CHUYÊN ĐỀ DẠY TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ ĐỒ VẬT CHO HỌC SINH LỚP 4THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Người thực hiện: Trần Thị Hiền Dạy văn miêu tả là dạy cho học sinh kỹ năng thực hành vận dụ
Trang 1CHUYÊN ĐỀ DẠY TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ ĐỒ VẬT CHO HỌC SINH LỚP 4
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Người thực hiện: Trần Thị Hiền
Dạy văn miêu tả là dạy cho học sinh kỹ năng thực hành vận dụng hiểu biết tiếngViệt để viết bài văn miêu tả Mặc khác, văn miêu tả còn rèn luyện cho học sinh kĩ năngquan sát, kĩ năng sử dụng các giác quan tinh tế, nhạy cảm để tiếp nhận tri thức phong phú
từ cuộc sống Bài làm văn được gọi là đúng và hay không phải chỉ có những từ ngữ, nhữngcâu, những cách viết đoạn, viết bài đúng mà nó còn phải có sức “gợi ” lớn, nghĩa là nó cònmang tư cách một sản phẩm văn chương Những hình ảnh, những chi tiết được đưa vào bàiviết phải chân thực, sinh động, gợi cảm Quá trình làm bài, người viết không chỉ huy động
tư duy lôgic chặt chẽ của ngữ pháp văn bản mà bài văn còn là sự thể hiện nhận thức và cảmxúc chủ quan của người viết về đối tượng miêu tả
Trang 2Muốn có được điều đó, người viết phải qua một quá trình quan sát công phu tỉ mỉ.
Từ sự quan sát trực tiếp, các em mới có cơ sở để sáng tạo những cái mới, cái đẹp, mới hìnhthành được tác phẩm ở trong đầu Được tiếp xúc với thiên nhiên, với vạn vật, cỏ cây…bằng tấm lòng chân thành, đầy thiện chí sẽ làm cho các em thấy mọi điều ở hiện thựckhách quan đều rất đáng nhớ, đáng ngợi ca Quan trọng hơn là các em biết đánh giá và biếtthưởng thức cái đẹp vốn có đó của thế giới tự nhiên Bằng cách học, cách quan sát đốitượng, trí tuệ của các em ngày càng được mở mang hơn, tâm hồn các em giàu đẹp hơn.Nghĩa là các em sẽ biết tự làm giàu vốn sống cho mình nhờ học văn miêu tả Các em sẽ tựxây dựng cho mình một năng lực cảm thụ riêng, biết rung động trước cái hay, cái đẹp Các
em biết tự nhận thức về mình biết loại trừ cái xấu để vươn tới cái cao cả
Dạy văn phải làm sao cho trẻ biết tìm tòi, rèn luyện bộ óc thông minh, sáng tạo Phảilàm cho trẻ thấy được những cái hay cần phải thấy và phải giúp trẻ nhận ra được sự phongphú của thế giới đối tượng Từ những hiểu biết ấy, trẻ phải tự mình suy nghĩ chứ khôngphải bắt chước Cái quan trọng nhất của quá trình dạy học là phải rèn cho học sinh cóphương pháp suy nghĩ, phương pháp tìm tòi, sáng tạo và phương pháp vận dụng kiến thức
đã tiếp thu vào thực tế
Thực tế dạy – học ở tiểu học hiện nay, văn miêu tả vẫn chưa trở thành niềm vui pháthiện, sáng tạo đối với học sinh Bởi vốn từ của học sinh còn hạn chế, nhiều HS viết câu,đoạn văn còn lủng củng, nhiều em liệt kê các đối tượng chứ chưa “tả” về đối tượng đó,cách sắp xếp các ý còn tùy tiện, không theo trật tự phù hợp Bên cạnh đó không phải giáoviên nào cũng thực hiện được một giờ dạy Tập làm văn miêu tả sinh động, hấp dẫn, có sức
“gợi” lớn cho học sinh Nếu giáo viên chỉ hướng dẫn qua loa dưới dạng câu hỏi, học sinh
tự trả lời những câu hỏi đó và chắp lại thành một bài văn thì những bài văn đó có thể đúng
Trang 3thể loại, đủ ý nhưng khô khan, thiếu cảm xúc, chưa sinh động về đối tượng miêu tả hay tảcòn hồi hợt, bắt chước bài mẫu một cách máy móc, không tìm được cái mới, cái độc đáo từđối tượng miêu tả
Trong các dạng bài miêu tả được học ở Tiểu học, tả đồ vật là dạng bài được dạy đầutiên Nếu HS làm tốt bài văn miêu tả đồ vật thì việc học các dạng văn miêu tả sau sẽ dễdàng hơn rất nhiều
II CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH TẬP LÀM VĂN LỚP 4
Trong một năm học, số tiết học văn miêu tả là 30 tiết, tả đồ vật 10 tiết trong tổng số
62 tiết tập làm văn của cả năm học (học kì I 6 tiết, học kì II 4 tiết, không kể những tiết ôntập) Trong đó miêu tả đồ vật được dạy đầu tiên trong văn mêu tả Kiến thức được trang
bị cho học sinh bao gồm:
- Thế nào là miêu tả ?
- Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật
- Quan sát đồ vật
- Lập dàn ý cho bài văn miêu tả đồ vật
- Xây dựng đoạn văn ( các đoạn văn miêu tả đồ vật, đoạn mở bài, kết bài)
Các kiến thức trên được cụ thể hoá qua hai loại bài: Loại bài hình thành kiến thức( bài lí thuyết ) và loại bài luyện tập thực hành
III MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY VĂN TẢ ĐỒ VẬT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁTTRIỂN NĂNG LỰC
Trang 41 Nắm chắc đặc điểm tâm lý và đặc điểm nhận thức học sinh tiểu học để từ đó tìm ra hướng đi đúng
Tâm lý chung của học sinh tiểu học là hiếu động, tò mò, thích tìm hiểu, khám phánhững điều mới mẻ Trong con mắt trẻ thơ, với cái nhìn trong trẻo của mình thì sự vật hiệntượng nào trong cuộc sống cũng đầy bí ẩn Các em muốn tìm hiểu, khám phá: Tại sao cùngmột sự vật hôm nay thế nào, mai lại là thế khác ? Muốn trả lời được câu hỏi đó, trước hết,giáo viên cần giúp học sinh nhận thức được sự đa dạng, phong phú của các sự vật hiệntượng và sự sinh động của cuộc sống Từ đó hình thành và rèn luyện cho các em cách quansát, cách tư duy về đối tượng miêu tả một cách bao quát, toàn diện và cụ thể tức là quan sát
sự vật hiện tượng ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, từ đó các em sẽ có cách cảm,cách nghĩ sâu sắc hơn khi miêu tả
Mọi suy nghĩ của các em đều rất hồn nhiên, trong sáng Vì vậy, những gì gần gũi, dễhiểu bao nhiêu thì việc tiếp thu của các em càng nhanh chóng bấy nhiêu, Hơn nữa, nhậnthức của các em còn ở mức độ đơn giản nên giáo viên cần hướng để các em chọn đối tượngmiêu tả gần gũi, quen thuộc với cuộc sống hàng ngày Mỗi phát hiện dù nhỏ của HS cũngcần được trân trọng, khích lệ để HS dám nghĩ, dám nói ra những cảm nhận của mình
2, Giúp học sinh nắm đặc điểm, cấu tạo của kiểu bài miêu tả đồ vật
Biện pháp 1: Phân tích mẫu
Phân tích mẫu để giúp học sinh hiểu thấu đáo mẫu đã nêu ra và làm theo mẫu Đểlàm được điều này, giáo viên có thể sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học kết hợp tổchức nhiều hình thức dạy học phong phú Trong biện pháp này tôi thường sử dụng phươngpháp quan sát để học sinh quan sát mẫu, đọc thầm mẫu Sau đó sử dụng phương pháp vấn
Trang 5đáp gợi mở để học sinh hiểu mẫu giúp cho việc định hướng bài học tốt hơn Sau đó giáoviên sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ tóm lại những điều cơ bản mẫu nêu ra.
Với văn bản dài giáo viên cần tổ chức hướng dẫn hoạt động học tập hợp lý để họcsinh nhận diện nhanh nhất
* Ví dụ: Dạy bài ''Thế nào là miêu tả" ?
Bước 1: Học sinh đọc yêu cầu – Đọc thầm mẫu
Bước 2: Phân tích mẫu Em hãy quan sát mẫu và cho biết:
+ Tên sự vật đầu tiên được miêu tả là cây gì? ( cây sồi)
+ Cây sồi có đặc điểm gì nổi bật? ( cao lớn, lá đỏ chói lọi, lá rập rình lay động như những đốm lửa đỏ)
+ “Cao lớn” tả về đặc điểm gì của cây sồi? ( hình dáng)
+ “Lá đỏ chói lọi” miêu tả đặc điểm gì? ( màu sắc)
+ Theo em, tác giả miêu tả lá của cây sồi đang ở trạng thái nào?(chuyển động)
Bước 3 : Học sinh nhận xét và dựa theo mẫu làm tiếp các phần còn lại ( cặp đôi)
Bước 4: Học sinh chia sẻ kết quả trước lớp Giáo viên nhận xét
Cũng có những bài tập làm văn không có mẫu in sẵn trong sách giáo khoa, trong khidạy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cùng xây dựng mẫu, để các em có thể làm tốt ở cácphần còn lại
Biện pháp 2: Hình thành lý thuyết - tìm đặc điểm nổi bật
Ở các bài hình thành lý thuyết văn miêu tả đồ vật, giáo viên thường tiến hành hướngdẫn học sinh nhận diện đặc điểm loại văn bản miêu tả thông qua gợi ý, nhận xét trongSGK Các thao tác cần được thực hiện theo trình tự sau;
Trang 6- Yêu cầu học sinh đọc mục nhận xét trong SGK, khảo sát văn bản để trả lời từngcâu hỏi gợi ý.
- Hướng dẫn học sinh trao đổi, thảo luận, rút ra những nhận xét về đặc điểm vănmiêu tả đồ vật
* Ví dụ: Dạy bài “Cấu tạo bài văn tả đồ vật” (Tiếng Việt 4- tập I trang 143)
Hoạt động Nhận diện đặc điểm thể loại văn
* Bài 1: Đọc bài văn Cái cối tân và trả lời câu hỏi:
Giáo viên cho học sinh đọc văn bản
Yêu cầu HS thảo luận nhóm 4 các câu hỏi – Đại diện nhóm chia sẻ trước lớp:
- Bài văn tả cái gì? (Bài văn tả cái cối xay mới)
-Tìm các phần mở bài, kết bài Mỗi phần ấy nói điều gì?
( Phần mở bài Đoạn 1: Giới thiệu cái cối tân;
Phần kết bài: Đoạn 4: Sự gắn bó, tình cảm của bạn nhỏ với các đồ vật thân thuộc cũng như với cái cối)
- Các phần mở bài, kết bài đó giống với những cách mở bài, kết bài nào đã học?
(Mở bài trực tiếp, kết bài mở rộng trong văn kể chuyện)
- Phần thân bài tả cái cối theo trình tự như thế nào?
(Gọi ý: + Tác giả tả những bộ phận nào của cái cối xay?
+ Dựa vào vốn hiểu biết của mình, kết hợp quan sát hình ảnh minh họa đểxem cái cối xay được tả theo trình tự thế nào?)
(+ Tả hình dáng cái cối theo trình tự từ bộ phận lớn đến bộ phận nhỏ, từ ngoài vào trong, từ phần chính đến phần phụ;
+Tả công dụng của cái cối)
Trang 7GV nhận xét, chốt câu trả lời đúng của HS
Hỏi:
- Bài văn tả cái cối tân gồm mấy phần? Mỗi phần gồm những nội dung gì?
( Bài văn cái cối tân gồm 3 phần:
Mở bài: giới thiệu về cái cối tân.
Thân bài: Tả bao quát, tả các bộ phận có đặc điểm nổi bật, tả công dụng của cái cối)
Kết bài: Sự gắn bó, tình cảm của bạn nhỏ với các đồ vật thân thuộc cũng như với cái cối).
* Bài 2: Yêu cầu HS thảo luận cặp đôi câu hỏi:
- Khi tả một đồ vật, ta cần tả những gì? ( Khi cần tả một đồ vật, trước hết ta nên tả bao quát toàn bộ đồ vật rồi tả những bộ phận có đặc điểm nổi bật, kết hợp thể hiện tình cảm với đồ vật.)
( có thể gợi ý để HS tự tro đổi thêm: Bạn hiểu thế nào là các bộ phận nổi bật?)
Trang 8GV nhắc HS không nên tả mọi chi tết, mọi bộ phận như vậy bài văn sẽ lan man, dàidòng Cần tìm ra cái mới, cái riêng biệt của đồ vật với các đồ vật khác.
* Rút ra ghi nhớ:
- Giáo viên cho học sinh trả lời câu hỏi:
+ Bài văn tả đồ vật gồm những phần nào? Nêu nội dung chính của từng phần?
+ Trong bài văn tả đồ vật có những kiểu mở bài, kết bài nào?
+Trong phần thân bài của bài văn miêu tả đồ vật cần tả những gì?
- HS trả lời câu hỏi để rút ra bài học
3 Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát:
Bước đầu tiên để làm văn miêu tả là giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cáchquan sát Bất kì sự tưởng tượng dù phong phú đến đâu cũng đều bắt nguồn từ thực tế, gắnvới đời sống thực tế Và muốn có sự hiểu biết thực tế thì cần phải quan sát Những câu văn,bài văn miêu tả hay, có hồn và sinh động là những câu văn, bài văn của người biết quansát, có tài quan sát và chịu khó quan sát Chỉ cần quan sát kĩ, HS sẽ có thể thấy được rấtnhiều điều trong cuộc sống mà các em chưa bao giờ thấy hoặc chưa bao giờ để ý thấy Từnhững hiểu biết về quan sát như vậy, khi dạy học sinh về văn miêu tả đồ vật, giáo viên cầndạy các em cách quan sát, cách lựa chọn bộ phận của đồ vật quan sát để miêu tả
3.1 Hướng dẫn HS cách quan sát đồ vật :
- Quan sát tổng thể đồ vật ( nhìn bao quát);
- Quan sát từng bộ phận theo trình tự ( từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, từ đầu- mình- chân hoặc theo chiều ngược lại )
Trang 9- Lựa chọn điểm đặc trưng, đặc biệt, tiêu biểu, gây ấn tượng của đồ vật để quan sát thật kĩ.
- Quan sát bằng nhiều các giác quan thính giác, thị giác, xúc giác,…
- Quan sát và tìm ra những điểm giống và khác nhau với các đồ vật khác, nhất là những đồ vật cùng loại có ở xung quanh bằng sự liên tưởng hay quan sát trước đó
- Quan sát hoạt động (cách sử dụng đồ vật) và những tác động của đồ vật đến các sự vật xung quanh
- Ghi chép cẩn thận, đầy đủ khi quan sát
3.2 Lựa chọn hình ảnh miêu tả và nội dung miêu tả
- Căn cứ vào hình ảnh đã lựa chọn khi quan sát và nội dung đã ghi chép, chọn lọc những hình ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưng riêng, đẹp và khác biệt của đồ vật để miêu tả chi tiết
- Lựa chọn hình ảnh, hoạt động khác của đồ vật để tả khái quát, bổ trợ tạo nên hình ảnh tổng thể về đồ vật; có thể lồng ghép các hình ảnh, sự việc gắn bó mật thiết với đồ vật
3.3 Quan sát gắn liền với so sánh và tưởng tượng:
Tưởng tượng trong miêu tả rất quan trọng Có tưởng tượng mới có hình ảnh hoàn chỉnh
về đối tượng miêu tả Tưởng tượng giúp ta thấy được nét đặc sắc của đối tượng, thấy được những điểm tương đồng với đối tượng khác, thấy được mối quan hệ của đối tượng với sự vật hiện tượng xung quanh, với những kỉ niệm hay kí ức mang dấu ấn sâu sắc trong lòng người viết Từ tưởng tượng, học sinh sẽ cảm nhận được đối tượng miêu tả bằng tình cảm, tình yêu của chính mình, thấy được tầm quan trọng của đối tượng được tả đối với
chính mình và cả với những người xung quanh Miêu tả đồ vật gắn với tưởng tượng là mộtcách bộc lộ cảm xúc, tình cảm và khả năng cảm thụ cái đẹp của người viết văn miêu tả
Trang 10Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tưởng tượng theo cách:
- Tập trung tất cả các giác quan vào đối tượng
- Nhắm mắt, hình dung về đồ vật : hình ảnh, hoạt động của đồ vật, những ảnh hưởng,tác động của đồ vật đến sự vật xung quanh
- So sánh đồ vật được miêu tả với các đồ vật khác tương đồng
- Phân tích, đánh giá cái hay, cái đẹp có ở đồ vật
- Nhân hoá hay tự nhiên hoá một vài hình ảnh đặc sắc ở đồ vật
- Dự đoán trước khả năng và những điều tốt đẹp mà đồ vật có thể mang lại
- Liên tưởng với những điều mình đã biết; đã nghe, đọc, cảm nhận được về đồ vật
từ trước tới nay
- Ghi chép lại những gì mình đã tưởng tượng để lựa chọn, chắt lọc đưa vào bài viết của mình
*Ví dụ: Tuần 15(Tiết 30): Quan sát đồ vật.
Giáo viên cho học sinh quan sát ở nhà và ghi chép lại hoặc có thể dặn học sinh, mỗi
em mang một thứ đồ chơi em thích nhất tới lớp
Giáo viên hướng dẫn HS quan sát đồ vật bằng cách :
- Cho học sinh đọc gợi ý ở phần nhận xét 1 (SGK trang 153,154.)
- Học sinh quan sát đồ chơi mà em thích kết hợp ghi chép lại ý quan sát được ( bằngcác gạch đầu dòng hoặc sơ đồ tư duy)
- Quan sát theo trình tự:
+ Nhìn bao quát đồ chơi;
+ Quan sát từng bộ phận theo trình tự nhất định ( từ tên xuống dưới, từ ngoài vàotrong từ các bộ phận chính đén các bộ phận phụ hay từ bộ phận nổi bật, gây ấn tượng nhất
Trang 11đến các bộ phận khác ) và bằng nhiều giác quan: dùng mắt để xem hình dáng, kíchthước, màu sắc của đồ chơi; dùng tay để biết đồ vật đó mềm hay rắn, nhẵn nhịu hay sầnsùi, nặng hay nhẹ; dùng tai để nghe âm thanh đồ vật phát ra khi sử dụng,
+ Cố gắng tìm ra các đặc điểm riêng của đồ chơi, phân biệt nó với đồ chơi khác
HS làm cá nhân- chia sẻ với bạn cùng bàn- trước lớp:
Khi HS làm bài, giáo viên cần quan sát, nắm được khả năng quan sát của tường em để
có trợ giúp kịp thời, phát huy tối đa năng lực của từng học sinh
Ví dụ: HS quan sát con gấu bông:
- Hình dáng chú gấu thế nào? ( chú gấu to tròn, ôm vừa tay.)
Nâng cao hơn: Khi ôm gấu vào lòng em có cảm nhận gì? ( như thấy hơi ấm của mẹ, cảm nhận được bàn tây ấm áp của cha, )
- Bộ lông của con gấu bông có màu gì? Khi sờ vào bộ lông đó em có cảm giác thế
nào? ( Lông chú gấu màu tráng; Khi sờ tay vào có cảm giác êm ái )
Nâng cao hơn: Có thể so sánh màu sắc của chú gấu với những gì? Em có mong muốn ( suy
nghĩ) gì khi sờ vào bộ lông đó? (Chú ta có bộ lông trắng mịn và mượt như nhung, khi sờ
tay vào ta có cảm giác như đang sờ vào tấm vải lụa mềm và mát rượi )
.
Yêu cầu HS thảo luận cặp đôi câu hỏi:
- Theo bạn khi quan sát đồ vật cần chú ý những gì? ( Cần quan sát theo một trình tựhợp lí, bằng nhiều cách khác nhau ( mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, , cần chú ý đặc điểm phânbiệt đồ vật này với đồ vật khác)
- HS chia sẻ ý kiến trước lớp- GV kết luận
4 Hướng dẫn học sinh lập dàn ý cho đoạn văn hoặc bài văn:
Trang 12Các bước thực hiện:
Bước 1: Tìm hiểu đề ( HS cần đọc kĩ đề văn, phân tích đề)
Bước 2: TÌm ý ( quan sát đồ vật để chọn lọc ra các ý mà các em sẽ viết trong bài tậplàm văn
Bước 3: Lập dàn ý
Từ phần lập ý vừa viết, các em đặt câu hỏi chi tiết cho phần lập dàn ý của mình ( dựatheo cấu tạo của đoạn văn hay bài văn)
*Ví dụ: Tuần 15(Tiết 30): Quan sát đồ vật.
Sau khi học sinh quan sát và ghi chép lại những quan sát về đồ chơi, chọn lọc các ý Giáo viên cho học sinh lập dàn ý tả đồ chơi mà em đã chọn
Ví dụ về một dàn ý như sau:
1 Mở bài : Giới thiệu đồ chơi mà em thích nhất là gấu bông.
2 Thân bài: Hình dáng bên ngoài : Gấu bông không to,
gấu đang ngồi, dáng tròn
- Bộ lông màu trắng mịn như bông
- Hai mắt: Đen láy, rất thông minh
- Mũi nhỏ, màu đỏ mới ngộ nghĩnh
- Trên cổ: Thắt một cái nơ màu đỏ chói
- Tay, chân: đang đưa về phía trước như tập thể dục
3 Kết luận: Em rất yêu gấu bông, ôm gấu bông em rất thích.
* Từ dàn ý, học sinh phát triển mỗi ý thành đoạn văn có lồng cảm xúc
5 Hướng dẫn HS viết đoạn văn, văn bản ( tạo lập văn bản)
Để thực hiện tiến trình tạo lập văn bản, GV có thể thực hiện những bước sau :