêng quanh năm mát mẻ rất thuận lợi cho việc đi du lịch và nghỉ dưỡng Nhiệt độ
và độ ẩm trung bình tương đối thấp so với các tỉnh phía Nam và có kiểu khí hậu khá giống các tỉnh phía Bắc vào mùa đông.Ở đây thời tiết lạnh nhưng tương đối ít mưa, thường là mưa nhỏ, lượng mưa trung bình thấp hơn mức trung bình của cả nước Chính vì vậy đây là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch vào tất cả các tháng trong năm
Trang 34Bảng 2.1: Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa trung bình trong năm
Khu du lịch Thung lũng tình yêu nằm trong Vườn quốc gia Bi Đúp – Núi
Bà Ở đây có tài nguyên động thực vật phong phú
- Thực vật gồm 1.468 loài thực vật có mạch thuộc: 161 họ, 673 chi, với 91 loài đặc hữu, 62 loài quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam, 28 loài đặc hữu được Latinh hóa
Đất có rừng chiếm hơn 91%, gòm nhiều hệ sinh thái rừng khác nhau như: rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín hỗn hợp cây lá rộng – lá kim, rừng lùn đỉnh núi, rừng thưa cây lá kim á nhiệt đới núi thấp, kiểu phụ rừng rêu, trảng cỏ, rừng hỗn giao lá rộng và tre nứa
Trữ lượng rừng: chiều cao vút ngọn bình quân là 18,8 m; đường kính ngang ngực bình quân là 21,95 cm; mật độ bình quân trong lâm phần là 1.268 cây/ ha; trữ lượng bình quân là 377m3/ha
- Động vật gồm 4 lớp là lớp thú, lớp chim, lớp bò sát và lớp ếch nhái thuộc:
27 bộ, 95 họ, 382 loài Trong đó có:36 loài trong sách đỏ Việt Nam, 26 loài trong sách đỏ IUCN
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trang 35Thung lũng tình yêu là nơi sinh sống của 50 hộ dân, chủ yếu là người Kinh ( chiếm 90%) còn lại là dân tộc Tày, Nùng, Mường…với số dân trên
240 người phân bố không đồng đều Trước khi giải phóng người dân tộc sống chủ yếu ở đây, nhưng sau này người Kinh vào làm ăn kinh tế dần đẩy lùi người dân tộc vào vùng sâu xa hơn
Kinh tế Đà Lạt có thế mạnh về du lịch, trồng hoa và rau Phần lớn diện tích trồng hoa chuyên nghiệp của tỉnh Lâm Đồng tập trung tại Đà Lạt Tổng cộng diện tích canh tác nông nghiệp của Đà Lạt vào khoảng 9.978 ha Sản lượng rau hằng năm vào khoảng 170.000 tấn, trong đó có 35.000 tấn được xuất khẩu sang các nước Đông Bắc châu Á và ASEAN Sản lượng hoa Đà Lạt hằng năm vào khoảng 540 triệu cành, trong đó xuất khẩu vào khoảng 33,3 triệu cành hoa
Tuy nhiên ở Thung lũng tình yêu do đất lẫn đá nhiều, tỷ lệ đất màu mỡ ít lại phân bố không tập trung nên việc phát triển nghề trồng hoa và rau gặp nhiều khó khăn Đa số người Kinh tập trung xung quanh thung lũng kinh doanh các hoạt động, dịch vụ phục vụ du lịch, còn lại người dân chủ yếu sống dựa vào nghề rừng
2.2 Thực trạng về hoạt động du lịch
2.2.1.Tiềm năng du lịch
Thung lũng Tình yêu vốn đã đẹp và cuốn hút bởi lũng sâu và đồi thông, lại càng hấp dẫn hơn khi vào năm 1972, một đập ngăn nước được xây dựng vắt ngang tạo thành hồ Đa Thiện, làm biến đổi hình thái và tăng thêm sức quyến rũ cho cảnh quan nơi đây Du khách có thể men theo những lối mòn hoặc leo cả trăm bậc cấp, đi qua những cổng hoa với màu sắc rực rỡ để lên đồi Vọng Cảnh
Từ đây Thung lũng Tình yêu hiện ra trong tầm mắt đẹp tựa một bức tranh, sinh động với những cánh buồm nhấp nhới trên hồ Những con đường đất đỏ uốn lượn vòng vèo có thể đưa khách lên đồi hoặc dẫn đền tận đỉnh núi Langbian
Trang 36thấp thoáng trong mây Du khách cũng có thể vượt qua chiếc cầu nhỏ để khám phá đồi Địa Đàn, một địa điểm lí tưởng nhờ được bao quanh bởi hồ nước (độ cao 1565m so với mặt biển) Từ đây, Thung lũng Tình yêu hiện ra dưới mắt du khách đẹp tựa như một bức tranh sinh động, lãng mạn với những con thiên nga
và những cánh buồm thấp thoáng trên mặt hồ Những cái balcon trắng toát soi bóng mặt hồ là những vị trí thuận tiện để câu cá hay hàn huyên tâm sự Giữa thiên nhiên gió lộng, du khách tưởng như đang lạc vào một cõi tiên nào đó với màu xanh bất tận và ánh sáng khúc xạ diệu kỳ tạo thành những mãng không gian thực thực hư hư
Không những thế thung lũng tình yêu còn thu hút khách du lịch đặc biệt
Bảng 2.2: Lượng khách đến Thung lũng tình yêu qua các năm
Tổng lượng khách Lượt khách 451.510 462.453 467.585
Nguồn : Công ty du lịch thanh niên Đà Lạt
Hình 2.2 Lượng khách du lịch đến Thung lũng tình yêu qua các năm
Trang 37Nguồn: Công ty du lịch thanh niên Đà Lạt
Trong năm 2005 số lượng khách giảm ( chỉ có 392.356 người) do Hồ Đa Thiện được sửa chữa, nạo vét nên có sự xáo trộn cảnh quan, nhiều đoàn khách biết thông tin và họ đã không lui tới Nói chung, số lượng du khách đều tăng qua các năm mặc dù trong những năm qua công tác xúc tiến thị trường thu hút
du khách của doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức Điều đó càng khẳng định danh tiếng của khu di tích Chính thương hiệu Thung lũng tình yêu được xác lập từ lâu đã tạo ra lợi thế kinh doanh thu hút du khách đến với khu du lịch
2.2.2.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch
Doanh thu từ hoạt động du lịch ở đây chủ yếu là tiền bán vé vào cửa còn
các loại khác chiếm tỷ lệ khá nhỏ
Bảng 2.3: Doanh thu từ hoạt động du lịch của Thung lũng tình yêu
Năm
2007 2008 Lượt khách
2006
Trang 38Nguồn: Công ty cổ phần du lịch thanh niên Đà Lạt
Nếu so với số lượng khách du lịch tới Thung lũng tình yêu hàng năm thì doanh thu của khu du lịch không xứng với tiềm năng của nó Vì thế ban quản lý khu du lịch này nên tìm các biện pháp tăng doanh thu từ các dịch vụ khác như dịch vụ phục vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống
2.2.3 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch
Về hệ thống lưu trú, hiện thành phố Đà Lạt có 725 nhà nghỉ, khách sạn với tổng số hơn 10.000 phòng, trong đó 52 khách sạn từ 1 đến 5 sao Điều quan trọng ở đây không phải là số lượng buồng, phòng tăng mà là chất lượng
và thái độ phục vụ Để giảm tình trạng nâng, ép giá vô tội vạ như vẫn xảy ra trong những mùa cao điểm trước đây, ngành chức năng của Đà Lạt đã thành lập các đội kiểm tra giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh; đồng thời vận động doanh nghiệp giữ chữ tín với khách Tuy nhiên khu vực thung lũng tình yêu thì lại không có cơ sở phục vụ lưu trú và không có khách lưu trú qua đêm, gây khó khăn cho du khách
- Về phương tiện phục vụ cho việc đi lại của khách du lịch thì chỉ có cano để dạo hồ và ngựa để ngắm nhìn cảnh quan thiên nhiên