1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) TIỂU LUẬN TRIẾT học đề tài cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả và quy luật lượng chất

17 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận Triết Học Đề Tài Cặp Phạm Trù Nguyên Nhân – Kết Quả Và Quy Luật Lượng Chất
Tác giả Ngô Thị Tú Như
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 223,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Bài tập lớn môn Triết học Mác Lê-nin” này sẽ đi sâu vào phân tích hai nội dung cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả và quy luật lượng - chất để phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu bộ m

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề tài: cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả

và quy luật lượng - chất

Họ và tên: NGÔ THỊ TÚ NHƯ

Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 61

Mã sinh viên: 11194018

SDT: 0866960201

Mail: ngothitunhuk54a2 @gmail.com

Hà Nội, tháng 10 năm 2019

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

A - CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 2

I Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả 2

1 Khái niệm phạm trù 2

2 Khái niệm cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả 2

3 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 2

4 Ý nghĩa phương pháp luận 3

5 Ví dụ 4

II Bài học vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân kết quả vào thực tiễn cuộc sống của em 5 1 Vận dụng vào cách sống của bản thân 5

2 Vận dụng vào học tập 5

3 Vận dụng vào xã hội 6

B - QUY LUẬT CHUYỂN HÓA TỪ NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI 6

I Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất và ngược lại 6 1 Khái niệm chất, lượng 7

2 Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng 8

3 Ý nghĩa phương pháp luận 9

II Ý nghĩa của “Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn tới những sự thay đổi về chất và ngược lại” đối với tạo động cơ học tập cho sinh viên 10

KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thực tế, các sự vật và hiện tượng luôn vận động và phát triển không ngừng Do vậy, để nắm bắt được các quy luật, mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động của các sự vật, hiện tượng trong xã hội, tự nhiên và tư duy, chúng ta cần một học thuyết để dễ dàng tiếp cận và nghiên cứu nó Học thuyết của Mác-Lênin đã đề cập đến các vấn đề này thông qua phép biện chứng duy vật Trong đó, các cặp phạm trù và những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật là hai trong số những nội dung quan trọng nhất “Bài tập lớn

môn Triết học Mác Lê-nin” này sẽ đi sâu vào phân tích hai nội dung cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả và quy luật lượng - chất để phục vụ cho việc học tập và nghiên

cứu bộ môn Triết học, giúp bản thân em nhìn nhận và thấu hiểu được cách các sự vật, hiện tượng vận động và phát triển, để từ đó rút ra những bài học vận dung vào thưc tiễn cuộc sống

Trong quá trình nghiên cứu và làm bài, em đã kế thừa nội dung của cuốn giáo trình

“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin” và tìm tòi thêm tài liệu trong sách

và trên các trang mạng uy tín

Sau một thời gian làm bài, em nhận thấy bài làm của mình đã hoàn thành một cách đầy

đủ những khía cạnh liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Tuy nhiên, do những hạn chế khách quan và chủ quan nên vẫn cần được chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện hơn nữa Em rất mong nhận được những lời góp ý từ giảng viên để chỉnh sửa bài làm một cách hoàn hảo nhất

Hà Nội, tháng 10, năm 2019.

Trang 4

A - CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG PHÉP BIỆN

CHỨNG DUY VẬT

I Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả

1 Khái niệm phạm trù

Trong quá trình suy nghĩ, con người thường xuyên phải sử dụng những khái niệm nhất định như “người”, “phản ứng”, “hệ tiêu hóa”, Những khái niệm đó là hình thức của tư duy để phản ảnh những thuộc tính quan trọng nhất của lớp sự vật, hiện tượng nhất định Tùy thuộc vào số lượng của sự vật, hiện tượng được phản ánh mà ta có các khái niệm rộng, hẹp khác nhau Trong đó, phạm trù là khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung và cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định

Tuy nhiên, khác với các phạm trù trong một lĩnh vực nhất định, những phạm trù của phép biện chứng duy vật như “vật chất”, “ý thức”, “vận động”, “đứng im”, “lượng”,

“chất” v.v là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy.

2 Khái niệm cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả

a) Phạm trù nguyên nhân

Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định

b) Phạm trù kết quả

Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng

3 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả.

Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính tất yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn tới kết quả nhất định và ngược lại không có kết quả nào không có nguyên nhân Nó tồn tại ngoài ý muốn của con người, không phụ thuộc vào việc ta có nhận thức được nó hay không Nó là mối liên hệ của bản thân sự vật

Trang 5

hiện tượng trong thế giới vật chất không do ai sáng tạo ra, con người chỉ có thể tìm ra mối liên hệ nhân - quả ấy trong giới tự nhiên khách quan, chứ không phải tạo ra nó từ trong đầu óc

Nội hàm của khái niệm nguyên nhân, kết quả đã trình bày ở trên đưa lại cho chúng ta nhận thức đầu tiên rất quan trọng Suy cho cùng, mỗi một sự tác động đều đưa lại một hệ quả nào đó, một kết quả nào đó, nhưng như vậy mọi tác động của bản thân nó đều chưa được xem xét như là những nguyên nhân Nguyên nhân chỉ là nguyên nhân trong mối quan hệ với kết quả Nếu không có kết quả thì cũng không gọi sự tác động đó là nguyên nhân Nguyên nhân sinh ra kết quả, do vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả và một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạo nên

Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một kết quả có thể diễn ra theo các hướng thuận, nghịch khác nhau và đều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quả, nhưng vị trí, vai trò của chúng là khác nhau: có nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài,… Ngược lại, một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, trong đó có kết quả chính và phụ, kết quả cơ bản và không cơ bản, trực tiếp và gián tiếp,…

Trong sự vận động của thế giới vật chất, không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng Ph.Ăngghen viết: “Chúng ta cũng thấy rằng nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định; nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong một mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới thì những khái niệm ấy lại vẫn gắn với nhau và xoắn xuýt với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại lẫn nhau một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị trí cho nhau; cái ở đây hoặc trong lúc này là nguyên nhân thì ở chỗ khác hoặc ở lúc khá lại là kết quả,

và ngược lại”

4 Ý nghĩa phương pháp luận.

Vì mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ có tính khách quan, tất yếu nên trong nhân thức

và thực tiễn không thể phủ nhận quan hệ nhân – quả Trong thế giới hiện thực không thể tồn tại những sự vật, hiện tượng hay quá trình biến đổi không có nguyên nhân và ngược lại không có nguyên nhân nào không dẫn tới những kết quả nhất định

Trang 6

Vì mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn

Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải có cách nhìn mang tính toàn diện và lịch sử - cụ thể trong phân tích, giải quyết và vận dụng quan hệ nhân quả Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực

5 Ví dụ

Theo ghi nhận của hệ thống quan trắc không khí AirVisual quốc tế, Hà Nội tiếp tục là thành phố ô nhiễm nhất thế giới với mức độ ô nhiễm vượt qua báo động đỏ, lên tới ngưỡng tím với chỉ số AQI là 272 vào sáng ngày 30/9/2019 Nguyên nhân của tình trạng

ô nhiễm này được xác định là do: khí xả thải từ phương tiện giao thông, từ các khu doanh nghiệp, tình trạng đun bếp củi, than tổ ong; khói bụi từ các khu vực sản xuất và tình trạng chuyển mùa, Trong đó, nguyên nhân khách quan là do thời tiết và biến đổi khí hậu dẫn đến tình trạng nghịch nhiệt Ngoài nguyên nhân khách quan, việc gia tăng các phương tiện cá nhân với lượng phát thải chưa kiểm soát được cũng khiến không khí trở nên ngột ngạt

Những nguyên nhân trên dẫn đến hậu quả ô nhiễm không khí Ô nhiễm không khí đồng thời trở thành nguyên nhân dẫn đến những hậu quả vô cùng nguy hiểm: Gây ảnh hưởng tai hại cho tất cả sinh vật, khói bụi với nồng độ dày đặc khi đi vào phổi có thể gây kích thích cơ học, xơ hóa phổi dẫn đến các bệnh về hô hấp, bệnh đường máu, tim mạch, đồng thời có khả năng gây ung thư nếu con người hít phải những loại bụi chứa thành phần độc hại, bụi amiang, ; đối với môi trường toàn cầu, ô nhiễm không khí sẽ gây nên những hiện tưởng nguy hiểm như mưa acid, hiệu ứng nhà kính, suy giảm tầng ozone và biến đổi nhiệt độ,

Từ ví dụ trên, ta có thể thấy rõ tính chất của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả là hoàn toàn mang tính tất yếu, khách quan và nguyên nhân có thể đổi vị trí cho kết quả Đồng thời, để giải quyết được tình trạng này, hay nói cách khác là để xử lý được kết quả thì cần có sự nhận thức đúng đắn về nguyên nhân, từ đó đưa ra những biện pháp phù hợp

Trang 7

II Bài học vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân kết quả vào thực tiễn cuộc sống

của em

“Gieo nhân nào, gặt quả nấy” Nắm được mối quan hệ biện chứng giữa cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù này, em đã rút ra một số bài học để bản thân có thể vận dụng vào học tập và cuộc sống

1 Vận dụng vào cách sống của bản thân

Kiên nhẫn và kiên định – 2 chìa khóa đưa mỗi người đến với thành công Thật vậy, niềm vui chỉ thật sự xuất hiện khi ta toàn tâm toàn ý làm việc mình muốn và biết rằng kết quả sẽ đến vào lúc phù hợp nhất Bởi mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả mang tính tất yếu nên chỉ cần hết lòng trong học tập và làm việc thì bản thân sẽ nhận lại được những kết quả xứng đáng

Trong gia đình người Việt, các ông bố bà mẹ thường theo sát và chăm sóc con cái dù ở bất kỳ lứa tuổi nào, thậm chí đến khi “trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng” vẫn chưa hết những sự bao bọc đó Điều này phần lớn xuất phát từ tình yêu thương của bố mẹ dành cho con cái, tuy nhiên, đó cũng là một sai lầm khiến các bạn trẻ ỷ lại vào bố mẹ, không chủ động, tự lập cho cuộc sống cá nhân của mình Đối với những sinh viên năm nhất lên

thành phố trọ học thì đây chính là cơ hội đầu tiên để trải nghiệm cuộc sống tự lập, bản

thân mỗi người nên chủ động tìm hiểu và lên kế hoạch cụ thể cho cuộc sống của riêng mình Tìm hiểu về ngành học, cơ hội việc làm, tự trang bị và trau dồi kiến thức cũng như định hướng những hướng đi rõ ràng cho bản thân là những điều vô cùng cần thiết mà một sinh viên cần làm ngay từ những ngày đầu bước chân vào cánh cổng đại học

Bên cạnh đó, bản thân mỗi người luôn phải chú ý phát hiện và phát huy tất cả khả năng, sở trường của mình, đặt mục tiêu gần với sở trường đó để hoàn thành nó một cách tốt nhất Theo thống kê của Mỹ, 85% thành công của con người được quyết định bởi kỹ năng và thái độ Trong đó, thái độ học tập và làm việc là yếu tố quan trọng nhất Vậy nên mỗi người cần tích cực trau dồi cho bản thân những kỹ năng mềm để sẵn sàng đối mặt với cuộc sống hoàn toàn mới

2 Vận dụng vào học tập.

Là một sinh viên năm nhất còn nhiều bỡ ngỡ với cuộc sống trên giảng đường đại học,

em cần chuẩn bị cho mình một cách tích cực những điều kiện còn thiếu để tiếp cận môn

Trang 8

học như: đọc trước giáo trình, nghiên cứu tài liệu có liên quan, Sự chuẩn bị này sẽ có hiệu quả hơn khi đi cùng với nó là sự chuẩn bị về mặt tâm thế để có thể tiếp cận tri thức một cách chủ động sáng tạo Cùng với sự chuẩn bị này, sinh viên có thể chủ động tự đặt cho mình một số câu hỏi có liên quan đến nội dung được học trên lớp Với cách chuẩn bị

đó, tri thức mà sinh viên có được không phải là tri thức được truyền đạt một chiều từ người dạy mà còn do chính sinh viên tự tạo ra Bản thân mà một sinh viên năm nhất còn thiếu kiến thức, kinh nghiệm và còn cần rèn giũa mình ở nhiều khía cạnh khác nhau, bản thân em cần có thái độ học tập một cách nghiêm túc, không chỉ tập trung học những kiến thức trên trường mà còn học thêm ngoại ngữ, chứng chỉ tin học, tham gia các khóa học

kỹ năng mềm Chính những kiến thức và kỹ năng mà em tích lũy được trong quãng thời gian 4 năm đại học chính là nguyên nhân dẫn em đến với những kết quả học tập tốt và cơ hội nghề nghiệp sau này, đó chính là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa tương lai tươi sáng

3 Vận dụng vào xã hội

Bên cạnh tích lũy kiến thức thì một người trẻ như em cũng cần dành thời gian để trải nghiệm, khám phá thế giới bên ngoài nhà trường bằng việc tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động tình nguyện và tìm một công việc làm thêm Qua các công việc này, bản thân em sẽ có cơ hội va chạm, tiếp xúc thực tế với xã hội ngoài kia, từ đó mở rộng mối quan hệ, cải thiện kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý thời gian và vô vàn kỹ năng quan trọng khác

B - QUY LUẬT CHUYỂN HÓA TỪ NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG

THÀNH NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI

I Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất và

ngược lại

Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Theo quy luật này, phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển là: những sự thay đổi về chất của sự vật hiện tượng có cơ

sở tất yếu từ những sự thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng và ngược lại, những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng lại tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng trên các phương diện khác nhau Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến, lặp đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thuộc mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy

Trang 9

1 Khái niệm chất, lượng.

a) Khái niệm chất:

Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, đó là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật, hiện tượng đó là gì, phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nên chính chúng Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác

Chất có tính khách quan, là cái vốn có của sự vật, hiện tượng, do những thuộc tính, những yếu tố cấu thành quy định Thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật Đó là những cái vốn có của sự vật từ khi sự vật được sinh ra hoặc được hình thành trong sự vận động và phát triển của nó Tuy nhiên những thuộc tính vốn có của sự vật, hiện tượng chỉ được bộc lộ ra thông qua sự tác động qua lại với các sự vật, hiện tượng khác

b) Khái niệm lượng:

Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật, biểu hiện bằng con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó Lượng của sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn,

số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm…

Trong thực tế lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lượng cụ thể như vận tốc của ánh sáng là 300.000 km trong một giây hay một phân tử nước bao gồm hai nguyên tử hydrô liên kết với một nguyên tử oxy,… bên cạnh đó có những lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như trình độ nhận thức tri của một người ý thức trách nhiệm cao hay thấp của một công dân, trong những trường hợp đó chúng ta chỉ có thể nhận thức được lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát hoá

Có những lượng biểu thị yếu tố kết cấu bên trong của sự vật (số lượng nguyên tử hợp thành nguyên tố hoá học, số lượng lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội) có những lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài của sự vật (chiều dài, chiều rộng, chiều cao của sự

Trang 10

vật) Bản thân lượng không nói lên sự vật đó là gì, các thông số về lượng không ổn định

mà thường xuyên biến đổi cùng với sự vận động biến đổi của sự vật, đó là mặt không ổn định của sự vật

2 Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng.

Mỗi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất bao gồm chất và lượng nhất định, trong

đó chất tương đối ổn định còn lượng thường xuyên biến đổi Sự biến đổi này tạo ra mâu thuẫn giữa lượng và chất Lượng biến đổi đến một mức độ nhất định và trong những điều kiện nhất định thì lượng phá vỡ chất cũ, mâu thuẫn giữa lượng và chất được giải quyết, chất mới được hình thành với lượng mới, nhưng lượng mới lại biến đổi và phá vỡ chất đang kìm hãm nó Quá trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt: chất và lượng tạo nên sự vận động liên tục, từ biến đổi dần dần đến nhảy vọt, rồi lại biến đổi dần để chuẩn bị cho bước nhảy vọt tiếp theo Cứ căn cứ thế, quá trình động biện chứng giữa chất và lượng tạo nên cách thức vận động, phát triển của sự vật

Tuy nhiên, ở một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự thay đổi về

chất Giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi đó được gọi là độ Độ là

một phạm trù triết học chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của

sự vật, sự vật chưa biến thành cái khác Trong giới hạn của độ, lượng và chất tác động biện chứng với nhau, làm cho sự vật vận động

Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì sẽ tất yếu dẫn đến những sự thay đổi

về chất Trong mối quan hệ giữa chất và lượng thì chất là mặt tương đối ổn định, còn lượng là mặt biến đổi hơn

Tại thời điểm lượng đạt đến một giới hạn nhất định để vật thay đổi về chất gọi là điểm nút Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện nhất định sẽ tất yếu dẫn đến sự ra đời của chất mới Khi có sự thay đổi về chất diễn ra gọi là bước nhảy Bước

nhảy là sự kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng, là sự đứt đoạn trong liên tục, nó không chấm dứt sự vận động nói chung mà chỉ chấm dứt một dạng vận động cụ thể, tạo

ra một bước ngoặt mới cho sự thống nhất biện chứng giữa chất và lượng trong một độ mới

Ngày đăng: 08/12/2022, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w