Đường Hồ Chí Minh trên biển góp phần kết nối giữa hậu phương miền Bắc và tiền tuyến VN có vai trò quan trong trong chi viện sức người, sức của cho chiến trường VN:...18 2.3.. Vị trí địa
Khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc, chuyển cách mạng miền
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết vào tháng 7-1954, cách mạng Việt Nam có những đặc điểm mới cùng với thuận lợi và khó khăn riêng Theo đúng Hiệp định ngày 10-10-1954, tên lính Pháp cuối cùng rời Hà Nội, và đến ngày 16-5-1955 toàn bộ quân đội viễn chinh Pháp cùng tay sai đã rút khỏi miền Bắc.
Ở miền Bắc, kinh tế cơ bản dựa trên nông nghiệp, Đảng tập trung chỉ đạo khôi phục và phát triển nông nghiệp đồng thời kết hợp cải cách ruộng đất và vận động đổi công, chăm lo xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp Đến năm 1957, nông nghiệp miền Bắc cơ bản đạt năng suất và sản lượng của năm 1939, năm cao nhất dưới thời Pháp thuộc; nhưng trong cải cách ruộng đất có nhiều sai lầm nghiêm trọng, phổ biến và kéo dài do chủ quan, giáo điều, không xuất phát từ thực tế, nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng hoàn toàn và thay đổi quan hệ giai cấp xã hội Kết quả ba năm phát triển kinh tế-văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958–1960) đã mang lại chuyển biến cách mạng cho nền kinh tế và xã hội miền Bắc, củng cố và từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương ổn định đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam Ở miền Nam từ năm 1954, Mỹ và Pháp rút, đế quốc Mỹ nhảy vào thay chân Pháp nhằm biến Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài Việt Nam và biến Nam thành căn cứ quân sự để tấn công miền Bắc cũng như hệ thống xã hội chủ nghĩa từ phía Đông Nam; Hồ Chí Minh kêu gọi giải phóng toàn dân Từ năm 1958, địch tăng cường khủng bố, mở rộng các hành động dồn dân vào các trại tập trung; tháng 3-1959, Diệm tuyên bố “đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh” với luật 10/59 và xét xử bằng tòa án quân sự đặc biệt Chính sách đàn áp và chiến tranh đã làm cho mâu thuẫn giữa đế quốc Mỹ và tay sai với nhân dân miền Nam ngày càng gay gắt, làm cho thời cơ cách mạng ở miền Nam chín muồi và dẫn đến bùng nổ các cuộc khởi nghĩa của quần chúng.
Việc hậu thuẫn và chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam được đẩy mạnh, với đường vận tải mang tên Hồ Chí Minh hình thành và mở rộng cả trên bộ theo Trường Sơn (đường 559) và trên biển (đường 759) Thành công của phong trào Đồng Khởi là bước nhảy vọt có ý nghĩa lịch sử, đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công và mở ra bước phát triển mới cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, phát triển thế tiến công của cách mạng miền Nam (1961 – 1965)
Tháng 9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Hà Nội Trong diễn văn khai mạc, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh vì hòa bình, thống nhất đất nước” và xác định phương hướng, nhiệm vụ cùng mục tiêu của kế hoạch 5 năm (1961–1965) Trong quá trình thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961–1965), nhiều cuộc vận động và phong trào thi đua được triển khai sôi nổi ở các ngành, các giới và các địa phương Đặc biệt, phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt” theo Lời kêu gọi của Hồ Chí Minh tại Hội nghị chính trị đặc biệt tháng 3-1964, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ở miền Nam, đã làm tăng thêm không khí phấn khởi, hăng hái vươn lên hoàn thành Kế hoạch năm năm lần thứ nhất.
Trong những năm thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), miền Bắc xã hội chủ nghĩa không ngừng tăng cường chi viện cho miền Nam, biến miền Bắc thành căn cứ địa vững chắc và là nguồn lực lương thực, lực lượng cho cách mạng miền Nam trong suốt một thập kỷ Ở miền Nam, từ năm 1961 Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã triển khai chiến tranh đặc biệt qua hai kế hoạch quân sự-chính trị Stalay-Taylo (1961-1963) và Giôn xơn-Mắc Namara (1964-1965), bằng công thức “cố vấn, vũ khí Mỹ và quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa” nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng và lập 17.000 ấp chiến lược như một quốc sách, đồng thời áp dụng các hình thức “trực thăng vận” và “thiết xa vận” để thực hiện mục tiêu chiến tranh Âm mưu, thủ đoạn của chiến tranh đặc biệt đã gây nhiều khó khăn cho cách mạng miền Nam từ 1961-1962, nhưng sau đó phong trào vẫn vượt lên và có bước phát triển mới, nổi bật là chiến thắng Ấp Bắc (2-1-1963) ở Mỹ Tho, thể hiện sức mạnh của sự kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và binh vận để chống địch càn quét và giành quyền làm chủ.
Với tinh thần chủ động và sáng tạo, từ đầu năm 1961 đến giữa năm 1965 lực lượng cách mạng ở miền Nam đã phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam; ba trụ cột của chiến lược này là xây dựng chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến cơ sở mạnh, xây dựng quân đội mạnh và bình định nông thôn miền Nam đều không thực hiện được Chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ (1-11-1963) đã gây ra tình hình rối loạn kéo dài trên chính trường miền Nam, trong khi phong trào học sinh, sinh viên, trí thức ở đô thị, bãi công của công nhân và lực lượng biệt động đã đóng góp xứng đáng cho kháng chiến Đến đầu năm 1965, các công cụ, chỗ dựa của “Chiến tranh đặc biệt” như ngụy quân ngụy quyền, ấp chiến lược và đô thị đều bị lung lay tận gốc, khiến chiến lược này được triển khai đến mức cao nhất nhưng hoàn toàn bị phá sản Đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân miền Nam, mở cơ sở để cách mạng miền Nam tiếp tục tiến lên.
SƠ LƯỢC VỀ ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN
Lịch sử hình thành
Âm mưu chia cắt đất nước kéo dài dẫn đến năm 1954 khi các thế lực cầm quyền của Mỹ và tay sai được cho là xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, đồng thời tấn công miền Bắc.
Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Khóa IX (khóa II) họp tại Hà Nội xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới; nghị quyết của hội nghị khẳng định con đường giải phóng miền Nam là "con đường cách mạng bạo lực".
Thực hiện chủ trương của Đảng và Quân ủy Trung ương, ngày 19-5-1959,
Đoàn công tác quân sự đặc biệt, đơn vị tiền thân của Đoàn 559, được thành lập với mục đích nghiên cứu hoạt động chi viện quân sự cho miền Nam Hoạt động của đoàn tập trung xây dựng cơ sở nghiên cứu và đề xuất các hình thức hỗ trợ quân sự phù hợp với tình hình miền Nam Việc thành lập đánh dấu bước đầu quan trọng trong quá trình hình thành hệ thống chi viện và sự phát triển của Đoàn 559 sau này.
Ngày 1-6-1959, Tiểu đoàn 301 trực thuộc “Đoàn 559” ra đời, tiểu đoàn có nhiệm vụ mở tuyến vận tải xuyên Trường Sơn để chi viện vũ khí, trang bị lực lượng cho chiến trường miền Nam Đến tháng 7-1959, Tiểu đoàn 603 được thành lập có nhiệm vụ nghiên cứu tìm phương thức vận chuyển bằng đường biển chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam; Để giữ bí mật, tiểu đoàn lấy tên là “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”.
Cuối năm 1959, công tác chuẩn bị cho vận chuyển đã cơ bản hoàn thành; Đại đội 1, Tiểu đoàn 603 tổ chức chuyến thuyền vượt biển đầu tiên với nhiệm vụ chở 5 tấn vũ khí và thuốc chữa bệnh cho chiến trường khu V, nhưng chuyến đi không thành công vì việc dùng thuyền gỗ, chạy buồm chở vũ khí bằng đường biển gặp nhiều khó khăn và thiếu an toàn, khiến Quân ủy Trung ương quyết định cho Tiểu đoàn 603 ngừng hoạt động; trong khi chờ phương án mới, Tiểu đoàn 603 giải thể, các đại đội chuyển về Tiểu đoàn 301 để mở đường Trường Sơn Đầu năm 1960, cùng với phong trào Đồng Khởi Bến Tre, cách mạng ở miền Tây Nam Bộ chuyển lên cao và trở thành cao trào Đồng Khởi rộng khắp; nhu cầu về vũ khí, đạn và thuốc chữa bệnh trở thành vấn đề sống còn, đòi hỏi phải nhanh chóng vận chuyển vũ khí, hàng hóa để chi viện cho chiến trường Nam Bộ, trong khi tuyến đường bộ trên dãy Trường Sơn đã mở và hoạt động hiệu quả nhưng chưa vươn tới các địa bàn chiến lược đặc biệt; Tổng Quân ủy tiếp tục chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu khẩn trương nghiên cứu đề án mới về xây dựng và tổ chức lực lượng vận tải biển chi viện cho chiến trường Nam Bộ và khu V.
Chưa có lực lượng đủ mạnh để vận chuyển trên biển chi viện cho miền Nam, Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo các tỉnh ven biển ở miền Trung và Nam Bộ chủ động chuẩn bị bến, bãi và tổ chức đưa thuyền vượt biển ra miền Bắc, vừa thăm dò, nắm tình hình địch, nghiên cứu tuyến vận chuyển trên biển, vừa nhận vũ khí để kịp thời cung cấp cho phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam đang phát triển Từ giữa năm 1961 đến giữa năm 1962, 5 thuyền của địa bàn Nam Bộ đã ra tới miền Bắc Những người con kiên trung của thành đồng Tổ quốc (trong đó có 18 đảng viên) đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn và các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương gặp mặt, ân cần thăm hỏi, động viên.
Những chuyến thuyền từ Nam Bộ vượt biển ra Bắc thành công đã trở thành một trong những cơ sở quan trọng để xúc tiến việc thành lập đoàn vận tải thủy tiếp tế vũ khí cho miền Nam Ngày 23-10-1961, Bộ Tổng Tư lệnh ra Quyết định số 97/QP do Thứ trưởng Hoàng Văn Thái ký thành lập Đoàn 759 vận tải thủy, đồng chí Đoàn Hồng Phước làm đoàn trưởng Đoàn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tư lệnh, lấy nhà số 83.
Lý Nam Đế (Hà Nội) làm trụ sở Cuối năm 1961, đề án công tác của đoàn đã được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh thông qua.
Ngày 12-2-1962, Tổng cục Chính trị có Quyết định số 09/QĐ thành lập Đảng ủy Đoàn 759 do đồng chí Phạm Thái Hòa làm Bí thư.Quyết định thành lập Đoàn 759 thể hiện tầm nhìn chiến lược và sáng tạo của Bộ Chính trị mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh Sự ra đời của Đoàn 759 đánh dấu mốc lịch sử quan trọng, mở ra bước phát triển mới của tuyến đường vận tải chiến lược trên biển Ngày 23-10 trở thành ngày truyền thống của Đoàn 759 trước đây, Lữ đoàn 125 Hải quân ngày nay, đồng thời làNgày mở đường Hồ Chí Minh trên biển.
Vị trí địa lý và đặc điểm của đường Hồ Chí Minh trên biển
Đường Hồ Chí Minh trên biển là tuyến đường vận tải quân sự bí mật do Hải quân nhân dân Việt Nam và Quân Giải Phóng miền Nam Việt Nam thực hiện trên Biển Đông Tuyến đường được chính thức thành lập ngày 23-10-1961 nhằm vận chuyển tăng cường nguồn nhân lực và vũ khí từ miền Bắc Việt Nam chi viện cho Quân Giải Phóng miền Nam trong chiến tranh Việt Nam Hoạt động của tuyến đường này giúp kết nối hậu cần giữa hai miền và đảm bảo nguồn lực cho chiến trường miền Nam trước áp lực từ đối phương Đây là một thành tựu chiến lược trong cuộc kháng chiến, thể hiện sự phối hợp giữa lực lượng hải quân và lực lượng cách mạng nhằm chi viện cho chiến tranh trên vùng biển Đông.
Đường Hồ Chí Minh trên biển đã trải qua hai nghìn lượt tàu thuyền vượt biển, vận chuyển hàng chục ngàn cán bộ từ Bắc vào Nam và chi viện cho chiến trường với hàng ngàn cán bộ cùng gần 160 nghìn tấn vũ khí Các tàu cập bến tại 19 bến bãi trên địa bàn, khẳng định vai trò then chốt của tuyến đường biển này trong vận chuyển nhân lực và vật tư chiến lược.
9 tỉnh miền Nam , góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước
Trong kháng chiến chống Mỹ, đường Hồ Chí Minh trên biển là biểu tượng của ý chí quyết chiến, quyết thắng, lòng dũng cảm và khí phách của một dân tộc anh hùng Được xem như huyền thoại có thật và kỳ tích của dân tộc ta, con đường này không chỉ là phương thức chi viện trực tiếp cho các chiến trường ven biển miền Nam mà còn là sáng tạo chiến lược của Đảng về chiến tranh nhân dân thời đại Hồ Chí Minh Nhờ đó, nó góp phần to lớn làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Phát triển tổ chức, phương tiện và các tuyến vận tải quân sự trên biển
Tháng 7-1959, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Tiểu đoàn Vận tải thủy 603, chịu trách nhiệm mở đường trên biển để vận chuyển vũ khí, hàng hóa và con người chi viện cho miền Nam; để giữ bí mật, tiểu đoàn hoạt động dưới tên gọi “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” Ngày 23 tháng 10 năm 1961, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Đoàn hải quân 759, sau này trở thành Lữ đoàn 125 của Hải quân nhân dân Việt Nam Đây là đơn vị đầu tiên đảm nhận nhiệm vụ vận tải vũ khí, hàng hóa vào chiến trường miền Nam bằng các tàu Không số, mở ra sự phát triển mới của Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Tại Nam Bộ, Bộ Chỉ huy quân khu IX của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được giao nhiệm vụ thành lập Trung đoàn 962 chuyên trách nhiệm vụ chuẩn bị bến bãi tại bờ biển các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Cà Mau.
V, VI, VIII cũng được lệnh thiết lập các bến bãi bí mật để đón nhận vũ khí, đạn dược, phương tiện và các hàng hóa khác từ miền Bắc Việt Nam chuyển vào bằng đường biển. Đoàn 962 là một đầu cầu lớn tiếp nhận sự chi viện vũ khí, trang bị từ hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.
- Đoàn 950: Năm 1972, Bộ Tổng tham mưu chỉ thị kết thúc quá trình vận chuyển bằng tàu vỏ sắt của Đoàn 125 vào các bến của Đoàn 962 để chuyển sang phương thức vận chuyển mới: Vận chuyển hợp pháp bằng tàu hai đáy Qua nghiên cứu việc vận chuyển bằng xuồng, ghe hai đáy trong nội địa quân khu, được sự chấp thuận của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định thành lập Đoàn 950 (sau gọi là Đoàn 371). Đoàn 950 hoạt động theo phương thức hợp pháp (các tàu vận chuyển), bất hợp pháp (các bến và kho) Lực lượng được điều động từ những cán bộ, chiến sĩ ưu tú của Đoàn 962 và Đoàn 125.
1.3.2 Các phương tiện vận tải:
+ Tàu hai đáy Ðêm 11-10-1962, tại Ðồ Sơn (Hải Phòng), chiếc thuyền gỗ gắn máy đóng giả tàu đánh cá, mang tên Phương Ðông 1 chở 30 tấn vũ khí vào bến Cà Mau Chuyến đi thành công của tàu Phương Ðông 1 là khởi đầu cho việc khẳng định chủ trương đúng đắn, sáng suốt khi mở con đường huyền thoại trên Biển Ðông Để tránh tai mắt địch, hầu hết các con tàu trở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam đều được ngụy trang thành tàu đánh cá, không mang số hiệu cố định và liên tục thay đổi lộ trình trên đường đi – Đoàn tàu Không số Các con tàu Phương Ðông 2, Phương Ðông 3 và Phương Ðông 4 lần lượt xuất phát, hướng vào miền Nam và đưa hàng cập bến an toàn Ngày 17-3-1963, chuyến tàu sắt đầu tiên chở 44 tấn vũ khí lên đường, đến đêm 23 rạng sáng 24-3 cập bến Bát Sát (Trà Vinh) thành công Ðây là dấu hiệu mở màn cho giai đoạn phát triển nhảy vọt của công tác vận chuyển quân sự trên biển Năm 1972, Bộ Tổng tham mưu chỉ thị kết thúc quá trình vận chuyển bằng tàu vỏ sắt của Đoàn 125 vào các bến của Đoàn 962 để chuyển sang phương thức vận chuyển mới: Vận chuyển hợp pháp bằng tàu hai đáy.
1.3.3 Các tuyến vận trải trên biển:
+ Tuyến tiếp giáp lãnh hải
+ Tuyến hàng hải quốc tế Ðể đáp ứng yêu cầu vận chuyển của những tàu trọng tải lớn, ngày 15-4-
Năm 1963, tại khu vực nơi tàu Phương Đông 1 xuất phát, cọc đầu tiên đã được đóng xuống để xây dựng cầu tàu K15 ở Hải Phòng, đánh dấu cây số 0 của đường Hồ Chí Minh trên biển.
Từ đây, những con tàu Không số của Đoàn 125 Hải quân xuất phát ra biển khơi, vượt qua phong ba bão tố, vượt qua sự phong tỏa gắt gao và sự truy sát của tàu chiến và máy bay lực lượng Hải quân Mỹ, bí mật, bất ngờ vận chuyển vũ khí, hàng hóa đến 19 bến thuộc.
Sau sự kiện tàu 143 bị lộ ở Vũng Rô vào tháng 2-1965, con đường vận chuyển chiến lược đã không còn bí mật và chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của địch Trước áp lực an ninh gia tăng, đoàn tàu 795 buộc phải chuyển hướng hoạt động và sử dụng các đội tàu đi theo nhiều tuyến đường khác nhau để bảo đảm nguồn cung và sự liên tục của vận chuyển Sự điều chỉnh này cho thấy tính linh hoạt và khả năng thích nghi của lực lượng vận tải chiến lược trước sự giám sát chặt chẽ từ phía đối phương.
125 đề xuất được Quân ủy Trung ương nhất trí cho phép đưa tàu đi theo đường hàng hải quốc tế và sau đó đột nhập một cách bất ngờ vào các bến tiếp nhận dù gặp nhiều khó khăn; sau Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta Tết Mậu Thân 1968, địch kiểm soát gắt gao các vùng biển khiến Đoàn 125 phải tạm dừng vận chuyển Trước tình hình đó, bằng chính sách ngoại giao khôn khéo, ta tranh thủ sự giúp đỡ của Campuchia và chuyển hướng tổ chức vận chuyển bằng tàu biển quốc tế đưa hàng viện trợ quân sự vào cảng Xihanúcvin, rồi thuê tàu của quân đội Hoàng gia Campuchia tiếp tế cho chiến trường Nam Bộ và một phần cho chiến trường Tây Nguyên Đặc biệt, từ cuối năm 1970, sau khi tuyến đường vận chuyển qua cảng Xihanúcvin bị cắt đứt, Đoàn phải đi vòng qua nhiều vùng biển xa phía Đông Bắc Malaysia, vịnh Thái Lan và các khu vực khác Với ý chí và bản lĩnh kiên cường, cán bộ, chiến sĩ Đoàn tàu Không số vẫn tổ chức tìm mọi cách vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam: tham gia phục vụ đợt Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, phá thế phong tỏa của địch (1969–1972), tiếp tục vận chuyển bằng nhiều hình thức trên các tuyến đường biển miền Bắc và vận chuyển gián tiếp chi viện cho miền Nam qua Chiến dịch VT.5.
Ban đầu chỉ là những tàu nhỏ, thô sơ, dùng tàu giả dạng vận tải hoặc tàu đánh cá, đi dọc bờ biển, sau đó nhanh chóng phát triển thành hàng trăm tàu sắt trọng tải lớn hoạt động không chỉ ở vùng biển trong nước mà còn vươn ra hải phận quốc tế Những con tàu Không số chở vũ khí, trang bị, được ngụy trang khéo léo và thay đổi hợp pháp, bất hợp pháp; phương thức vận chuyển ngày càng linh hoạt: khi biển xa, khi biển gần, nhờ lợi dụng địa hình, thuỷ triều và thời tiết Đoàn tàu xuất phát từ nhiều bến đi (kể cả ở nước ngoài) và cập nhiều bến đến; đi trên nhiều tuyến đường khác nhau, có giai đoạn vòng ra biển xa, vùng biển quốc tế; địch phong tỏa đường trong ta đi đường ngoài, ngăn chặn đường dài ta đi phân đoạn; địch bám đuôi, ta đi thẳng ra vùng biển quốc tế; khi bị phát hiện, ta đối phó quyết liệt, có lúc phải phá hủy tàu và hàng để giữ bí mật nhiệm vụ và con đường Việc triển khai các tuyến đường vận tải trên biển linh hoạt giúp vượt qua những phòng tuyến nghiêm ngặt của kẻ thù, cung cấp kịp thời vũ khí, trang bị cho tuyến lửa miền Nam Đường Hồ Chí Minh trên biển đã khẳng định tầm nhìn, bản lĩnh và tài thao lược của Đảng, ý chí và khát vọng độc lập, tự do và thống nhất đất nước, dựa vào sức mạnh của nhân dân để vượt qua mọi khó khăn, từng bước đánh bại các âm mưu của kẻ thù và hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam trong thời điểm ác liệt nhất.
1.3.4 Các căn cứ, bến bãi:
K15 (Vạn Xét) mở lần đầu tại hai thôn Vạn Hoa và Vạn Sơn (Đồ Sơn, Hải Phòng), do Trung đoàn công binh 83 xây dựng Ngày 15 tháng 5 năm 1964, cầu tàu K15 bắt đầu hoạt động Mặc dù ra đời sau tuyến vận tải quân sự bí mật trên biển từ Quảng Bình vào miền Nam và các chuyến tàu từ miền Nam ra miền Bắc nhận vũ khí và trở lại miền Nam, lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam coi K15 như “Cột km số 0” của các tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển Cảng K15 đánh dấu bước chuyển biến lớn của Đường Hồ Chí Minh trên biển khi tàu sắt được đưa vào sử dụng, thay thế dần cho tàu gỗ kém an toàn Trong quá trình hoạt động, cảng K15 đã tổ chức xếp hàng và xuất phát cho 88 chuyến vận tải quân sự trên biển, với 4.919 tấn vũ khí đạn dược và hàng nghìn tấn hàng hóa khác.
Sa Huỳnh là một làng chài cổ nằm bên bờ biển nổi tiếng ở miền Trung Việt Nam, nơi nghề đánh cá từ lâu đời đã hình thành nên nhịp sống và bản sắc địa phương Đây cũng là một bãi biển thu hút du khách với vẻ đẹp hoang sơ, sóng biển và bãi cát dài, được xem là một phần quan trọng của vùng ven biển Quảng Ngãi Trong quá trình hoạt động của ngư dân, nghề thủy sản đã phát triển thành một nền kinh tế địa phương và một di sản văn hóa có tính liên tục qua nhiều thế hệ Du khách đến Sa Huỳnh có thể trải nghiệm cuộc sống làng chài, tham gia hoạt động đánh bắt cá theo nhịp ngày và thưởng thức hải sản tươi ngon, đồng thời khám phá những giá trị lịch sử và phong cảnh biển của miền Trung.
Đường Hồ Chí Minh trên biển là mạng lưới vận chuyển chiến lược từ miền Bắc vào miền Nam thời kỳ kháng chiến, đảm bảo tiếp tế cho chiến trường Khu V Trong hệ thống này, Sa Huỳnh là một trong những bến bãi tiếp nhận vũ khí, đạn dược và hàng hóa do các chuyến tàu không số chở từ miền Bắc gửi vào cho Quân giải phóng miền Nam ở chiến trường Khu V.
Quy Thiện, thuộc xã Phổ Hiệp, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, là một trong những bến đỗ dự phòng của các chuyến tàu không số Nơi đây được dùng khi tàu bị hỏng và là điểm trú tránh an toàn trong bão lớn hoặc khi gặp sự vây ráp của hải quân Việt Nam Cộng hòa.
Lộ Diêu là một bến cảng nằm trên địa bàn Hoài Hải, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Bến bắt đầu hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1964, khi đón tàu đầu tiên chở hàng chục tấn vũ khí xuất phát từ Hòn Dấu, Hải Phòng đi vào Lộ Diêu được chọn làm bến trung chuyển vũ khí, đạn dược và hàng hóa do các tàu không số chở từ miền Bắc vào chiến trường khu V.
Vai trò của đường Hồ Chí Minh trên biển trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam
Đường Hồ Chí Minh trên biển là tuyến vận chuyển biển chiến lược, thể hiện nhãn quan nhạy bén, tài tình của Đảng ta và Bác Hồ
Có thể nói, quá trình hoạch định đường lối kháng chiến do Đảng lãnh đạo, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự quan tâm và chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhằm tổ chức chi viện chiến trường một cách lâu dài và toàn diện Vào đầu năm 1961, Thường trực Quân ủy Trung ương nhận định phong trào cách mạng ở miền Nam đã bước vào một giai đoạn mới, gay go và quyết liệt; muốn đẩy mạnh cách mạng miền Nam tiến lên và giành thắng lợi quyết định, miền Bắc phải kiên quyết chi viện cho miền Nam nhưng vẫn giữ vững hòa bình ở miền Bắc Đảng xác định rõ nhiệm vụ chi viện chiến lược cho cuộc đấu tranh của quân và dân ở miền Nam là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quyết định thành bại của chiến tranh Sau Hội nghị Trung ương 15, đường lối cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo mở tuyến đường Trường Sơn chi viện miền Nam (Đoàn 559, 5-1959) và không lâu sau đó mở đường biển (7-1959) Đồng thời với việc vận chuyển vũ khí vào Nam Bộ, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Hải quân nghiên cứu vận chuyển vũ khí bằng đường biển vào Nam Trung Bộ — một chiến trường có vị trí chiến lược quan trọng Vận chuyển bằng đường biển vào Nam Trung Bộ tuy ngắn hơn đường trên nhưng gặp nhiều khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là tìm địa điểm tổ chức bến bãi; địa hình ven biển Nam Trung Bộ trống trải, độ dốc lớn, không có nhiều kênh rạch và rừng ngập mặn như ở Nam Bộ, các cửa sông lại nằm dọc theo Quốc lộ 1 nên địch tổ chức tuần phòng gắt gao.
Những liên kết và chuyển tải sức mạnh của hậu phương được thực hiện hiệu quả qua con đường chi viện trên biển, nhất là khi tuyến đường Trường Sơn chưa thể vươn tới những chiến trường xa hậu phương, sâu trong vùng địch tạm chiếm Qua tuyến vận tải biển, hậu phương lớn miền Bắc đã kịp thời cung cấp vũ khí, đạn dược và một số mặt hàng thiết yếu cho chiến trường miền Nam Từ tháng 10-1962 đến tháng 2-1965, ta đã dùng 3 tàu vỏ gỗ, 17 tàu vỏ sắt tổ chức 88 chuyến tới đích, vận chuyển được 4.919,636 tấn vũ khí và mặt hàng thiết yếu (Cà Mau, Bạc Liêu 45 chuyến, Bến Tre 23 chuyến, Trà Vinh 12 chuyến, Bà Rịa 3 chuyến, Vũng Rô 4 chuyến, Bình Định 1 chuyến), đạt 93% kế hoạch và vượt chỉ tiêu Trung ương giao; riêng hai năm 1962 và 1964, tỷ lệ chuyến thành công đạt 100% (57/57) Được trang bị vũ khí, kỹ thuật quân sự tương đối đầy đủ, năm 1964, Quân giải phóng mở chiến dịch Bình Giã; năm 1965, mở chiến dịch Đồng Xoài và Ba Gia đánh bại hoàn toàn “chiến lược chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ Từ 1973 đến 1975, tuyến chi viện chiến lược bằng đường biển đã dốc toàn bộ lực lượng và phương tiện, với hàng ngàn lượt tàu chuyển vũ khí và vật chất các loại vào các chiến trường Đặc biệt trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đã sử dụng 140 lượt tàu, vận chuyển 6.282 tấn vũ khí và vật chất khác, cùng hàng ngàn lượt cán bộ chiến sĩ tăng cường cho chiến trường Nam Bộ và Khu 5, đồng thời cơ động bộ đội đặc công chiến đấu giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, Cù Lao Thu, các đảo phía Nam và Tây Nam của Tổ quốc Theo số liệu Quân chủng Hải quân công bố, tính chung trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, tuyến chi viện chiến lược - Đường Hồ Chí Minh trên biển đã trực tiếp và gián tiếp vận chuyển hơn 96.000 tấn vũ khí đạn dược và các vật chất khác cùng hơn 170.000 lượt cán bộ chiến sĩ chi viện cho chiến trường miền Nam; con số ấy, dù so với Đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ có quy mô ít hơn nhưng mang ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt, và cho thấy rằng cùng với Đường mòn trên bộ, Đường Hồ Chí Minh trên biển đã hình thành một hệ thống chi viện chiến lược của đất nước.
Hồ Chí Minh trên biển là một sáng tạo chiến lược của Đảng và là kỳ công của dân tộc Việt Nam, có vai trò to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đồng thời, nó cho thấy Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm bắt đúng xu thế phát triển của cuộc kháng chiến, chủ động, tích cực chuẩn bị thời cơ và lực lượng, mở ra bước phát triển mạnh mẽ, bền vững cho cuộc cách mạng Con đường chi viện trên biển đã có những đóng góp thiết thực trong quá trình ấy, khẳng định sự linh hoạt và hiệu quả của chiến lược cách mạng ở giai đoạn đấu tranh quyết định.
Quyết định đúng đắn, sáng tạo và táo bạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở con đường vận tải quân sự chiến lược chi viện cho miền Nam trên hướng biển, thể hiện nhãn quan nhạy bén và tài tình của Đảng ta và Người Sự kiện này đáp ứng khát vọng cháy bỏng và quyết tâm sắt đá giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Qua đó, ta thấy rõ vai trò lãnh đạo và sức mạnh đoàn kết trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước.
Đường Hồ Chí Minh trên biển góp phần kết nối giữa hậu phương miền Bắc và tiền tuyến VN có vai trò quan trong trong chi viện sức người, sức của cho chiến trường VN
Xây dựng hậu phương chiến lược miền Bắc vững mạnh là nền tảng quyết định cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam và cho sự nghiệp thống nhất đất nước; Đảng xác định miền Bắc phải trở thành "nền gốc" của sự nghiệp giải phóng miền Nam, đồng thời làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa hậu phương và tiền tuyến, cũng như tính chất và nhiệm vụ của từng miền trong mục tiêu chung Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) nhấn mạnh miền Bắc có vai trò quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp giải phóng miền Nam, còn miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong việc lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai; xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng là xây dựng hậu phương cho sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước Dựa trên nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của mỗi miền, Đảng đã hình thành chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp để xây dựng, củng cố hậu phương lớn miền Bắc, gắn mọi hoạt động của hậu phương với tiền tuyến lớn miền Nam và làm tròn nghĩa vụ của hậu phương - căn cứ địa cách mạng của cả nước.
Thực hiện chủ trương của Đảng, Bộ Chính trị giao cho Quân ủy Trung ương mở đường vận chuyển chiến lược trên bộ dọc theo dãy Trường Sơn và đường vận tải trên biển, nhằm chi viện sức người, sức của cho miền Nam Con đường biển đánh dấu sự hình thành của tuyến vận tải chiến lược này với chuyến tàu đầu tiên chở 30 tấn vũ khí của Đoàn 759 rời bến Đồ Sơn, Hải Phòng, mở đường cho việc tiếp tế và chi viện cho chiến trường miền Nam.
Chuyến tàu chở vũ khí đầu tiên bằng đường biển từ Hải Phòng đến Cà Mau ngày 19 tháng 10 năm 1962 cho thấy quyết định mở đường vận chuyển chiến lược trên biển của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương là đúng đắn, được Hồ Chí Minh biểu dương và căn dặn Đoàn 759 rút kinh nghiệm và vận chuyển nhanh, nhiều vũ khí cho đồng bào miền Nam và để Nam - Bắc sum họp một nhà Từ đó, đường Hồ Chí Minh trên biển duy trì việc chi viện chiến lược giữa miền Bắc và miền Nam, dù trải qua gian khổ, nhưng kết nối chặt chẽ và phối hợp nhịp nhàng giữa tiền tuyến và hậu phương, thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc vì giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Đường Hồ Chí Minh trên biển giúp vận chuyển nhanh hơn, đưa vũ khí trang bị đồng bộ và các loại hàng “đặc biệt” như vũ khí, thiết bị y tế quý hiếm, hóa chất đặc biệt chỉ trong 5–6 ngày tới chiến trường Tây Nam Bộ, bất chấp những khó khăn và nguy hiểm Đồng thời, tuyến đường này đã đón nhận và đưa đi hàng trăm cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội và các chuyên gia đầu ngành, như Lê Đức Anh (đi Tàu 55 năm 1964 vào Nam Bộ và đi tàu 159.TT của Đoàn 371 ra miền Bắc tháng 11-1973), Võ Văn Kiệt (đi Tàu 159.TT vào Nam).
Bộ tháng 10-1973), Nguyễn Thiện Thành (đi Tàu 69 năm 1964), Nguyễn Thế Bôn (đi Tàu
Trong giai đoạn từ tháng 10-1962 đến tháng 2-1965, với 88 chuyến tàu, mỗi tàu có từ 10-20 cán bộ chiến sĩ, tỷ lệ đến đích đạt 93% (vượt mức cho phép 50%), tuyến chi viện chiến lược trên biển đã đưa tới các chiến trường 4.919,636 tấn vũ khí và hàng thiết yếu Với khối lượng đó, nếu dùng người gùi thồ, mỗi người gùi 25 kg thì phải huy động tới 196.785 người liên tục trong 6 tháng khi đường sá bị địch đánh phá ngăn chặn; mỗi người mỗi tháng dùng 21 kg gạo, 6 tháng 126 kg, tổng gạo cần tới 24.794.910 kg (chưa kể các nhu yếu phẩm khác và tổn thất dọc đường) Còn nếu dùng ô tô, trung bình 1 xe chở được 2,5 tấn thì phải huy động 1.968 xe đi trong 2 tháng, tiêu thụ khoảng 4.000 tấn xăng dầu, chưa kể các chi phí bảo đảm khác và tổn thất dọc đường Trong mùa vận chuyển 1970-1971, tuyến Trường Sơn bị tổn thất 2.842 xe (44,3%); mùa vận chuyển 1971-1972 bị tổn thất 4.228 xe, chiếm 50,7% số xe được trang bị Để có những phương tiện vận chuyển tốt hơn đi trong mọi thời tiết, Quân uỷ Trung ương chủ trương nhanh chóng đầu tư, trang bị cho Đoàn 759 loại tàu vỏ sắt trọng tải từ 50 tấn đến 100 tấn.
Tư lệnh đề nghị Xưởng đóng tàu III (Hải Phòng) thuộc Bộ Giao thông vận tải đảm nhiệm việc đóng tàu vỏ sắt.
Ngày 17/3/1963, tàu vỏ sắt đầu tiên do đồng chí Đinh Đạt làm thuyền trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Tiến làm chính trị viên đã chở 44 tấn vũ khí vào bến Trà Vinh an toàn Đây là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển trong hoạt động vận chuyển vũ khí và củng cố lực lượng tại Trà Vinh.
Xưởng đóng tàu III (Hải Phòng) tiếp tục hạ thủy tàu thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm và tàu thứ sáu, mở ra chuỗi tàu chiến vận chuyển liên tục với hàng hóa và vũ khí bí mật cho chiến trường miền Nam trong năm 1963 Nhờ đó, Đoàn 759 tổ chức nhiều chuyến chở hàng hóa và vũ khí lặng lẽ, bí mật, nối tiếp nhau rời bến rồi cập bến chi viện cho miền Nam Mỗi chuyến ra khơi là một thử thách đầy khó khăn, gian khổ và hiểm nguy đối với cán bộ, chiến sĩ, vừa vượt sóng gió vừa đấu trí với kẻ thù Trong Đoàn, không tàu nào biết tàu nào; trước khi lên đường, cán bộ, chiến sĩ không tiếp xúc bạn bè, người thân Nhờ tổ chức tốt, kỷ luật nghiêm, ý thức trách nhiệm cao, tinh thần vững vàng và trình độ chuyên môn giỏi, những chuyến đi của Đoàn 759 đều hoàn thành tốt nhiệm vụ và giữ được bí mật.
Chỉ trong vòng 1 năm, Đoàn 759 đã thực hiện 29 chuyến hàng vào Nam
Đêm 26/9/1963, tàu gỗ số hiệu 41 do thuyền trưởng Lê Văn Một và chính trị viên Đặng Văn Thanh chỉ huy cùng 11 thuy thủ chở 18 tấn vũ khí xuất phát từ cảng Bính Động (Hải Phòng), vượt qua mưa bão để né tàu tuần tiễu địch và vào bến tại khu vực đảo Phú Quý Khi đang vào bến, liên lạc bị gián đoạn, tàu mắc cạn gần đồn Phước Hải và ban phụ trách bến yêu cầu phá tàu để bảo đảm bí mật, nhưng cán bộ, chiến sĩ tàu 41 quyết tâm không phá tàu, phối hợp với lực lượng ở bến nhanh chóng dỡ vũ khí lên bờ Ngày hôm sau, Bí thư chi bộ Đặng Văn Thanh và thợ máy Huỳnh Văn Sao ở lại giữ tàu, bình tĩnh, mưu trí và gan dạ xử lý tình huống nhằm bảo toàn bí mật cho chuyến mở bến chi viện vũ khí cho Khu VII và chiến trường miền Nam.
Với thành tích vận chuyển vũ khí cho chiến trường, tháng 9-1963, Đoàn
759 được Quốc hội, Chính phủ tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai; Tàu 41 được tặng Huân chương Quân công hạng Nhất; Tàu 43, 54, 55, 56 được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất; Tàu 42, 67, 68 được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì Tháng 8-1963, Quân uỷ Trung ương quyết định giao Đoàn 759 trực thuộc Quân chủng Hải quân Ngày 29/1/1964, Bộ Quốc phòng quyết định đổi phiên hiệu Đoàn 759.
125 Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Đoàn 125 đã khẩn trương củng cố tổ chức và ổn định mọi mặt; đồng thời xây dựng lực lượng và đảm bảo vận chuyển, qua đó không ngừng trưởng thành và đạt được nhiều thành tích mới.
Tuyến chi viện chiến lược trên bộ được thành lập từ năm 1959 và ngay lập tức triển khai mở đường, gùi vũ khí vào chiến trường Những năm đầu, hoạt động gặp nhiều khó khăn do địch ngăn chặn quyết liệt và địa hình phía Đông Trường Sơn quá phức tạp, hiểm trở Chỉ sau khi mở đường sang phía Tây Trường Sơn mới có thể tiếp tục tăng cường chi viện và vượt qua những thách thức ban đầu.
Từ mùa khô 1964-1965, vận tải cơ giới qua 7 tỉnh, 17 huyện Lào anh em rồi vòng về Nam Tây Nguyên đã biến đường Trường Sơn thành tuyến vận tải cơ giới, động mạch chủ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của hai nước Việt – Lào; Đường Hồ Chí Minh trên biển sau khi khai thông (tàu Phương Đông 1, tháng 10-1962) cũng đã trở thành tuyến chi viện chiến lược, là tuyến chi viện chủ yếu cho chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đồng thời là tuyến chủ yếu vận chuyển, cơ động lực lượng giải phóng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc Trong vòng hai tháng, các tàu đã vận chuyển vào Nam 111 tấn vũ khí và cập bến ở Cà Mau cùng các địa điểm được chuẩn bị, vượt qua mọi thử thách ác liệt và sóng gió biển khơi, để Hải quân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiếp tế thời kỳ đầu cho cách mạng miền Nam, góp phần quan trọng tăng cường lực lượng vũ trang và mở rộng vùng giải phóng ở đồng bằng sông Cửu Long Nhờ những chuyến vũ khí kịp thời, quân và dân các tỉnh Nam Bộ đã phát triển lực lượng vũ trang, tạo được thế mới và đánh thắng nhiều trận, củng cố và mở rộng khu vực giải phóng; thành công của tuyến chi viện biển đã hình thành một thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp ở các vùng chiến lược Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đồng thời sự xuất hiện của vũ khí hiện đại đã làm thay đổi cách đánh và tương quan lực lượng giữa ta và địch.
Trong suốt cuộc kháng chiến, quân và dân ở hậu phương và tiền tuyến từ Bắc vào Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn nhận thức sâu sắc về vai trò của mình để xây dựng và chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng "chống Mỹ, cứu nước", bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Con đường Hồ Chí Minh trên biển qua những năm tháng ấy góp phần kết nối hậu phương lớn với tiền tuyến lớn Sự vững mạnh của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa và thắng lợi của công tác chi viện chiến trường là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn giúp đồng bào, chiến sĩ miền Nam vượt qua khó khăn và chiến đấu thắng kẻ thù xâm lược Sự phối hợp giữa quân và dân cả nước đã làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến, thành quả của nhiều nhân tố, trong đó yếu tố quyết định nhất là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình, đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh Đó còn là thắng lợi của sự đoàn kết, phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam, trở thành truyền thống quý báu của lực lượng vũ trang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện sự sáng tạo trong tổ chức, sử dụng các phương thức vận chuyển chi viện miền Nam
Vận tải đường biển đóng vai trò then chốt khi điều kiện phương tiện và trang thiết bị hạn chế, phải đối mặt với sóng to gió lớn của biển cả và sự ngăn chặn quyết liệt của đối phương có trang bị phương tiện chiến đấu hiện đại Đảng ta xác định nhiệm vụ vận tải chi viện cho miền Nam bằng đường biển là một nhiệm vụ chiến lược, có tính lâu dài Nhận thức sâu sắc vấn đề này và trên cơ sở nghiên cứu khả năng của phương tiện, lực lượng con người và kinh nghiệm rút ra từ chuyến thuyền từ Nam Bộ ra miền Bắc, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định tổ chức và sử dụng các loại tàu vận chuyển theo phương thức phù hợp, từ miền Bắc vận chuyển nhân lực và vật lực vào chiến trường Nam Bộ — nơi xa hậu phương nhất — rồi mở rộng ra chiến trường Khu 6 và Khu 5.
Về tổ chức, Bộ Quốc phòng thành lập Đoàn 759 (23-10-1961) trên cơ sở
Tiểu đoàn 603 (còn gọi là Tập đoàn đánh cá Sông Gianh), sau đó nâng quy mô và đổi tên thành Đoàn 125 (tương đương trung đoàn, 24-1-1964) Để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, Đoàn 125 được tăng cường nhiều thuyền trưởng, thủy thủ, nhân viên kỹ thuật đào tạo cơ bản, hầu hết là đảng viên, đoàn viên, có sức khỏe, khả năng chịu đựng sóng gió biển tốt và bản lĩnh cách mạng kiên cường, xử lý khôn khéo, táo bạo các tình huống để giành thắng lợi trong từng chuyến đi.
Về phương tiện, từ buổi ban đầu Đoàn 603 sử dụng thuyền gỗ, chạy bằng buồm, ta tiến lên tổ chức, xây dựng đội tàu gỗ gắn máy, sau đó là tàu sắt, nâng cao sức chở và tăng thêm về số lượng Những con tàu của ta được cải dạng thành tàu đánh cá với những đặc điểm giống với ngư dân miền Nam, hoặc tàu khai thác hải sản, thậm chí cả tàu buôn của nước ngoài Nhờ đó, những chuyến "tàu không số" của Hải quân tham gia vận chuyển vũ khí trên biển đã vượt qua các bãi đá ngầm, sóng gió hiểm nguy và sự ngăn chặn quyết liệt của kẻ thù, đưa hàng đến các bến ven biển Nam Bộ và Khu 5 an toàn.
Đường Hồ Chí Minh trên biển ra đời để bổ sung và hình thành hai tuyến vận tải chiến lược, tạo nên hệ thống giao thông chủ đạo kịp thời chi viện cho chiến trường Đường mòn trên bộ ra đời trong thời điểm khó khăn nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, và Đường Hồ Chí Minh trên biển được xem là phương pháp vận chuyển độc nhất vô nhị trong lịch sử chiến tranh thế giới Trong tình hình ác liệt ấy, ta kết hợp hoạt động bí mật và công khai; tàu có thể xuất phát từ nhiều bến, kể cả từ nước ngoài, và cập bến ở nhiều nơi, đi trên nhiều tuyến đường khác nhau, có thể ra biển xa và vùng biển quốc tế Địch phong tỏa một tuyến, ta chuyển sang tuyến khác; địch ngăn chặn đường dài, ta thích ứng để đi qua các đoạn và ra vùng biển quốc tế; khi địch phát hiện, áp sát, tấn công hoặc cướp tàu, ta phản công quyết liệt và, có lúc, giữ bí mật nhiệm vụ bằng cách bảo toàn tàu và hàng hóa Với tầm nhìn, bản lĩnh và sự sáng tạo của Đảng, cùng ý chí khát vọng độc lập của toàn dân, Đảng biết dựa vào sức mạnh to lớn của nhân dân kết hợp với Quân chủng Hải quân để nắm chắc tình hình, chuẩn bị huấn luyện sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh bại kẻ địch.
Chỉ có Đảng ta, Quân đội ta và nhân dân hai miền Nam Bắc, với lòng yêu nước và nghị lực phi thường, mới mở được đường mòn trên biển Nhìn lại lịch sử chiến tranh thế giới, chưa nơi nào có con đường vận tải chiến lược độc đáo như đường Hồ Chí Minh trên biển của Việt Nam Con đường ấy, cùng với đường Trường Sơn trên bộ, đã tô đẹp truyền thống kiên cường bất khuất của một dân tộc anh hùng.
Đường Hồ Chí Minh trên biển phát huy cao nhân tố con người với bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần chịu đựng gian khổ, mưu trí, dung cảm của thủy thủ “Đoàn tàu không số”: 24 PHẦN III: Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CON ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH
Những chiến tích vang dội của đường Hồ Chí Minh trên biển đã góp phần to lớn vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ của toàn dân tộc Thành công của tuyến đường huyết mạch này thể hiện vai trò của đường Hồ Chí Minh trên biển trong việc vận chuyển vũ khí, lương thực và lực lượng chiến đấu, đồng thời duy trì nhịp sống hậu phương và tinh thần kháng chiến của nhân dân Thành công ấy không thể kể hết nếu không nhắc đến công lao to lớn của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của Đoàn tàu, những người dũng cảm đã vượt qua muôn vàn khó khăn, hy sinh và cống hiến cho sự nghiệp cứu nước.
Không có bản lĩnh chính trị vững vàng thì khó thực hiện được nhiệm vụ gian khó đặt ra, nhất là ở giai đoạn đầu hình thành lực lượng vận tải quân sự đường biển và triển khai phương tiện, bến bãi Đó là quá trình tìm tòi, khảo nghiệm công việc và là thử thách ý chí của cả một tập thể, từ người chỉ huy đến thủy thủ, sự phối hợp ăn khớp giữa hậu phương và tiền tuyến Và không có tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sự mưu trí, dũng cảm hiếm có thì khó có thể thực hiện được cuộc vượt biển vào Nam đầy hiểm nguy, trên những con tàu nhỏ, thiết bị hạn chế, trước sự ngăn chặn gắt gao của quân thù đòi hỏi phải có tinh thần kiên cường và sẵn sàng hy sinh để giữ bí mật tuyến đường Đó là những con người can trường trong đội ngũ cán bộ, thủy thủ của Đoàn tàu không số trên tuyến vận tải quân sự Hồ Chí Minh trên biển, phần lớn quê ở miền Nam tập kết ra Bắc, một số là người làng biển, chịu đựng được sóng gió và có nhiều kinh nghiệm điều khiển tàu Mặc dù đã sớm có nhiều trải nghiệm làm việc trên biển, do yêu cầu nhiệm vụ và quy mô vận chuyển ngày càng phát triển, nên thành phần đội ngũ sĩ quan, thủy thủ, nhân viên hầu hết được đào tạo cơ bản, trở nên bản lĩnh kiên cường cách mạng, vừa có quyết tâm cao vừa có kinh nghiệm dày dặn Đây chính là những cán bộ, chiến sĩ vừa có tri thức, vừa có sức khỏe được đào tạo, rèn luyện, trưởng thành trong các cơ quan, đơn vị, nhà trường ở miền Bắc, trở thành nguồn nhân lực quan trọng đảm đương nhiệm vụ nặng nề mà Đảng và Nhân dân giao phó.
Trên những chuyến tàu không số, các cán bộ chỉ huy, thuyền trưởng, chính trị viên và thuyền phó đã thể hiện sự xử lý tài tình, mưu trí, điều khiển tàu tiếp tục hành trình vào Nam và ứng phó linh hoạt với mọi tình huống Những tấm gương tiêu biểu như Hồ Đắc Thạnh, Nguyễn Văn Cứng, Lê Văn Thêm, Đinh Đạt, Phạm Vạn, Lê Quốc Thành, Nguyễn Hữu Phước, Trần Ngọc Ẩn cho thấy trình độ hàng hải vững vàng và tinh thần dũng cảm, đưa nhiều chuyến tàu chở vũ khí cập bến an toàn dù phải vượt qua đá ngầm, sóng dữ và sự phong tỏa, đánh phá ác liệt của địch Trong số họ, nhiều cán bộ chiến sĩ đã hy sinh khi bảo vệ bí mật con đường và giữ vững biển khơi, để lại những gương nghĩa liệt như Đặng Văn Thanh, Nguyễn Phan Vinh, Nguyễn Văn Hiệu, Hồ Đức Thắng.
Thời đại Hồ Chí Minh đã hình thành nên con người Việt Nam, và chính những con người ấy đã viết nên trang sử hào hùng của thời đại Thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ và thành công của công cuộc chi viện chiến trường bằng Đường Hồ Chí Minh trên biển là biểu tượng sống động cho giá trị, phẩm chất và hào khí bất khuất của người Việt Đây là nhân tố trung tâm, quyết định sức mạnh phi thường của nhân dân Việt Nam.
Nam đương đầu và đánh thắng quân xâm lược Mỹ là niềm tự hào sâu sắc và nguồn cổ vũ lớn lao đối với cán bộ, chiến sĩ trên những con tàu không số của bộ đội Hải quân và Nhân dân cả nước Thành quả ấy thắp sáng ý chí kiên cường, tăng cường tinh thần đoàn kết và động viên toàn dân trước cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt với kẻ thù.
PHẦN III: Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CON ĐƯỜNG HỒ CHÍ
Ý nghĩa
3.1.1.1 Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Đảng ta đã xác định nhiệm vụ vận tải đường biển chi viện cho cách mạng miền Nam là nhiệm vụ chiến lược, có tính lâu dài.Tầm nhìn chiến lược của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc mở tuyến đường vận tải trên biển đúng thời cơ; quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc; phương pháp vận chuyển “độc nhất vô nhị” trong lịch sử chiến tranh thế giới Đường Hồ Chí Minh trên biển ra đời vào thời điểm khó khăn, gian khổ, ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Do vị trí chiến lược hết sức quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển, đế quốc Mỹ dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, với các loại vũ khí, thiết bị tối tân hiện đại nhất để đánh phá, hòng hủy diệt, ngăn chặn, cắt đứt tuyến đường tiếp viện của ta trên biển Đường Hồ Chí Minh trên biển đã làm cho đối phương kinh ngạc, bất ngờ và không thể tưởng tượng được về sự có mặt, quy mô, sự dũng cảm và tính sáng tạo của những con tàu và những con người tham gia
3.1.1.2 Đường Hồ Chí Minh trên biển góp phần chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước:
Thành công của các tuyến vận chuyển vũ khí đã trực tiếp thúc đẩy chiến tranh nhân dân và tạo đà cho sự hình thành, phát triển khối chủ lực ở chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ Hiệu quả của tuyến chi viện chiến lược biển đã hình thành một thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp trên các vùng chiến lược và địa bàn miền Nam Đáng kể là sự xuất hiện kịp thời của vũ khí tương đối hiện đại có tính năng chiến đấu cao, góp phần thay đổi cách đánh của quân và dân ta và làm cân bằng lực lượng giữa ta và địch Trong bối cảnh ấy, nhiều tờ báo ở Mỹ khẳng định: Cộng sản Bắc Việt có những đội thuyền viên lão luyện, có thể điều khiển tàu vượt mọi thời tiết và địa hình, vượt trội tàu thuyền của Việt Nam Cộng hòa hai mươi năm Đường biển trở thành huyết mạch vận chuyển, tăng cường sức mạnh và mở rộng thế trận chiến tranh nhân dân ở miền Nam.
Hồ Chí Minh trên biển bảo đảm một tuyến chi viện chiến lược nhanh hơn và kịp thời hơn cho lực lượng trên biển, với vũ khí và trang bị được đồng bộ hóa để phát huy hiệu quả cao Tuyến chi viện hải quân này có khả năng vận chuyển các loại hàng hóa thiết yếu một cách an toàn và liên tục, từ vũ khí, đạn dược đến vật tư kỹ thuật, qua đó tăng cường sức mạnh chiến thuật và duy trì sự ổn định của hoạt động trên biển.
3.1.1.3 Đường Hồ Chí Minh trên biển là biểu tượng sức mạnh của chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện lấy sức mình là chính:
Cuộc trường chinh chống Mỹ, cứu nước bắt đầu từ niềm tin sắt son vào sự nghiệp cách mạng do Đảng và Bác Hồ lựa chọn, trở thành vũ khí tinh thần có ý nghĩa quyết định trên các mặt trận Dưới đường lối kháng chiến đúng đắn, ý chí và nghị lực của mỗi con người, mỗi tập thể và mỗi lực lượng được phát huy tối đa, tạo thành sức mạnh tập thể vượt qua mọi thử thách Không có bản lĩnh chính trị vững vàng thì không thể thực hiện được nhiệm vụ gian khó đặt ra.
3.1.1.4 Đường Hồ Chí Minh trên biển là niềm tự hào của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân chủng Hải quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước:
Đường Hồ Chí Minh trên biển luôn gắn liền với hình ảnh các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của Đoàn tàu Không số, những người trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân Họ đã nêu cao ý chí quật cường, tinh thần mưu trí và sáng tạo, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao Trên những chuyến tàu không số, nhiều cán bộ chỉ huy, thuyền trưởng, chính trị viên và thuyền phó đã xử trí tình huống một cách tài tình, điều khiển con tàu giữ vững hành trình vào miền Nam và đối phó linh hoạt với các tình huống xảy ra.
Con đường vận tải biển mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tồn tại như một huyền thoại sáng ngời, là biểu tượng của sự anh hùng cách mạng và một thiên anh hùng ca bất tử Trong giai đoạn cách mạng mới, sự nghiệp của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta diễn ra giữa bối cảnh thế giới và khu vực biến động sâu rộng, vừa mở ra cơ hội vừa đặt ra những thách thức mới.
Toàn cầu hóa đang tác động mạnh mẽ lên bình diện quốc tế và đặt ra những yêu cầu khách quan đối với mỗi quốc gia Việt Nam cần phát huy giá trị của Đường Hồ Chí Minh trên biển như một động lực phát triển và đảm bảo an ninh quốc gia trong bối cảnh mới Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn quân, toàn dân sẽ kế tục, phát huy và hoàn thành xuất sắc hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
3.1.2 Ý nghĩa trong phát triển kinh tế - xã hội ngày nay
Hiện nay, Quân chủng Hải quân là lực lượng nòng cốt trực tiếp quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển và đường Hồ Chí Minh trên biển Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lực lượng Hải quân nhân dân tiếp tục phấn đấu để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Đoàn kết, phát huy truyền thống và vượt qua khó khăn, thử thách bằng mưu trí, sáng tạo, Hải quân đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển trong giai đoạn mới, hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước.
Đường Hồ Chí Minh trên biển là minh chứng sống động cho tầm quan trọng của chiến lược biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong bối cảnh toàn cầu các nước cạnh tranh khai thác nguồn lực biển, lực lượng vũ trang, đặc biệt là Hải Quân, phải đối mặt với nhiệm vụ ngày càng nặng nề và phức tạp Những chiến công và bài học từ đường Hồ Chí Minh trên biển sẽ tiếp tục được nhân lên và lan tỏa Đối với quân chủng Hải Quân, ngoài vai trò nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển đảo và thềm lục địa, Hải quân đã kết hợp an ninh – quốc phòng với phát triển kinh tế, tận dụng tối đa lợi thế của biển Trong những năm gần đây, Hải quân đi đầu trong phát triển một số lĩnh vực kinh tế biển, triệt để tận dụng mọi nguồn lực — con người, cơ sở vật chất, phương tiện hiện đại — đẩy mạnh lao động sản xuất và kinh doanh trong các ngành thế mạnh như dịch vụ cảng biển, vận tải biển, xây dựng các công trình biển, đồng thời phát triển vận tải biển nội địa và dịch vụ logistics, hình thành những điểm tựa quan trọng cho kinh tế biển ngày nay.
Hải quân tiếp tục đẩy mạnh hiện đại hóa các khu kinh tế quốc phòng trên biển để tăng cường bảo vệ chủ quyền và an ninh vùng biển, đồng thời tạo điều kiện cho người dân định cư và làm ăn lâu dài trên biển, nhất là tại các vùng biển xa Đồng thời, lực lượng này thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tìm kiếm, cứu hộ và cứu nạn tàu thuyền, hỗ trợ nhân dân khi bị thương, gặp nạn hoặc đối mặt với thiên tai trên biển.
Bài học kinh nghiệm
3.2.1 Bài học kinh nghiệm Đường Hồ Chí Minh trên biển là con đường vận chuyển trên biển nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam; con đường thể hiện của ý chí, khát vọng độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc của toàn dân tộc ta Tuyến đường với những con tàu không số đã gắn liền với tên tuổi, địa danh và biết bao chiến công hiển hách của các anh hùng, liệt sĩ, của quân và dân các địa phương, đặc biệt là Bộ đội Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH Sau bao nhiêu năm nhìn lại, chúng ta càng thấy sự thần kỳ của Đường Hồ Chí Minh trên biển và đã để lại nhiều bài học hết sức quý báu. Trước hết là bài học về xây dựng ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ Có thể khẳng định, không một hoạt động tác chiến nào mà giữa “cái sống, cái chết” lại mong manh như khi thực hiện nhiệm vụ trên các chuyến tàu của Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Chỉ những con người có ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc mới dám nhận và hoàn thành nhiệm vụ đầy khó khăn của Đoàn đặc biệt Vì thế, cấp ủy, chỉ huy Đoàn đặc biệt coi trọng xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội, chú trọng giáo dục lòng căm thù giặc và khát vọng được tham gia trực tiếp chiến đấu; sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc Trước và trong mỗi chuyến đi, lãnh đạo, chỉ huy tàu tổ chức quán triệt rõ nhiệm vụ, kế hoạch thực hiện, mục tiêu đạt được và cách ứng phó với địch; đồng thời động viên cán bộ, chiến sĩ chủ động khắc phục khó khăn, gian khổ và sẵn sàng chấp nhận hy sinh.
Đoàn cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của công việc, tự xây dựng ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ và chấp nhận mình có thể trở thành “cảm tử quân” trên mỗi chuyến đi Có nhiều tấm gương anh dũng, như Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cùng đồng đội trên Tàu 235 bị địch bao vây, đã khéo léo lái tàu luồn tránh, thả hàng xuống gần bờ cho dân quân ở bến mò vớt, rồi cho tàu bám theo giữ khoảng cách, hủy tàu và chiến đấu đến hơi thở cuối cùng Tàu 43, do Nguyễn Đắc Thắng làm thuyền trưởng và Trần Ngọc Tuấn làm Chính trị viên cùng 17 thuyền viên, khi bị 14 tàu địch vây đánh, thương vong nặng nề nhưng vẫn kiên cường chiến đấu, buộc địch tổn thất cả tàu lẫn máy bay và chỉ bỏ ý định bảo vệ tàu khi không còn khả năng, nhằm ngăn vũ khí lọt vào tay địch Trong suốt thời gian tồn tại Đường Hồ Chí Minh trên biển, dù kẻ thù lùng sục, dù mưa bão, biển động, nhiều tàu ra đi mãi mãi và nhiều đồng chí yên nghỉ nơi biển cả, nhưng với ý chí kiên cường bất khuất của người chiến sĩ cách mạng, đoàn tàu không số vẫn tiếp tục hành trình cho đến ngày Bắc - Nam thống nhất.
Bài học quan trọng là xuất phát từ thực tiễn và bám sát thực tiễn; đường Hồ Chí Minh trên biển ra đời và đi vào hoạt động là quyết định sáng suốt của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng nhằm viện trợ khẩn cấp sức người, sức của cho chiến trường miền Nam khi vận tải bộ còn nhiều khó khăn Ban đầu, Tiểu đoàn 603 được thành lập để tìm cách vận chuyển vũ khí và vật tư bằng đường biển, nhưng chuyến đi không thành và qua rút kinh nghiệm cho thấy dùng thuyền gỗ buồm sẽ gặp nhiều khó khăn, rủi ro và không an toàn, buộc Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng cho Tiểu đoàn 603 giải thể và tiếp tục nghiên cứu phương án chắc chắn hơn Khi những thuyền viên Nam Bộ vượt biển an toàn lên phía Bắc, Bộ Quốc phòng quyết định dùng họ làm nòng cốt để thành lập Đoàn 759, bởi họ là người thông thạo nghề biển, nắm rõ luồng lạch và các biện pháp tuần tra của địch; đồng thời, Xưởng đóng tàu III (Hải Phòng) được giao xúc tiến đóng các tàu sắt từ 50 đến 100 tấn.
Bạc Liêu cử đoàn đi trinh sát và mở đường từ Bắc vào Nam, thành công bước đầu và mở ra một tuyến vận chuyển chiến lược trên biển Quân ủy Trung ương đã thông qua nghị quyết mở đường vận chuyển chiến lược trên biển, đánh dấu bước ngoặt quan trọng cho công tác hậu cần và bố trí lực lượng Bắt đầu từ đây, đoàn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ trên tuyến biển, tăng cường cơ động, bảo đảm vận chuyển an toàn và thông suốt giữa các khu vực, đồng thời củng cố thế trận và sức mạnh chiến đấu trên các hướng.
759 bước vào một giai đoạn mới và đường biển nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam đã trở thành hiện thực.
Ba là bài học về công tác bảo vệ bí mật Trong hoạt động quân sự, yếu tố bí mật có thể quyết định thành bại của một trận đánh hoặc một chiến dịch; vì vậy, công tác bảo vệ bí mật đòi hỏi hệ thống quản lý thông tin chặt chẽ, phân cấp truy cập và các biện pháp bảo mật nghiêm ngặt cho mọi kênh liên lạc Đồng thời, đào tạo nhân sự, kiểm tra định kỳ và kế hoạch ứng phó sự cố rò rỉ thông tin là những yếu tố sống còn giúp hạn chế rủi ro và duy trì khả năng tác chiến Những bài học này nhấn mạnh sự kết hợp giữa văn hóa bảo mật và quy trình chuyên môn để bảo vệ nguồn tin nhạy cảm và đảm bảo hiệu quả của mọi chiến dịch.
Trong giai đoạn đầu, Đoàn 759 được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương để bảo đảm bí mật tuyệt đối; chỉ một số người của Quân ủy biết và Sở Chỉ huy của Đoàn đóng tại hang đá Thủy Nguyên, Hải Phòng để điều khiển các chuyến đi mà ngay cả chính quyền địa phương cũng không nắm được chi tiết Các thành viên tàu không được biết hoạt động của tàu khác; trước khi lên đường, cán bộ, chiến sĩ không được tiếp xúc bạn bè, người thân, phải gửi lại quần áo, tư trang, sổ sách, chứng minh thư và được cấp giấy tờ, căn cước giả, cùng với trang bị áo bà ba và vải sờn giống như dân đánh cá miền Nam Tàu không mang số hiệu, nên gọi là “tàu không số”; khi vào địa phận các tỉnh miền Trung, Nam Bộ sẽ gắn biển kiểm soát đúng với địa danh ở đó Các tàu được thiết kế hai đáy để ngụy trang, đáy dưới chứa vũ khí, đáy trên để lưới và các ngư cụ; ngay cả thợ đóng tàu cũng không rõ mục đích của cấu trúc đặc biệt này, và trên tàu còn có các con cá, mực ống giả để lừa máy bay trinh sát địch Để bảo đảm bí mật tuyệt đối, mỗi tàu còn được gắn một khối thuốc nổ đủ để phá tàu nếu bị địch phát hiện và bắt giữ Một khâu rất quan trọng là bố trí bến bãi an toàn, kín đáo và có thể giải tỏa hàng hóa nhanh; theo chỉ thị của Trung tướng Trần Văn Trà, các địa phương tích cực chọn bến và bố trí lực lượng bốc xếp nhằm bảo đảm an toàn, bí mật Ví dụ, tỉnh Bà Rịa lựa chọn bến Lộc An vì vừa gần Phước Hải – Vũng Tàu, vừa có địa hình phức tạp, rừng rậm dọc lưu vực sông ra biển, địch khó càn quét và ta dễ phòng thủ; đồng thời, thành lập Đoàn nhằm duy trì an toàn và bí mật.
1500 tương đương trung đoàn làm nhiệm vụ bảo vệ bến, tổ chức cất giấu phương tiện và vận chuyển hàng hóa vào bờ,…
Bài học mưu kế trong tác chiến nhấn mạnh cách xử trí khéo léo mọi tình huống để không đụng độ với địch và bảo đảm hàng đến nơi an toàn Trên mỗi chuyến đi, cán bộ, chiến sĩ trên tàu luôn dùng mưu kế và biện pháp ngụy trang để lừa địch Đoàn 759 phối hợp với Ban Thống nhất Trung ương và Tổng cục Hậu cần chuẩn bị đầy đủ lương thực, thực phẩm, dầu mỡ và giấy tờ giả làm ngư dân Nam Bộ; thuyền trưởng Bông Văn Dĩa trực tiếp kiểm tra tình trạng kỹ thuật tàu và nắm mật danh liên lạc Trên hành trình vào Nam, gặp tàu Mỹ ở vùng biển Nha Trang, thủy thủ cố gắng đóng vai ngư dân đánh cá bị gió đẩy ra xa bờ để tránh bị nghi ngờ Có nhiều chuyến được bố trí lúc gió mùa Đông Bắc hoặc nhiều sương mù nhằm né tàu tuần tiễu; có trường hợp tàu mắc cạn buộc phải ngụy trang hoặc hủy như tàu 401 ở bến Lộ Diêu (Bình Định) Sau sự kiện Vũng Rô, yếu tố bí mật của tuyến đường mất đi nên địch kiềm chế, Đoàn tích cực tìm đường đi mới xa bờ, vượt qua nhiều vùng biển lạ để tránh địch, và khi đối phương sơ hở thì tàu của ta sẽ táo bạo cập bến, nhanh chóng bốc dỡ và rời đi ngay.
Đường Hồ Chí Minh trên biển được xem là một huyền thoại, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy sáng tạo của Đảng ta Nó khẳng định ý chí sắt đá không kẻ thù nào có thể chia cắt hai miền Nam - Bắc và thể hiện niềm tin, khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do, thống nhất đất nước của nhân dân ta Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đường Hồ Chí Minh trên biển tiếp tục đóng vai trò then chốt, cổ vũ ý chí kiên cường và tinh thần đoàn kết dân tộc. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Những bài học từ Đường Hồ Chí Minh trên biển về tổ chức hoạt động vừa cổ vũ động viên, vừa là nguồn kinh nghiệm quý báu để giáo dục truyền thống và rèn luyện ý chí kiên cường cho toàn dân; từ đó, chúng ta tiếp tục xây dựng những con đường Hồ Chí Minh mới, phù hợp với tiến trình phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước.
3.2.2 Vận dụng kinh nghiệm trong thời đại mới
Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng nhằm xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức, kỷ luật sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách cho bộ đội; trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao Đồng thời coi trọng đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng theo hướng khoa học, sáng tạo và hiện đại; nâng cao hiệu quả các mô hình giáo dục truyền thống và pháp luật để mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, nhất là các chủ trương, định hướng lớn liên quan đến quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo; nắm bắt tình hình nhiệm vụ, đối tượng và đối tác; tin tưởng vào sức mạnh chiến đấu, cách đánh của ta và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của Quân đội, Quân chủng và đơn vị.
Phát huy nội lực, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu; chấp hành nghiêm các quyết định của cấp trên và duy trì tổ chức biên chế tinh gọn, mạnh; đổi mới và nâng cao chất lượng huấn luyện, đặc biệt là làm chủ vũ khí, trang bị hiện có và vũ khí trang bị kỹ thuật mới, kết hợp huấn luyện thể lực để bộ đội có sức khỏe dẻo dai, đủ khả năng hoạt động với cường độ cao và thời gian dài trên biển, đồng thời tăng cường huấn luyện hiệp đồng và đối kháng theo tình huống thực tế chiến trường; đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ nội địa và công nghệ tự chủ để hiện đại hóa, bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa vũ khí trang bị, nhất là các loại vũ khí khí tài đặc chủng do nước ngoài sản xuất, và bảo đảm kỹ thuật cho mọi nhiệm vụ của đơn vị; nâng cao chất lượng xây dựng tàu chính quy mẫu mực; chủ động, sáng tạo huy động mọi nguồn lực để xây dựng cảnh quan, môi trường và chăm sóc đời sống, sức khỏe bộ đội.
- Coi trọng xây dựng đoàn kết nội bộ, đoàn kết gắn bó máu thịt quân-dân. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ-Người chiến sĩ Hải quân” gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động với nhiều mô hình sáng tạo, phù hợp, sát thực tiễn Phối hợp với địa phương thực hiện tốt công tác dân vận trên địa bàn nơi đơn vị đóng quân và công tác; đẩy mạnh tuyên truyền biển đảo và tuyên truyền thu hút nguồn nhân lực; triển khai hiệu quả Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, chính sách hậu phương Quân đội, các chế độ, chính sách cho các đối tượng; xây dựng bầu không khí dân chủ, cởi mở, đoàn kết trong đơn vị; tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương.
- Tập trung xây dựng Đảng bộ Lữ đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng Đổi mới phong cách lãnh đạo; duy trì nghiêm nền nếp, nâng cao chất lượng sinh hoạt của các tổ chức đảng, nhất là sinh hoạt lãnh đạo; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, quy chế lãnh đạo các mặt công tác, xây dựng các cấp ủy, tổ chức Đảng TSVM tiêu biểu, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu cao Xây dựng tổ chức chỉ huy, đặc biệt là cán bộ chủ trì các cấp từ Lữ đoàn đến các ngành, tàu chiến đấu có năng lực chỉ huy, quản lí đơn vị, nhạy bén, sắc sảo trong xử trí các tình huống thực tiến đặt ra; đoàn kết, kỷ luật nghiêm, trách nhiệm cao; luôn nêu gương, mẫu mực, tâm huyết với đơn vị; chủ động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, kiên quyết thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, nhất là trong những điều kiện, hoàn cảnh khó khăn, phức tạp.
Những giá trị rút ra từ truyền thống và lịch sử vẻ vang của đường Hồ Chí Minh trên biển vẫn còn nguyên và cần được tiếp tục vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việc xây dựng cách đánh độc đáo của Hải quân nhân dân Việt Nam sẽ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo trước tình hình mới, đồng thời tăng cường sức mạnh quốc phòng và khẳng định quyết tâm bảo vệ An ninh biển quốc gia.