1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) TIỂU LUẬN TRIẾT học đề tài QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH và PHÁT TRIỂN của TRIẾT học mác LÊNIN

45 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình hình thành và phát triển của Triết học Mác-Lênin
Tác giả Trương Thị Hồng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Tấn Hưng
Trường học Trường Đại Học Tài Chính-Marketing
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 281,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.3 Đối tượng của triết học Đối tượng của triết học là những mối liên hệ chung nhất của sự vật, hiện thựckhách quan, mối liên hệ giữa thế giới vật chất với những sự vật hiện tượng do c

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING

- -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI:

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

Tên học viên: Trương Thị Hồng

Lớp cao học : Quản Trị Kinh Doanh - Khóa 15

Hệ Đào Tạo: Sau Đại Học

Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Tấn Hưng

TP Hồ Chí Minh, 2020.

Trang 2

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING

- -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI:

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

Tên học viên: Trương Thị Hồng

Lớp cao học : Quản Trị Kinh Doanh - Khóa 15

Hệ Đào Tạo: Sau Đại Học

Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Tấn Hưng

TP Hồ Chí Minh, 2020.

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự hỗ trợ, giúp đỡ dù

ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắtđầu học tập tại trường Đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡcủa quý thầy cô, gia đình và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến Quý thầy cô trường Đại học Tài chính Marketing và đặc biệt là Quý thầy cô khoa Sau đại học đã cùng với tri thức và tâm huyếtcủa mình, truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em trong thời gian học tập tại trường

-Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Tấn Hưng đãtrực tiếp giảng dạy và hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập tại trường Nếu không

có những bài giảng dạy tận tình và chi tiết của Thầy thì bài tiểu luận của em khó hoànthành được Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn Thầy

Vì còn hạn chế về thời gian cũng như trình độ và kiến thức của bản thân, nội dungnghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự góp ý của thầy đểbài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

TP Hồ Chí Minh, Ngày 26 tháng 06 năm 2020.

Học viên thực hiện

Trương Thị Hồng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Để hoàn thành bài tiểu luận này, tôi có tham khảo một số tài liệu liên quan đếnTriết học sau đại học nói riêng và ngành Triết học nói chung

Tôi xin cam đoan bài tiểu luận này là do chính tôi thực hiện, đảm bảo độ tin cậy,chính xác và trung thực Mọi sự giúp đỡ cho bài tiểu luận này đã được cảm ơn và cácthông tin trích dẫn trong bài luận đã được ghi nguồn gốc rõ ràng và được phép côngbố

TP Hồ Chí Minh, Ngày 26 tháng 06 năm 2020.

Học viên thực hiện

Trương Thị Hồng

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

TP.HCM, Ngày…… tháng…… năm 2020

Trang 6

MỤC LỤC

Chương 1 Khái luận về triết học 5

1.1 Triết học và đối tượng của triết học 5

1.1.1 Khái niệm triết học 5

1.1.2 Điều kiện cho sự ra đời của triết học 5

1.1.3 Đối tượng của triết học 5

1.1.4 Vấn đề cơ bản của triết học và các trường phái triết học 7

1.2 Vai trò của triết học 8

1.2.1 Vai trò thế giới quan 8

1.2.2 Vai trò phương pháp luận 8

1.2.3 Vai trò của triết học trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay 9

Chương 2 Sự hình thành và phát triển của triết học Mác – Lênin 10

2.1 Hoàn cảnh ra đời triết học Mác 10

2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 10

2.1.2 Tiền đề lý luận 11

2.1.3 Tiền đề khoa học tự nhiên 12

2.2 Quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác 13

2.2.1 Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản (trước 1984) 13

2.2.2 Thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (1844-1848) 15

2.2.3 Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển những quan điểm triết học .18

2.3 Sự ra đời triết học Mác là cuộc cách mạng trong lịch sử triết học 18

2.3.1 Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng 19

2.3.2 Sự hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử 20

2.3.3 Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn

21

2.3.4 Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng 22

2.3.5 Xác định đúng mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể 24

2.4 V.I.Lênin bảo vệ và phát triển triết học Mác 25

2.4.1 Hoàn cảnh lịch sử V.I.Lênin phát triển triết học Mác 25

Trang 7

2.4.2 Những nội dung chủ yếu V.I.Lênin phát triển triết học Mác 26

2.5 Triết học Mác-Lênin giai đoạn sau V.I.Lênin 28

2.5.1 Những đóng góp và hạn chế trong nghiên cứu, phát triển triết học Mác-Lênin ở Liên Xô 28

2.5.2 Những đóng góp và hạn chế trong nghiên cứu, phát triển triết học Mác-Lênin ở phương Tây sau giai đoạn V.I.Mác-Lênin 32

2.5.3 Sự nghiên cứu, phát triển triết học Mác-Lênin ở Trung Quốc 33

2.5.4 Sự vận dụng, phát triển triết học Mác-Lênin ở Việt Nam 34

Chương 3 Bản chất khoa học và cách mạng của triết học Mác- Lênin 35

3.1 Cơ sở của tính khoa học và tính cách mạng của triết học Mác – Lênin 35

3.1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống lý luận khoa học, thể hiện trong toàn bộ các nguyên lý cấu thành học thuyết, trước hết là các nguyên lý trụ cột 35

3.1.2 Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luận mác-xít trong chủ nghĩa Mác – Lênin 35

3.1.3 Là học thuyết duy nhất nêu lên mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người với con đường, lực lượng, phương thức đạt mục tiêu đó 36

3.1.4 Chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết mở, không ngừng tự đổi mới, tự phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại 36

3.2 Sự thống nhất biện chứng giữa tính khoa học và tính cách mạng trong triết học Mác – Lênin 37

KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Triết học là một trong những khoa học ra đời sớm nhất trong lịch sử văn minh, trí tuệcủa nhân loại Từ thời cổ đại sơ khai, con người đã bắt đầu có những ham muốn khámphá thế giới, tìm hiểu nguồn gốc thế giới và biến đổi thế giới Sự phát triển những tưtưởng triết học của nhân loại là một quá trình không đơn giản Cuộc đấu tranh giữa cácphương pháp nhận thức hiện thực, phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hìnhtuy là cái trục xuyên suốt lịch sử triết học, làm nên cái logic nội tại khách quan của sựphát triển, song lịch sử diễn biến của nó lại hết sức phức tạp

Triết học Mác –Lênin là sự kế thừa những tinh hoa xuyên suốt lịch sử triết học từ triếthọc thời kỳ cổ đại, trung cổ, triết học cổ điển Đức Đồng thời, triết học Mác – Lênin còn

là sự thấm nhuần những giá trị từ các tiền đề tư tưởng, khoa học kỹ thuật, dưới tác độngcủa hoàn cảnh xã hội thời kỳ đó để cho ra đời một học thuyết bao gồm những hệ tư tưởngmang tính cách mạng sâu sắc, hướng con người đến một xã hội tốt đẹp Không những thếtriết học Mác - Lênin còn cung cấp thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho loàingười tiến bộ Chính vì vậy, những giá trị của triết học Mác – Lênin vẫn như những chân

lý sáng mãi cho đến tận thời đại hôm nay Để có nhận thức rõ giá trị của triết học Mác –

Lênin thì trước tiên cần phải hiểu được Quá trình hình thành và sự phát triển của triết

học Mác – Lênin, đó là lý do mà tác giả thực hiện đề tài này.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu bối cảnh lịch sử và quá trình hình thành của triết học Mác – Lênin Các giaiđoạn phát triển của triết học Mác – Lênin

3 Đối tượng nghiên cứu

 Triết học Mác – Lênin, hoàn cảnh lịch sử ra đời

 Quá trình hình thành và những giai đoạn phát triển của triết học Mác – Lênin

 Bản chất khoa học và cách mạng của triết học Mác – Lênin

4 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác – Lênin, tác giả đãthực hiện nghiên cứu tại bàn, nghiên cứu dựa trên những tài liệu do trường ĐH Tài ChínhMarketing in ấn và ban hành, ngoài ra còn một số sách, báo khác trên các diễn đàn

Trang 9

internet, kết hợp đọc, phân tích, so sánh, diễn dịch, tổng hợp để làm rõ vấn đề của bài tiểuluận.

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần nội dung giới thiệu và kết luận, kết cấu nội dung của tiểu luận gồm gồm 3chương:

Chương 1: Khái luận về triết học

Chương 2: Sự hình thành và phát triển của triết học Mác – Lênin

Chương 3: Bản chất khoa học và cách mạng của triết học Mác- Lênin

Trang 10

Chương 1 Khái luận về triết học 1.1 Triết học và đối tượng của triết học

1.1.1 Khái niệm triết học

Theo quan điểm của phương đông hay phương tây thì triết học ngay từ khi xuấthiện đã là một hoạt động tinh thần, biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của conngười đối với thế giới Theo quan điểm mácxít, triết học là một hình thái ý thức xãhội là hệ thống lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò và vị trí củacon người trong thế giới đó Như vậy, triết học là học thuyết về những nguyên tắcchung nhất của tồn tại và nhận thức là thái độ con người đối với thế giới là khoa học

về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy

1.1.2 Điều kiện cho sự ra đời của triết học

Trong thời kỳ nguyên thủy, để tồn tại, con người luôn hướng nhận thức ra thếgiới Công cụ để giải thích thế giới của xã hội nguyên thủy lúc bấy giờ là những câuchuyện thần thoại Khi xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời, thay thế xã hội nguyên thủy, thìviệc giải thích thế giới bằng thần thoại, huyền thoại không còn đáp ứng được nhu cầuhiểu biết ngày càng cao của con người Triết học ra đời như một công cụ nhận thứcmới của loài người thay thế cho thần thoại Triết học ra đời là kết quả của sự phânchia giữa lao động trí óc và lao động chân tay Sự ra đời của triết học còn do tư duynhân loại, đã đạt đến trình độ phát triển nhất định, trình độ hệ thống, khái quát vàtrừu tượng hóa

1.1.3 Đối tượng của triết học

Đối tượng của triết học là những mối liên hệ chung nhất của sự vật, hiện thựckhách quan, mối liên hệ giữa thế giới vật chất với những sự vật hiện tượng do conngười tưởng tượng ra và được phản ánh trong các khái niệm, phạm trù, của triết học.Chẳng hạn như: đối tượng nghiên cứu của toán học được Ăngghen nhận định lànhững quan hệ về hình học không gian, về số lượng của sự vật, hiện tượng trong thực

tế khách quan hay đối tượng nghiên cứu của hóa học là sự phân giải, hóa hợp các hợpchất vô cơ, hữu cơ, là các hình thức vận động hóa học…Trong quá trình phát triển,đối tượng của triết học thay đổi theo từng giải đoạn lịch sử cụ thể

Trang 11

Những quan niệm về đối tượng của triết học trong lịch sử:

 Thời kỳ cổ đại: Trong thời kỳ này, khối lượng tri thức của loài người về thế

giới và về chính bản thân mình còn rất hạn chế Tại Trung Quốc, tri thức triếthọc chủ yếu giải quyết các vấn đề về đạo đức, tôn giáo, chính trị - xã hội Tất

cả các quan điểm về con người, về xã hội (Khổng giáo, Đạo giáo, Lão giáo)đều mang màu sắc triết học sâu sắc Ở Ấn Độ, triết học hòa quyện với tôngiáo Còn tại Hy Lạp cổ đại, triết học gắn liền với những hiểu biết ban đầu củacon người về tự nhiên Chưa có sự phân chia giữa tri thức triết học với tri thứccủa các khoa học chuyên ngành Triết học bao hàm tất tri thức của tất cả các

lĩnh vực Vì vậy mới có quan niệm sai lầm "triết học là khoa học của mọi

khoa học".

 Thời kỳ trung cổ: Trung cổ là thời kỳ thống trị của Đạo Thiên Chúa, quyền

lực của giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội Triết học trong giaiđoạn này chỉ có nhiệm vụ lý giải, chứng minh cho sự tồn tại của thượng đế,đức chúa trời và sự đúng đắn của các giáo điều trong kinh thánh Trong khuônkhổ tôn giáo, triết học phát triển một cách chậm chạp, khó khăn Đặc biệt làđối với tư tưởng triết học duy vật

 Nửa sau thế kỷ XV - thế kỷ XVIII: Sự ra đời của các bộ môn khoa học

chuyên ngành (khoa học thực nghiệm) phục vụ cho hoạt động sản xuất côngnghiệp Triết học lúc này gắn bó với khoa học tự nhiên, khoa học thực nghiệm.Đối tượng nghiên cứu của triết học là tìm ra bản chất của các sự vật, hiệntượng có khả năng thực nghiệm được Đến thế kỷ XVII – XVIII, triết học duyvật phát triển mạnh mẽ Đỉnh cao là chủ nghĩa duy vật Pháp với các đại biểu:Điđrô, Henvêtiuýt, Hà Lan với đại biểu Xpinôda; Anh với các đại biểu: Ph.Bêcơn, T Hốpxơ…

 Đầu thế kỷ XIX: Mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt hơn bao giờ hết khi

phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc giaTây Âu như Anh, Pháp, Ý, Hà Lan… Đồng thời sự phát triển của sản xuất tưbản chủ nghĩa cũng kéo theo sự phát triển của khoa học tự nhiên Trước yêucầu của sự phát triển khoa học tự nhiên và sự đòi hỏi của cuộc đấu tranh cáchmạng của giai cấp vô sản triết học Mác đã ra đời Đánh dấu bước ngoặt mới:chấm dứt quan niệm sai lầm về đối tượng nghiên cứu của triết học “triết học là

Trang 12

khoa học của mọi khoa học” và tiếp tục giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa

tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất trên lập trường duy vật cũng nhưnhững quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy

1.1.4 Vấn đề cơ bản của triết học và các trường phái triết học

a) Vấn đề cơ bản của triết học

Triết học cũng như những khoa học khác, phải giải quyết rất nhiều vấn đề có liênquan với nhau Trong đó, vấn đề cực kỳ quan tọng là nền tảng và là điểm xuất phát

đế giải quyết những vấn đề còn lại, đó là vấn đề cơ bản của triết học TheoAngawghen: “Vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại làvấn đề quan hệ tư duy với tồn tại”

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

 Mặt thứ nhất: Vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyếtđịnh đến cái nào?

 Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức thế giới xung quanh mình haykhông?

b) Các trường phái triết học trong lịch sử

Xuất phát điểm của các trường phái triết học trong lịch sử chính là đến từ các vấn

đề cơ bản của triết học Để giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học,

trong lịch sử triết học đã chia thành các trường phái lớn, trong đó nổi bật:

 Trường phái 1: Những người cho rằng vật chất có trước và giữ vai trò quyết

định Những người này được gọi là các nhà duy vật và các học thuyết của họ hợpthành chủ nghĩa duy vật

 Trường phái 2: Những nhà triết học cho rằng ý thức là cái có trường và giữ vai

trò quyết định Họ được gọi là nhà triết học duy tâm và tập hợp các học thuyếtcủa họ hợp thành chủ nghĩa duy tâm

 Trường phái 3: Bao gồm những nhà triết học cho rằng vật chất và ý thức tồn tại

song song với nhau, không cái nào quyết định cái nào cả hai cùng là nguồn gốctạo ra thế giới được gọi là các nhà nhị nguyên Các học thuyết của họ hợp thànhhọc thuyết nhị nguyên luận (Decacton)

Căn cứ vào việc giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học: “Con

người có khả năng nhận thức được Thế giới hay không?”

Trang 13

 Chủ nghĩa duy vật cho rằng ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, con người cókhả năng nhận thức thế giới Đồng thời chủ nghĩa này còn khẳng định nguyên tắctrong thế giới khách quan là chỉ có cái chưa biết chứ không có cái gì là không thểbiết.

 Còn đối với chủ nghĩa duy tâm, họ cũng thừa nhận khả năng nhận thức thế giới.Tuy nhiên chủ nghĩa này lại thần bí hóa, duy tâm hóa quá trình nhận thức của conngười Họ cho rằng nhận thức là sự tự nhận thức, tự hồi tưởng của linh hồn bất tửcủa ý niệm tuyệt đối mà thôi

Ngoài ra, để giải đáp mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học ngoài chủnghĩa duy tâm, duy vật còn tồn tại một trường phái phủ nhận khả năng nhận thức thếgiới của con người mang tên “thuyết không thể biết” Những người thuộc trường pháinày cho rằng con người không thể nhận thức thế giới xung quanh hoặc chỉ biết được

vẻ bên ngoài của thế giới

1.2 Vai trò của triết học

1.2.1 Vai trò thế giới quan

Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới và về vai trò của con ngườitrong thế giới Nó đóng vai trò là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sốngcủa con người Từ thế giới quan đúng đắn, con người sẽ có khả năng nhận thức, quansát, nhìn nhận mọi vấn đề trong thế giới xung quanh Từ đó giúp con người địnhhướng thái độ và cách thức hoạt động sinh sống của mình

1.2.2 Vai trò phương pháp luận

Phương pháp luận (lý luận về phương pháp) là hệ thống những quan điểm chungnhất đóng vai trò xây dựng, lựa chọn vận dụng các phương pháp Phương pháp luậnchia thành nhiều cấp độ: phương pháp luận ngành, phương pháp luận chung vàphương pháp luận chung nhất (phương pháp luận triết học) Phương pháp luận triếthọc đóng vai trò chỉ đạo, định hướng trong quá trình tìm kiếm, lựa chọn và vận dụngcác phương pháp hợp lý, có hiệu quả tối đa để thực hiện hoạt động nhận thức và thựctiễn

Trang 14

1.2.3 Vai trò của triết học trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay

Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, bên cạnh giải quyết những vấn đề “muôn thuở”,triết học còn giúp cho con người tìm ra lời giải đối với những vấn đề hoàn toàn mới,phát sinh trong quá trình toàn cầu hóa Không chỉ giúp con người nhìn nhận đúng đắn

về thế giới quan, nhờ vào triết học, con người còn có khả năng đánh giá những biếnđộng đang diễn ra, gợi mở hướng giải quyết, “lối thoát” cho vấn đề mà con ngườiđang gặp phải trong bối cảnh toàn cầu hóa Nói tóm lại, dù là trong quá khứ hay ở kỷnguyên toàn cầu hóa, triết học vẫn giữ nguyên vị thế của mình ở phạm vi một dân tộc

và cả nhân loại

Trang 15

2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX Đây là thời kỳ phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ trên nềntảng của cuộc cách mạng công nghiệp được thực hiện trước tiên ở nước Anh vào cuốithế kỷ XVIII Cuộc cách mạng công nghiệp không những đánh dấu bước chuyển biến

từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bảnchủ nghĩa, mà còn làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, trước hết là sự hình thành vàphát triển của giai cấp vô sản

Mâu thuẫn sâu sắc giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa với quan hệ sảnxuất mang tính tư nhân tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ qua cuộc khủng hoảng kinh tếnăm 1825 và hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại chủ tư bản, tiêu biểulà: cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Lyông (Pháp) năm 1831, 1834; phong trào Hiếnchương (Anh) từ năm 1835 đến năm 1848; cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Xilêdi(Đức) năm 1844 Đó là những bằng chứng lịch sử thể hiện giai cấp vô sản đã trởthành một lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dânchủ, công bằng và tiến bộ xã hội

Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản đặt ra yêu cầu khách quan là phải đượcsoi sáng bằng lý luận khoa học Chủ nghĩa Mác ra đời là sự đáp ứng yêu cầu kháchquan đó; đồng thời, chính thực tiễn cách mạng cũng trở thành tiền đề thực tiễn cho sựkhái quát và phát triển không ngừng lý luận của chủ nghĩa Mác

Trang 16

2.1.2 Tiền đề lý luận

Chủ nghĩa Mác ra đời không chỉ xuất phát từ nhu cầu khách quan của lịch sử, màcòn là kết quả của sự kế thừa tinh hoa di sản lý luận của nhân loại, trong đó, trực tiếpnhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế học chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hộikhông tưởng ở các nước Pháp và Anh

Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học của G.V.Ph.Hêghen và L.Phoiơbắc đãảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học củachủ nghĩa Mác

Công lao lớn của Hêghen là trong khi phê phán phương pháp siêu hình, lần đầutiên trong lịch sử tư duy của nhân loại, ông đã diễn đạt được nội dung của phép biệnchứng dưới dạng lý luận chặt chẽ thông qua một hệ thống các quy luật, phạm trù.Trên cơ sở phê phán tính chất duy tâm thần bí trong triết học Hêghen, C.Mác vàPh.Ăngghen đã kế thừa "hạt nhân hợp lý" trong phép biện chứng của Hêghen, xâydựng thành công phép biện chứng duy vật

C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán nhiều hạn chế cả về phương pháp, cả về quanđiểm, đặc biệt những quan điểm liên quan đến việc giải quyết các vấn đề xã hội củaL.Phoiơbắc, song, hai ông cũng đánh giá cao vai trò tư tưởng của L.Phoiơbắc trongcuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, khẳng định giới tự nhiên là tínhthứ nhất, tồn tại vĩnh viễn, không phụ thuộc vào ý thức của con người Chủ nghĩa duyvật, vô thần của L.Phoiơbắc đã tạo tiền đề quan trọng cho bước chuyển biến củaC.Mác và Ph.Ăngghen từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật — mộttiền đề lý luận của quá trình chuyển từ lập trường chủ nghĩa dân chủ - cách mạngsang lập trường chủ nghĩa cộng sản

Kinh tế học chính trị cổ điển Anh với những đại biểu lớn của nó là A.Xmít vàĐ.Ricácđôđã góp phần tích cực vào quá trình hình thành quan niệm duy vật về lịch

Trang 17

thuẫn của hàng hóa và sản xuất hàng hóa; không thấy được tính hai mặt của lao độngsản xuất hàng hóa cũng như không phân biệt được sản xuất hàng hóa giản đơn vớisản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa; chưa phân tích được chính xác những biểu hiệncủa giá trị trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Kế thừa những yếu tố khoa học trong lý luận về giá trị lao động và những tưtưởng tiến bộ của các nhà kinh tế học chính trị cổ điển Anh, C.Mác đã giải quyếtnhững bế tắc mà bản thân các nhà kinh tế học chính trị cổ điển Anh đã không thểvượt qua được để xây dựng nên lý luận về giá trị thặng dư, luận chứng khoa học vềbản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc kinh tế dẫn đến sự diệt vong tấtyếu của chủ nghĩa tư bản cũng như sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội

Chủ nghĩa xã hội không tưởng đã có một quá trình phát triển lâu dài và đạt đếnđỉnh cao vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX với các nhà tư tưởng tiêu biểu làH.Xanh Ximông, S.Phuriêvà R.Ôoen Chủ nghĩa xã hội không tưởng thể hiện đậmnét tinh thần nhân đạo, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản trên cơ sở vạch trần cảnhkhốn cùng cả về vật chất lẫn tinh thần của người lao động trong nền sản xuất tư bảnchủ nghĩa và đã đưa ra nhiều quan điểm sâu sắc về quá trình phát triển của lịch sửcũng như dự đoán về những đặc trưng cơ bản của xã hội tương lai Song, chủ nghĩa

xã hội không tưởng đã không luận chứng được một cách khoa học về bản chất cùachủ nghĩa tư bản, không phát hiện được quy luật phát triển cùa chủ nghĩa tư bản vàcũng không nhập thức được vai trò, sứ mệnh của giai cấp công nhân với tư cách làlực lượng xã hội có khả năng xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để xây dựng một xã hội bìnhđẳng, không có bóc lột

Tinh thần nhân đạo và những quan điểm đúng đắn của các nhà chủ nghĩa xã hộikhông tưởng về lịch sử, về đặc trưng của xã hội tương lai đã trở thành một trongnhững tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời của lý luận khoa học về chủ nghĩa xãhội trong chủ nghĩa Mác

2.1.3 Tiền đề khoa học tự nhiên

Cùng với những điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận, những thành tựukhoa học tự nhiên cũng là những tiền đề, luận cứ và những minh chứng khẳng địnhtính đúng đắn về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác; trong đó,

Trang 18

trước hết là quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tiến hóa và thuyết tếbào.

Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng đã chứng minh một cách khoa học

về mối quan hệ không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn củacác hình thức vận động của vật chất trong giới tự nhiên Thuyết tiến hóa đã đem lại

cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển đa dạng bởi tính di truyền, biến dị và mốiliên hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên.Thuyết tế bào là một căn cứ khoa học chứng minh sự thống nhất về mặt nguồn gốc,hình thái và cấu tạo vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giải thích quá trình pháttriển sự sống trong mối liên hệ của chúng

Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tiến hóa và thuyết tế bào lànhững thành tựu khoa học bác bỏ tư duy siêu hình và quan điểm thần học về vai tròcủa "Đấng Sáng Thế"; khẳng định tính đúng đắn của quan điểm duy vật biện chứng

về thế giới vật chất là vô cùng, vô tận, tự tồn tại, tự vận động, tự chuyến hóa; khẳngđịnh tính khoa học của quan điểm duy vật biện chứng trong nhận thức và thực tiễn.Như vậy, sự ra đời của chủ nghĩa Mác là hiện tượng hợp quy luật; nó vừa lả sảnphẩm của tình hình kinh tế - xã hội đương thời, của tri thức nhân loại thể hiện trongcác lĩnh vực khoa học, vừa là kết quả của năng lực tư duy sáng tạo và tinh thần nhânvăn của những người sáng lập ra nó

2.2 Quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác

2.2.1 Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật

Trang 19

* Sau khi nhận bằng tiến sĩ triết học vào tháng 4 - 1841, Mác chuẩn bị vào dạytriết học ở trường đại học Tổng hợp Bon và dự định xuất bản một tờ tạp chí với têngọi tư liệu của chủ nghĩa vô thần Nhưng hy vọng của ông đã không thực hiện được

vì vua Phriđrích Vinhem IV thực hiện chính sách phản động và đàn áp những ngườidân chủ cách mạng

* Sự chuyển biến bước đầu diễn ra trong thời kỳ C.Mác làm việc ở báo sôngRanh (5-1842 đến 4-1843).Thực tiễn đấu tranh trên báo chí cho tự do dân chủ đã làmcho tư tưởng dân chủ -cách mạng ở C.Mác có nội dung chính xác hơn, đó là đấutranh cho lợi ích của “quần chúng nghèo khổ bất hạnh về chính trị và xã hội”

* Về thế giới quan triết học, nhìn chung Mác vẫn đứng trên lập trường duy tâmtrong việc xem xét bản chất nhà nước Nhưng việc phê phán chính quyền nhà nướcđường thời đã cho Mác thấy rằng, cái quan hệ khách quan quyết định hoạt động củanhà nước không phải là hiện thân của tinh thần tuyệt đối như Hêghen đã tìm cáchchứng minh bằng triết học, mà là những lợi ích; còn chính quyền nhà nước lại là “cơquan đại diện đẳng cấp của những lợi ích tư nhân” Như vậy, qua thực tiễn, nguyệnvọng muốn cắt nghĩa hiện thực, xác lập lý tưởng tự do trong thực tế đã làm nảy nởkhuynh hướng duy vật ở Mác

* Sau khi báo Sông Ranh bị cấm, Mác đã viết cuốn sách Góp phần phê phán triếthọc pháp quyền của Hêghen, ông đã phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, tiếpnhận có chọn lọc quan điểm duy vật của triết học Phoiơbắc đã tăng cường mạnh mẽ

xu hướng duy vật trong quan điểm của Mác

* Cuối tháng 10-1943, Mác sang Pari để viết Niên giám Pháp - Đức đã đánh dấubước hoàn thành sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật Trongbài Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, lời nói đầu, được in trongniên giám Pháp- Đức, C.Mác đã chỉ ra “cái khả năng tích cực” của giai cấp vô sản

Tư tưởng về vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản là điểm xuất phát của chủnghĩa cộng sản khoa học

Như vậy, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học duy vật biện chứng

và triết học duy vật lịch sử cũng đồng thời là quá trình hình thành chủ nghĩa cộng sảnkhoa học, Cũng trong thời gian ấy, thế giới quan cách mạng của Ăngghen đã hìnhthành một cách độc lập với Mác

Trang 20

Ph Ăngghen sinh ngày 28-11-1820, trong một gia đình chủ xưởng sợi ở Bácmênthuộc tỉnh Ranh Khi còn học sinh trung học, Ph Ăngghen đã căm ghét sự chuyênquyền và độc đoán của bọn quan lại Việc nghiên cứu triết học trong thời gian ởBéclin, khi làm nghĩa vụ quân sự, đã dẫn ông đi xa hơn trên con đường khoa học.Song, chỉ thời gian gần hai năm sống ở Manchextơ (Anh), từ mùa thu năm 1842, việcnghiên cứu đời sống kinh tế và sự phát triển chính trị của nước Anh, nhất là việc trựctiếp tham gia vào phong trào công nhân mới dẫn đến bước chuyển biến căn bản trongthế giới quan của ông sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản.

Niên giám Pháp - Đức cũng đăng các tác phẩm phác thảo góp phần phê phán kinh

tế chính trị học và Tình cảnh nước Anh, Tômát Cáclây, Quá khứ và hiện tại củaĂngghen gửi đến từ Mansextơ Các tác phẩm đó cho thấy ở Ăngghen, quá trìnhchuyển từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ - cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa cộng sản cũng đã hoàn thành Ông đã đứng trên quan điểm duyvật và lập trường của chủ nghĩa xã hội để phê phán kinh tế chính trị học của A.Xmít

và Đ.Ricácđô, vạch trần quan điểm chính trị phản động của Cáclây, một người phêphán chủ nghĩa tư bản trên lập trường của giai cấp quý tộc phong kiến

Sự nhất trí về tư tưởng đã dẫn đến tình bạn vĩ đại của Mác và Ăngghen, gắn liềntên tuổi của hai ông với sự ra đời và phát triển một thế giới quan mới mang tên Mác -thế giới quan cách mạng của giai cấp vô sản

2.2.2 Thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (1844-1848).

Là quá trình Mác - Ăngghen từng bước xây dựng nguyên lý triết học duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử được thể hiện ở các tác phẩm kinh điển sau:

* Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844:

+ Mác phê phán kinh tế chính trị học cổ điển của Anh và triết học duy tâmHêghen; đồng thời ông cũng vạch ra “mặt tích cực”của nó là phép biện chứng

+ Những quan điểm mới của Mác được thực hiện trong việc phân tích sự tha hoácủa lao động với phạm trù “lao động bị tha hoá”, Mác xem sự tha hoá của lao độngnhư một tất yếu lịch sử gắn liền với sở hữu tư nhân, và chính sở hữu tư nhân đượcsinh ra do “lao động bị tha hoá”, nhưng sau đó lại trở thành nguyên nhân của sự tha

Trang 21

hoá lao động và sự tha hoá của con người Bởi vậy, việc khắc phục sự tha hoá ấychính là xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân, giải phóng người lao động.

Với sự phân tích trên, Mác luận chứng cho tính tất yếu của chủ nghĩa cộng sảntrong sự phát triển xã hội Theo Mác “chủ nghĩa cộng sản coi như chủ nghĩa tự nhiênhoàn bị = chủ nghĩa nhân đạo” 1 Ông bác bỏ mọi thứ chủ nghĩa cộng sản bình quân

mà ông gọi là chủ nghĩa cộng sản thô thiển, phủ nhận cá tính của con người, là sựquay lại với “sự giản dị không tự nhiên của con người nghèo khổ và không có nhucầu”2

Từ góc độ triết học, Mác đã nhận thức chủ nghĩa cộng sản như một nấc thang lịch

sử cao hơn chủ nghĩa tư bản với những tiền đề do chính chủ nghĩa tư bản tạo ra

* Tác phẩm Gia đình thần thánh do Mác và Ănghen viết chung được xuất bảntháng 2-1845 Cùng với việc phê phán quan điểm duy tâm về lịch sử của “pháiHêghen trẻ”, đứng đầu là anh em nhà Bauơ, hai ông đã đề xuất một số nguyên lý cơbản của triết học Mácxít và của chủ nghĩa cộng sản khoa học

Tác phẩm Gia đình thần thánh đã chứa đựng “quan điểm đã gần thành của Mác

về vai trò cách mạng của giai cấp vô sản” và cho thấy “Mác đã tiến gần như thế nàođến tư tưởng cơ bản của toàn bộ “hệ thống” của ông… tức là tư tưởng về những quan

hệ sản xuất xã hội”

* Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, được Mác và Ăngghen viết chung vào cuối năm

1845 - đầu năm 1846, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hình thành triếthọc Mác Thông qua việc phê phán các trào lưu triết học và chủ nghĩa xã hội đươngthời ở Đức, Mác và Ăngghen đã trình bày quan niệm duy vật lịch sử một cách hệthống và nhiều nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học như những hệ quảcủa quan niệm duy vật lịch sử

*Trong Hệ tư tưởng Đức, hai ông khẳng định: “Tiền đề của toàn bộ lịch sử nhânloại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống”2 Song, đó là nhữngcon người hiện thực mà sản xuất vật chất là hành vi lịch sử đầu tiên của họ

+ Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội Do đó, để hiểu được con người,Mác đã đi sâu tìm hiểu sự sản xuất vật chất của con người trong xã hội Nghiên cứubiện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Với tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, một số quan điểm về chủ nghĩa xã hội khoa họcđược nêu lên nhưng chưa có được sự diễn đạt rõ ràng; Mác và Ăngghen nhận định

Trang 22

Chủ nghĩa cộng sản là một lý tưởng cao đẹp của nhân loại, nhưng lý tưởng đó đượcthực hiện từng bước với những mục tiêu cụ thể nào, bằng con đường nào; điều đó tuỳthuộc vào điểm xuất phát và chỉ có qua phong trào thực tiễn mới tìm ra được nhữnghình thức và bước đi thích hợp.

* Luận cương về Phoiơbắc của Mác được Ăngghen đánh giá là văn kiện đầu tiênchứa đựng mầm mống thiên tài của một thế giới quan mới

Tư tưởng cơ bản xuyên suốt của Luận cương là vai trò quyết định của thực tiễnđối với đời sống xã hội; từ đó nêu lên sứ mệnh góp phần “cải tạo thế giới” của triếthọc Mác (luận đề thứ 11) Với quan điểm thực tiễn đúng đắn, Mác đã vạch ra

“khuyết điểm chủ yếu” của toàn bộ chủ nghĩa duy vật trước kia, kể cả chủ nghĩa duyvật của Phoiơbắc; đồng thời cũng phê phán và bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duytâm về tính năng động, sáng tạo của tư duy Cũng từ quan điểm duy vật biện chứng

về thực tiễn, Mác đi tới nhận thức về mặt xã hội của bản chất con người “Trong tínhhiện thực của nó, Mác viết - bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”

* Tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (1847) và Tuyên ngôn của Đảng cộng sản(tháng 2 - 1848), chủ nghĩa Mác được trình bày như một chỉnh thể các quan điểm lýluận nền tảng với ba bộ phận hợp thành của nó Trong Sự khốn cùng của triết học,Mác tiếp tục đề xuất các nguyên lý triết học, chủ nghĩa cộng sản khoa học và đặc biệt

là, như chính Mác sau này đã nói, “chứa đựng những mầm mống của học thuyết đượctrình bày trong bộ Tư bản sau hai mươi năm trời lao động”1

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên củachủ nghĩa Mác; trong đó cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác được trình bày một cáchthiên tài, thống nhất hữu cơ với các quan điểm kinh tế và các quan điểm chính trị - xãhội.“Tác phẩm này trình bày một cách hết sức sáng sủa và rõ ràng thế giới quan mới,chủ nghĩa duy vật triệt để - chủ nghĩa duy vật này bao quát cả lĩnh vực sinh hoạt xãhội - phép biện chứng với tư cách là học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sựphát triển, lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò cách mạng -trong lịch sử toàn thế giới

- của giai cấp vô sản, tức là giai cấp sáng tạo một xã hội mới, xã hội cộng sản”

Với Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, triết học Mác và chủ nghĩa Mác nói chung

đã hình thành và sẽ được Mác và Ăngghen tiếp tục bổ sung, phát triển trong suốtcuộc đời của hai ông trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn của phong tràocông nhân và khai quát các thành tựu khoa học

Ngày đăng: 08/12/2022, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w