1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) TIỂU LUẬN môn học tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH đề tài tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về KINH tế với vấn đề xây DỰNG nền KINH tế TRÍ THỨC ở VIỆT NAM HIỆN NAY

33 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về Kinh tế với vấn đề xây dựng nền Kinh tế Trí thức ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Duy Kỷ, Phạm Nguyễn Hùng Dũng, Đỗ Ngọc Tân
Người hướng dẫn ThS. Lê Hoài Nam
Trường học Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 194,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc (8)
    • 1. Nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Pháp (8)
    • 2. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và dân tộc (8)
  • Chương 2: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề giai cấp và dân tộc (12)
    • 1. Khái niệm về “dân tộc” và “giai cấp” (12)
    • 2. Quan điểm của Mác-Lênin về mối quan hệ dân tộc và giai cấp (12)
  • Chương 3: Quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp (15)
    • 1. Mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam (15)
    • 2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp (19)
    • 3. Sự vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (28)
  • Kết luận (33)
  • Tài liệu tham khảo (33)

Nội dung

Có thể nói rằng, tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đềdân tộc và vấn đề giai cấp là một trong những sáng tạo mới của Người - vừa kếthừa tư tưởng lớn của Mác - Lê

Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc

Nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Pháp

Xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đặc biệt trong những năm chống thực dân Pháp, các phong trào yêu nước chống giặc ngoại xâm diễn ra mạnh mẽ và sôi nổi nhưng kết quả thường thất bại Nguyên nhân chủ yếu là sự nhỏ lẻ và thiếu đoàn kết, dễ hình thành nhưng nhanh chóng bị dập tắt, đồng thời còn thiếu hụt và bế tắc về đường lối, phương pháp đấu tranh Dù các vị lãnh đạo phong trào đều là những bậc tiền bối tâm huyết với sự nghiệp và tận tụy với dân tộc, họ chưa nhận thức được xu thế thời đại và chưa thấy được giai cấp trung tâm của thời đại là giai cấp công nhân — đại diện cho một phương thức sản xuất mới, một lực lượng tiến bộ đóng vai trò nòng cốt trong xã hội.

Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản, cho nên mục tiêu của các phong trào yêu nước không phản ánh đúng xu thế vận động của lịch sử và thời đại Ví dụ, Hồ Chí Minh cho rằng con đường của Phan Bội Châu giống như câu thành ngữ “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, và đường lối của Phan Châu Trinh cũng chẳng thoát khỏi những khuyết điểm tương tự, khó có thể nắm bắt đúng nhịp vận động của lịch sử và thời đại.

“xin giặc rủ lòng thương”; con đường của Hoàng Hoa Thám tuy có phần thực tế hơn, nhưng vẫn mang nặng cốt cách phong kiến.

Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và dân tộc

Trước những thất bại liên tiếp của các phong trào yêu nước, dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của cha ông, Hồ Chí Minh – khi ấy Nguyễn Tất Thành – không tán thành các con đường họ theo đuổi và quyết tâm ra đi tìm một lối đi mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Ông nhận thấy cần một hướng đi sáng suốt và có hiệu quả hơn để cứu nước và dựng lên một tương lai tự do cho dân tộc Công lao to lớn đầu tiên của Bác đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc là dám từ bỏ con đường cũ, tự mình tìm tòi và bắt đầu hành trình đổi mới tư duy và phương pháp hoạt động cách mạng.

Tiểu luận về cách mạng Việt Nam cho thấy phong trào đã nhận ra và đi đúng con đường cứu nước, khai phá con đường giải phóng dân tộc và các dân tộc bị áp bức trên thế giới Con đường này không chỉ giải quyết bài toán độc lập cho Việt Nam mà còn mở ra sức mạnh liên kết quốc tế để ủng hộ các cuộc đấu tranh vì tự do và công bằng ở khắp nơi, đồng thời gợi ý một khuôn mẫu chiến lược vừa đối phó với áp lực ngoại xâm vừa thúc đẩy tiến bộ xã hội Nhìn từ thực tiễn và lý luận, cách mạng Việt Nam đã kết hợp tinh thần tự lực cánh sinh với sự đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức, tạo nên nguồn cảm hứng cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới và đóng góp vào quá trình xây dựng trật tự công bằng hơn trên trường quốc tế.

Trong hành trình gần một thập kỷ vượt đại dương, Người đã tiếp xúc và khảo sát thực tiễn ở Anh, Pháp, Mỹ, tích cực tham gia vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào công nhân ở các nước tư bản Người tìm đến với Cách mạng Tháng Mười và Lênin như một tất yếu của lịch sử; sau khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người nhận ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”, đây là bước ngoặt tư tưởng lớn, mở ra một hướng đi mới với mục tiêu và nguyên tắc hoàn toàn mới so với các bậc tiền bối ở Việt Nam, đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo và lấy hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng Người cũng nhấn mạnh: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”, cho thấy con đường tất yếu của cách mạng là đi lên xã hội chủ nghĩa.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc kiên trì đấu tranh và chỉ đạo giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, kiên quyết chống các quan điểm sai lệch về dân tộc và thuộc địa để phát triển lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc Ngay từ thời hoạt động trong phong trào công nhân ở Pháp, Người đã nhận ra một hố ngăn cách giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động chính quốc với giai cấp công nhân và nhân dân lao động thuộc địa, từ đó hình thành nhận thức về sự liên hệ giữa hai mặt trận dân tộc và giai cấp và xây dựng nền tảng lý luận cho một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ngày càng hoàn chỉnh.

Đó là chủ nghĩa Sô-Vanh nước lớn của các nước đi thống trị và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đối với các dân tộc bị thống trị Hai yếu tố này phản ánh sự áp bức và kỳ thị mà các dân tộc bị thống trị phải chịu trong hệ thống quyền lực ấy.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề giai cấp và dân tộc

Khái niệm về “dân tộc” và “giai cấp”

Dân tộc là một cộng đồng người ổn định cấu thành nên nhân dân của một quốc gia, có ý thức về sự thống nhất và gắn bó với nhau thông qua quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung.

Giai cấp là tập đoàn người trong xã hội có địa vị khác nhau, quan hệ sản xuất và tài sản xã hội khác nhau, dẫn tới các phương thức hưởng thụ khác nhau Nếu Mác–Lênin chú trọng phân tích giai cấp và con đường giải phóng giai cấp, thì Hồ Chí Minh lại đặt trọng tâm vào dân tộc và giải phóng dân tộc; Hồ Chí Minh được coi là một nhà yêu nước chân thành, một nhà cách mạng sáng tạo và anh hùng giải phóng dân tộc Các Mác từng từ một nhà dân chủ chuyển hóa thành nhà cách mạng; Hồ Chí Minh cũng từ một nhà yêu nước trở thành một nhà cách mạng Dù con đường dẫn tới cách mạng của Hồ Chí Minh và Mác–Lênin có những khác biệt, nhưng cả hai đều hướng tới sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Quan điểm của Mác-Lênin về mối quan hệ dân tộc và giai cấp

Theo quan điểm của Mác–Ăngghen, để xóa bỏ ách áp bức, bóc lột dân tộc và đem lại độc lập thật sự cho dân tộc thì cần xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột giai cấp; Mác–Ăngghen cho rằng chỉ có giai cấp vô sản mới có thể thống nhất được quyền lợi của chính giai cấp mình và mang lại lợi ích cho nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, từ đó mới thực hiện được sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và nhân loại Khác với Mác–Ăngghen, theo quan điểm của Lê-Nin, việc liên minh giữa giai cấp vô sản với nông dân và các lực lượng bị áp bức khác là nền tảng để tiến hành cách mạng và nhằm thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc và xã hội chủ nghĩa.

Việc thiết lập liên minh giữa giai cấp vô sản ở chính quốc và các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa là cực kỳ cần thiết, vì cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một thành phần không thể tách rời của cách mạng vô sản Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc sẽ không thể giành thắng lợi nếu thiếu sự đoàn kết và hỗ trợ từ các phong trào của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa Đồng thời, Lê-Nin bổ sung vào khẩu hiệu chiến lược của Mác bằng cách nhấn mạnh sự đoàn kết giữa vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức.

Dù C Mác bàn nhiều về đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và Lê-Nin chú trọng cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, cả hai đều có quan điểm chung cho giải phóng giai cấp là mục tiêu hàng đầu và thiết yếu nhất để giải phóng con người Vì vấn đề dân tộc ở Tây Âu về cơ bản đã được giải quyết bằng các cuộc cách mạng tư sản trước đó, C Mác tập trung chiến lược vào giai cấp khi trình bày quan điểm của mình Trong bối cảnh các cuộc cách mạng chủ yếu ở châu Âu, vận mệnh của loài người được coi phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở các nước tư bản phát triển, và tương lai của cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa bị nhìn nhận qua sự thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc Một điểm khác biệt giữa C Mác và Lê-Nin là Lê-Nin cho rằng để giải phóng con người và nhân loại cần có sự liên minh giữa giai cấp vô sản ở chính quốc và nhân dân các nước thuộc địa bị áp bức, chứ không chỉ dựa vào giai cấp vô sản hoàn thành sứ mệnh giải phóng Nhìn chung, cả hai đều chú trọng giai cấp khi giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp, phần nào phản ánh điều kiện thực tiễn cách mạng ở Tây Âu thời ấy khác với Việt Nam.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp

Mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam

Như đã trình bày ở trên, Hồ Chí Minh đã học hỏi và sáng tạo, điều chỉnh và áp dụng các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê nin sao cho phù hợp với hoàn cảnh và mục tiêu của phong trào cách mạng Việt Nam Người nhận ra từ rất sớm rằng lý luận chỉ có giá trị khi được cụ thể hóa và thực tiễn hóa ở Việt Nam, nên luôn điều chỉnh các nguyên lý để phù hợp với đất nước ta Với tính sáng tạo và thực tiễn, Người kết hợp tư tưởng cách mạng với tình hình lịch sử, xã hội Việt Nam, từ đó vận dụng Mác – Lê nin vào công tác vận động quần chúng, xây dựng tổ chức và chiến lược đấu tranh Sự linh hoạt trong áp dụng chủ nghĩa Mác – Lê nin đã thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam phát triển, tăng cường đoàn kết dân tộc và hướng tới độc lập dân tộc cùng xây dựng đất nước Nhờ đó Hồ Chí Minh để lại di sản về cách tiếp cận lý luận – thực tiễn: chủ nghĩa Mác – Lê nin là kim chỉ nam, nhưng được thích nghi với điều kiện lịch sử và mục tiêu của Việt Nam.

Tieu luan 7 rằng nếu áp dụng y nguyên những tư tưởng ấy vào nước ta thì hoàn toàn không phù hợp.

Suốt những năm tháng chống giặc ngoại xâm, mục tiêu của dân tộc là toàn dân đoàn kết, liên minh các đảng phái và các tầng lớp công nhân, nông dân, trí thức trên dưới một lòng để đánh bại giặc ngoại xâm và bè lũ cướp nước, giải phóng dân tộc và đem lại độc lập tự chủ cho đất nước Tuy nhiên, sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và nhiệm vụ lịch sử cho thấy sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp đã chứng minh rằng con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc; cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối và về giai cấp lãnh đạo Nhiệm vụ lịch sử đặt ra là phải tìm một con đường cách mạng mới, do một giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc và của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ đi tới thắng lợi.

Độc lập và tự do được xem là mục tiêu chiến đấu và là nguồn sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam giành thắng lợi trong thế kỉ XX, trở thành một tư tưởng lớn định hình thời đại dân tộc Khẩu hiệu hành động "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" đã trở thành kim chỉ nam cho toàn thể nhân dân Việt Nam, thể hiện khát vọng và sự đồng lòng trong mọi nỗ lực Độc lập, tự do là khát vọng lớn nhất của dân tộc ta, một sức mạnh đoàn kết thúc đẩy tiến trình xây dựng và phát triển đất nước.

Hồ Chí Minh xem tự do cho đồng bào và độc lập cho đất nước là hai mục tiêu tối thượng, vừa là ước muốn vừa là sự hiểu biết sâu sắc của Người Theo Người, tự do của mỗi người và nền độc lập của Tổ quốc đồng thời là nền tảng cho mọi hoạt động cách mạng và phát triển đất nước Khi nói về mục tiêu ấy, Người nhấn mạnh rằng tất cả những gì mình khao khát và hiểu được đều xoay quanh hai khía cạnh căn bản ấy, và hai yếu tố này trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động vì sự công bằng, độc lập và ấm no cho toàn dân Tư tưởng này cho thấy sự gắn kết giữa khát vọng cá nhân và trách nhiệm với vận mệnh dân tộc, nhấn mạnh rằng tự do và độc lập không chỉ là ước vọng riêng mà còn là nền tảng cho sự sống của mỗi người và của cả quốc gia.

Trong quan niệm của Người, độc lập dân tộc phải là một nền độc lập thật sự, hoàn toàn, gắn với hòa bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ Hồ Chí Minh từng kêu gọi vang dội núi sông: “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ “.

 Như vậy rõ ràng rằng, mục tiêu cấp thiết nhất của ta lúc bấy giờ là độc lập dân tộc, là toàn vẹn lãnh thổ, là thoát khỏi ách đô hộ của bọn thực dân Độc lập, tự do trong quan điểm của Hồ Chí Minh là tự do và độc lập thực sự, đó là toàn dân tộc thoát khỏi kiếp lầm than, giải phóng toàn thể dân tộc chứ không phải giải phóng riêng cho một giai cấp đặc biệt nào trong xã hội Nếu đơn thuần chỉ là giải phóng cho một giai cấp nhất định nào đó trong xã hội

Nhân dân ta ở các tầng lớp và giai cấp vẫn chưa thực sự được giải phóng do sự thống trị của thực dân phong kiến vẫn còn tồn tại Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh một quan điểm tiến bộ: giải phóng dân tộc phải được đặt lên hàng đầu và trở thành động lực cho mọi hoạt động cách mạng Quan điểm đó vừa phản ánh thực trạng vừa định hướng mục tiêu của cách mạng Việt Nam, nhằm xoá bỏ áp bức và xây dựng độc lập, tự do cho dân tộc Nhờ sự nhất quán này, yêu cầu và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam được xác định rõ ràng và hướng tới sự phát triển tiến bộ của đất nước.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp

Những người cho rằng Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa hay chỉ theo đuổi dân tộc thuần túy đều đưa ra nhận định thiếu căn cứ; để hiểu đúng tư tưởng của Người, cần nghiên cứu sâu và toàn diện Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề dân tộc và sức mạnh của lòng yêu nước, nhưng mọi nhận thức và giải pháp của Người đều được đặt trên nền tảng giai cấp, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp thể hiện ở việc Người tuyên bố vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, chủ trương đại đoàn kết dân tộc trên nền liên minh công nhân, nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, và biện pháp sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù Người còn thiết lập một chính quyền nhà nước của dân, do dân, vì dân; gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Tư tưởng giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người xuất phát từ sự hợp nhất của vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, phản ánh khát vọng sống ấm no, tự do, hạnh phúc, dân chủ bình đẳng và chống mọi áp bức và bất công xã hội mà Người nuôi dưỡng từ những ngày tìm đường cứu nước.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, giải quyết vấn đề dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp và dân chủ; ông đi từ vấn đề giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp và từ vấn đề dân tộc đến dân chủ, nhưng trên thực tế phương pháp của Người lại đi từ giai cấp và dân chủ đến dân tộc Theo Người, để giải quyết vấn đề dân tộc, phải giải quyết đồng thời vấn đề giai cấp và vấn đề dân chủ.

Ta có thể dễ dàng so sánh giữa quan điểm của Hồ Chí Minh và quan điểm của Mác-Lênin:

Quan điểm của Mác - Lênin Quan điểm của Hồ Chí Minh

Các Mác bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa thực dân

Lê-nin bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc

Hồ Chí Minh bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân

C.Mác và Lê-nin bàn về giai cấp, đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản chủ nghĩa

Hồ Chí Minh bàn về dân tộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa

Giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo chủ chốt.

Mọi tầng lớp, giai cấp cùng đoàn kết đánh đuổi giặc ngoại xâm

Mục đích: Giải phóng giai cấp Mục đích: Giải phóng dân tộc, mang lại độc lập tự do cho toàn thể dân tộc

Giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với tư sả

Giải quyết mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức và chủ nghĩa thực dân

Những cuộc đấu tranh đầu tiên trên nghị trường quốc tế cho thấy Hồ Chí Minh kiên quyết nêu đòi quyền dân chủ cho nhân dân Việt Nam và đặt nền tảng cho sự nghiệp cứu nước bằng tinh thần đấu tranh và lý tưởng dân chủ Lúc ban đầu trên đường tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành bị cuốn hút bởi lá cờ cách mạng dân chủ tư sản ở phương Tây như một mô hình lý tưởng cho sự đổi thay xã hội Ngay từ năm 1923, Người đã trả lời phỏng vấn của một nhà báo Liên Xô: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên, tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp Người Pháp đã nói thế.” Từ đó, Hồ Chí Minh nêu rõ mong muốn hiểu thật sự ý nghĩa của những từ ngữ dân chủ và khám phá những gì ẩn chứa sau chúng, để từ đó rút ra bài học về nền văn minh Pháp và vận dụng chúng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.

Trong giai đoạn 1917–1923 ở Paris, Nguyễn Ái Quốc nhận ra bản chất của nền dân chủ tư sản phương Tây là một nền dân chủ do cách mạng tư sản mang lại, có những mặt tiến bộ như cho phép nhân dân nêu lên yêu sách về kinh tế và chính trị và mở rộng phạm vi cách mạng vượt khỏi giới hạn do giai cấp tư sản đặt ra; tuy nhiên, cách mạng tư sản dân chủ cũng có hạn chế khi nó không trực tiếp tiêu diệt phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà chỉ diệt tận các tàn dư phong kiến, nên ngay cả khi giành thắng lợi, nó vẫn nằm trong khuôn khổ của chế độ tư sản Nguyễn Ái Quốc lại chủ trương lật đổ chế độ tự sản, thực dân ở Đông Dương Ông nhận thấy sau vụ đàn áp dã man của chính quyền Đông Pháp, nhiều người dân Việt Nam, phần lớn là nhà nho, bị bỏ tù và sát hại, nên kêu gọi các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc để giải phóng nhân dân lao động.

Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu là sự phân tích và giải quyết hai khu vực: dân tộc thuộc địa và dân tộc bản xứ, được thể hiện qua các nội dung chính như nhận thức sâu sắc về sự áp bức và khát vọng độc lập của các dân tộc bị áp đặt, mục tiêu giải phóng dân tộc gắn với tiến bộ và phát triển đất nước, vai trò của đoàn kết và liên minh giữa các dân tộc bị áp bức, đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc và sự hợp tác quốc tế để đạt được độc lập và tiến bộ xã hội, với sự kết hợp giữa độc lập dân tộc và con đường xã hội chủ nghĩa như động lực thúc đẩy phát triển bền vững và hòa bình khu vực.

- Các dân tộc thuộc địa trước hết phải đấu tranh giành độc lập cho dân tộc mình

- Không được ỷ lại, chờ thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc.

Các dân tộc cần dựa vào sức mạnh tự thân, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết và sự ủng hộ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động tiến bộ trên toàn thế giới Sự tự lực kết hợp với sự đồng lòng của phong trào lao động toàn cầu là nền tảng để đạt được tiến bộ, độc lập và phát triển bền vững cho mỗi dân tộc Trong bối cảnh hiện nay, đoàn kết quốc tế và sự ủng hộ của giai cấp lao động là nguồn lực quan trọng giúp các dân tộc vượt qua khó khăn và tiếp tục tiến lên trên con đường phát triển.

- Các dân tộc cần có sự đóng góp thiết thực vào sự nghiệp cách mạng vô sản thế giới.

Với Hồ Chí Minh, sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa Cách mạng này đồng thời tích hợp hai tiến trình giải phóng: dân tộc khỏi ách thực dân và giai cấp khỏi sự bóc lột áp bức Vấn đề dân tộc được giải quyết trên lập trường của giai cấp công nhân, phù hợp với xu thế thời đại và lợi ích của các giai cấp và lực lượng tiến bộ trong dân tộc Sức mạnh dẫn tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam ở chỗ mục tiêu dân tộc luôn đồng nhất với mục tiêu dân chủ trên nền tảng định hướng XHCN Đặc điểm nổi bật của cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân triệt để, mở đường cho bước chuyển sang thời kỳ quá độ lên CNXH.

Theo Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng giai cấp; ông giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm giai cấp và đồng thời đặt vấn đề giai cấp trong phạm vi dân tộc Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân là điều kiện để giải phóng giai cấp, vì thế lợi ích của giai cấp phải phục tùng lợi ích dân tộc.

Với Hồ Chí Minh, giữ vững độc lập dân tộc và tôn trọng độc lập của các dân tộc khác là hai mặt của một chiến lược mang tính thực tiễn và nhân văn Người không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình mà còn đứng lên ủng hộ độc lập của các dân tộc khác trên trường quốc tế, đồng thời nhấn mạnh nghĩa vụ quốc tế và sự liên kết giữa các nước trong cuộc đấu tranh vì tự do và công lý Tư tưởng của Người nhấn mạnh rằng tự do và tiến bộ của nhân loại phụ thuộc vào sự đoàn kết, hợp tác và tôn trọng quyền tự quyết của mọi dân tộc.

Trong tiểu luận về 12 hộ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới, người luôn tâm niệm câu "giúp bạn là tự giúp mình" và nhấn mạnh rằng mỗi nước phải đạt được thắng lợi của cách mạng riêng mới đóng góp vào thắng lợi chung của cách mạng thế giới Quan điểm này cho thấy sự liên kết giữa các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và mục tiêu của cách mạng toàn cầu, khẳng định rằng thành công ở từng quốc gia sẽ tạo đà cho tiến bộ và độc lập của cả thế giới.

Những nhân tố dẫn tới thành công cách mạng giải phóng dân tộc, theo Hồ Chí Minh, bắt nguồn từ việc đặt mối quan tâm lớn về vấn đề dân tộc Người cho rằng mục tiêu cấp thiết lúc đó là giải phóng dân tộc, và để giành thắng lợi cần chú ý tới các yếu tố then chốt như sự đoàn kết và đồng thuận của toàn dân, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và gắn bó mật thiết giữa nhân dân với lực lượng vũ trang; tinh thần độc lập tự chủ, ý chí chiến đấu kiên cường, và sự ủng hộ của quốc tế; đồng thời kết hợp kháng chiến lâu dài với huy động nguồn lực xã hội, giáo dục lòng yêu nước và khơi dậy ý thức tự lực tự cường ở mọi tầng lớp nhân dân.

Động lực của đất nước là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc ta kế thừa tinh thần dân tộc được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm, làm nền tảng cho sự đoàn kết và phát triển đất nước Nó có nhiệm vụ giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của cách mạng Việt Nam.

Đường lối cứu nước là đi theo con đường cách mạng vô sản Hồ Chí Minh khẳng định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản", và cho rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi nô lệ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc, thể hiện sự kết hợp nhịp nhàng giữa dân tộc và giai cấp, giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng Vấn đề dân tộc được xem là vấn đề hàng đầu của cách mạng Việt Nam, đòi hỏi sự chủ động sáng tạo và tự lực dựa vào sức mình để đấu tranh giành độc lập dân tộc, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế Đây cũng chính là những điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh khi vận dụng quan điểm Mác-Lênin về mối quan hệ giữa dân tộc và thuộc địa, nhằm thúc đẩy phong trào giải phóng và sự nghiệp xây dựng đất nước.

Sự vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay cho thấy Đảng ngày càng cụ thể hóa và hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện, dựa trên nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta Văn kiện Đại hội IX xác định rõ mối quan hệ giữa các giai cấp và các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đồng thời nhấn mạnh đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được sự lãnh đạo của Đảng Lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc.

Qua 20 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng, Đại hội VI nhấn mạnh cần tránh giáo điều, rập khuôn và việc áp đặt nội dung, hình thức không phù hợp trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc; Đại hội VII khẳng định mối quan hệ dân tộc dựa trên bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau và tiến bộ, đồng thời xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Đại hội VIII nhấn mạnh vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược và đề ra mục tiêu thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ba mục tiêu chủ yếu được xác lập gồm: xóa đói, giảm nghèo, ổn định và cải thiện đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc ở vùng cao, biên giới; xóa mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh và đội ngũ cán bộ, đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp.

Bước sang thế kỷ XXI, Đảng ta tiếp tục khẳng định tại Đại hội IX rằng vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc nêu rõ rằng từ khi thành lập đến nay và suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn coi vấn đề dân tộc và sự đoàn kết giữa các dân tộc là yếu tố chiến lược của cách mạng nước ta Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, Đảng đã đề ra những chủ trương, chính sách dân tộc với nội dung cốt lõi là bình đẳng, đoàn kết và tương trợ để cùng nhau phát triển.

Nhìn lại lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX, một thời kỳ vận động và phát triển nhanh chóng trước diễn biến quốc tế phức tạp, chúng ta nhận thấy sự đúng đắn và sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp Vấn đề ấy đã được kiểm nghiệm bằng thực tế qua chiến tranh khốc liệt và những khó khăn của quá trình hòa bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện giá trị trường tồn, nhất là khi các dân tộc đối diện với những thách thức cực kỳ nguy hiểm do các thế lực hiếu chiến dựa vào tiềm lực quân sự hiện đại để tiến hành chiến tranh xâm lược các nước có chủ quyền, bất chấp pháp lý quốc tế Điều này càng làm rõ sự cần thiết của việc tiếp tục nghiên cứu, học tập và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng một cách hiệu quả vào công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ nền hòa bình và đấu tranh vì công bằng xã hội.

Hồ Chí Minh phân tích sâu vấn đề dân tộc và giai cấp trong tình hình mới, coi đây là nền tảng vững chắc cho việc vận dụng, hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Quan điểm này nhấn mạnh sự đoàn kết giữa các dân tộc và tầng lớp xã hội nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tạo động lực để phát triển đất nước Từ đó, các cấp, các ngành có cơ sở để xác định các mục tiêu chiến lược, xây dựng biện pháp phù hợp và triển khai có hiệu quả đường lối, chính sách, đảm bảo tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong mọi bước đi cách mạng.

Nhà nước đóng vai trò then chốt để dẫn dắt dân tộc vượt qua mọi thách thức và kiên cường xây dựng một đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Quá trình này tập trung vào tăng trưởng kinh tế bền vững, cải cách thể chế và củng cố pháp quyền để mọi thành quả phát triển được lan tỏa và bảo đảm quyền lợi của mọi người Nhờ sự đồng thuận và nỗ lực của cả hệ thống chính trị lẫn cộng đồng, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh sẽ ngày càng được nâng cao, đưa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lên mức cao hơn.

Ngày đăng: 08/12/2022, 09:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w