1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về con người và vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay

13 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người và vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học, Quản lý phát triển nguồn nhân lực
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 117,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề con người, chúng em đã chọn đề tài: “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người và vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay” là

Trang 1

Mục lục

Phần mở đầu 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Tổng quan đề tài (Tình hình nghiên cứu của đề tài) 2

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3

6 Đóng góp của đề tài 4

5 Kết cấu của đề tài 4

Phần nội dung 4

Chương 1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người 4

1.1 Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử 4

1.2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người 5

1.2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội 5

1.2.2 Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội 6

1.2.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử 6

Chương 2 Vấn đề xây dựng nguồn lực con người ở nước ta hiện nay 6

2.1 Các quan niệm về nguồn nhân lực 6

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 6

2.1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực 7

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay 9

2.3 Một số giải pháp nhằm giải quyết hợp lí vấn đề nguồn nhân lực ở Việt Nam 9

Phần kết luận 11

Danh mục tài liệu tham khảo 13

Trang 2

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất cả nhất của toàn nhân loại Làn sóng văn minh thứ ba đang được loài người tới một kỉ nguyên mới, mở ra bao khả năng để họ tìm ra những con đường tối ưu đi tới tương lai Trong bối cảnh đó sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa càng làm cho các tư tưởng tự do tìm kiếm con đường khả quan nhất cho sự nghiệp phát triển con người Việt Nam càng dễ đi đến phủ nhận vai trò và khả năng của chủ nghĩa Mác - Lênin Trong thực tế, không ít người rẽ ngang đi tìm khả năng phát triển đó trong chủ nghĩa tư bản Nhiều người trở về phục sinh và tìm sự hoàn thiện con người trong các tôn giáo và hệ tư tưởng truyền thống, con người lại “sáng tạo” ra những tư tưởng, tôn giáo mới cho “phù hợp” hơn với con người Việt Nam hiện nay

Song, nhìn nhận lại một cách thật sự khách quan và khoa học sự tồn tại của chủ nghĩa Mác - Lênin trong xã hội ta, có lẽ không ai phủ nhận được vai trò ưu trội

và triển vọng của nó trong sự phát triển con người Trên cơ sở vận dụng khoa học

và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về con người tại hội nghị lần thứ tư của ban chấp hành trung ương khoá VII, Đảng ta đã đề ra và thông qua nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là “động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Đó là “con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”

Do nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề con người, chúng em đã chọn

đề tài: “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người và vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay” làm đề tài tiểu luận

2 Tổng quan đề tài (Tình hình nghiên cứu của đề tài)

Những công trình liên quan đến học thuyết Mác về con người và phát triển con người: “Mác - Người vượt trước thời đại” (1998) của tác giả Đanien Benxaiđơ

đã nhấn mạnh, C.Mác không quan niệm lịch sử như một định mệnh, mà lịch sử là

do con người làm ra Tác giả đã làm nổi bật mối quan tâm của toàn thể loài người,

đó là vấn đề vai trò của khoa học với tính cách là lực lượng sản xuất trực tiếp và vấn đề môi sinh, môi trường sống cho con người

“Triết học Mác - Lênin về con người và việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001) của tác giả Vũ Thiện Vương

đã phân tích quan điểm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người

Trang 3

“Chủ nghĩa Mác - Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam” (2002) của tác giả Đặng Hữu Toàn đi sâu phân tích vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam Đặc biệt, tác giả đã dành riêng một 3 phần luận giải học thuyết Mác về con người, giải phóng con người và phát triển con người Việt Nam “Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen” (2003) do Hồ Sĩ Quý làm chủ biên

Nhóm các công trình nghiên cứu về sự vận dụng, phát triển quan điểm của C.Mác về phát triển con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội” (1996) của tác giả Lê Sĩ Thắng đã phân tích vấn đề con người trong truyền thống tư tưởng dân tộc; quan niệm về con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” (2001) của tác giả Thành Duy đề cập đến mối quan hệ văn hóa với việc xây dựng con người phát triển toàn diện, nguồn gốc

tư tưởng Hồ Chí Minh về con người phát triển toàn diện, đặc điểm, bản chất, quan niệm, giải pháp xây dựng con người phát triển toàn diện

Ngoài ra còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác được trình bày qua nhiều các trang giáo án, giáo trình, được đăng trên nhiều bài báo chính thống, …

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về nguồn nhân lực, các chính sách phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam

Với đề tài đặt ra, mục đích lớn nhất của đề tài là nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quan điểm về con người của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ đó vận dụng vào việc phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: con người và vấn đề về con người trong chủ nghía Mác-Lênin Phạm vi nghiên cứu: vận dụng quan điểm vào nước ta

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở quán triệt thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lenin cũng như của Đảng ta về con người và vấn đề phát triển nguồn nhân lực là phương pháp luận của đề tài

Trang 4

Ngoài ra, bài tiểu luận còn sử dụng them các phương pháp như: Phương

pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thu thập thông tin, thống kê, đánh giá, … để nghiên cứu, làm rõ vấn đề

6 Đóng góp của đề tài

Trên cơ sở luận giải và làm rõ quan điểm của C.Mác về phát triển con người, luận án góp phần chỉ ra và khẳng định ý nghĩa thời đại và giá trị vận dụng quan điểm đó trong phát triển con người ở Việt Nam hiện nay Bài tiểu luận còn góp phần khẳng định sự vận dụng sáng tạo quan điểm của C.Mác về phát triển con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chiến lược phát triển con người Việt Nam hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngoài ra, bài tiểu luận còn đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển con người Việt Nam hiện nay đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, thực hiện mục tiêu giải phóng con người

5 Kết cấu của đề tài

Bài tiểu luận ngoài phần mở đầu, kết thúc và danh mục tài liệu tham khảo, bài tiểu luận còn được chia thành các nội dung chính như sau:

Chương 1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người

Chương 2 Vấn đề xây dựng nguồn lực con người ở nước ta hiện nay

Phần nội dung

Chương 1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người

1.1 Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử

Trang 5

Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử triết học nhân loại Tuỳ theo giác độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác nhau trong việc lí giải về con người

Theo quan niệm của triết học phương Đông: Trong nền triết học Trung Hoa

cổ, khi xét tới vấn đề bản tính con người, các nhà tư tưởng tiếp cận thực tiễn hoạt động chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận về bản tính tự nhiên của con người là Thiện - theo Nho gia và Bất Thiện - theo Pháp gia Ngược lại, các nhà tư tưởng của trường phái triết học ấn Đột lại tiếp cận từ sự suy tư về con người và đời người ở tầm sâu triết lí siêu hình đối với những vấn đề nhân sinh quan và rút ra kết luận về bản tính vô ngã, vô thường, hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự giác ngộ

Theo quan niệm của triết học phương Tây: Các nhà triết học theo lập trường triết học duy vật đã lựa chọn giác độ khoa học tự nhiên để lí giải về bản chất con người Họ coi con người cũng như vạn vật trong giới tự nhiên, đều được cấu tạo nên từ vật chất Trong khi đó, các nhà triết học duy tâm lại chú trọng hoạt động lí tính của con người Họ lí giải bản chất của con người từ giác độ siêu tự nhiên Nhìn chung, các quan điểm trước Mác và ngoài macxit còn phiến diện trong phương pháp tiếp cận lí giải các vấn đề triết học về con người Những hạn chế đó

đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin về con người

1.2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người

1.2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội

Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người Con người là kết quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên Tuy nhiên, đặc trưng quy định sự khác biệt của con người là phương diện xã hội Tính xã hội biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất Qua đó, con người sản xuất ra của cải vật chất

và tinh thần, phục vụ đời sống, hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội ở con người, mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt

xã hội Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người Mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải mang giá trị văn minh con người Nhu cầu xã hội cũng không thể thoát li khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội

Trang 6

1.2.2 Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ

xã hội

“Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan

hệ xã hội” (Luận cương về Feuerbach - C.Mác) Con người luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định

Quan niệm này giúp chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh học ở con người Tóm lại, bản chất chung nhất, sâu sắc nhất của con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội diễn ra trong hiện tại và quá khứ Con người không phải là cố định, bất biến mà có tính lịch sử cụ thể Chúng ta không thể hiểu bản chất con người bên ngoài mối quan hệ giữa cá nhân

và xã hội

1.2.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh Song điều quan trọng hơn cả, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử

-xã hội Với tư cách là thực thể -xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động và cải biến giới tự nhiên, tái tạo lại một thiên nhiên thứ hai theo mục đích của mình; đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử - xã hội Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử loài người

Chương 2 Vấn đề xây dựng nguồn lực con người ở nước ta hiện nay

2.1 Các quan niệm về nguồn nhân lực

Trang 7

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), nguồn nhân lực là toàn bộ con người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động Ở nghĩa rộng, “nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển” Còn theo nghĩa hẹp, “nguồn nhân lực là khả năng lao động xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào quá trình lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn

bộ các cá nhân có thể tham gia quá trình lao động”

Theo tổ chức Liên Hợp Quốc, nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ bởi sự phát triển của đất nước Đây được coi là một yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng – kinh tế

Theo từ điển kinh tế chính trị: nguồn nhân lực là dân cư của đất nước, có toàn

bộ những khả năng thể chất, tinh thần có thể sử dụng trong qua trình lao động

Ở Việt Nam, theo tác giả Phạm Văn Đức: “Nguồn nhân lực con người chỉ là khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động Đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn mà còn có cả trình độ văn hóa thái độ với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao động”

Còn tác giả Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước, một địa phương sẵn sàng tham gia vào một công việc nào đó”

Từ những quan điểm về nguồn nhân lực nêu trên, có thể đi đến một cách hiểu chung nhất về nguồn nhân lực như sau: nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động xã hội được chuẩn bị ở các mức độ khác nhau, sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2.1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Trang 8

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững, phồn thịnh của quốc gia

Cho đến nay, do xuất phát và cách tiếp cận khác nhau, nên có rất nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Phát triển nguồn nhân lực bao hàm trình độ lành nghề và năng lực được sử dụng hiệu quả và làm thỏa mãn nghề nghiệp cũng như cuộc sống cá nhân Theo quan niệm này sự lành nghề không chỉ được đào tạo, bồi dưỡng mà còn là sự tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sống và quá trình làm việc của người lao động

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Phát triển nguồn nhân lực được hiểu cơ bản là tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kĩ năng, tâm hồn, thể lực,

… làm cho con người trở thành những lao động có năng lực và phẩm chất mới đáp ứng yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Theo tác giả Bùi Văn Nhơn: “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển”

Từ những luận điểm trên, có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực là tổng thể hoạt động của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội và người lao động, với đường lối, cơ chế, chính sách đúng đắn, đặc biệt chú trọng đến phát triển giáo dục đào tạo nhằm nâng cao thể lực, trí tuệ và phẩm chất tâm lí xã hội để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước; phát triển nguồn nhân lực còn là quá trình sử dụng,

Trang 9

đãi ngộ xứng đáng nhằm tạo động lực, phát huy vị trí, vai trò và giá trị của nguồn nhân lực này

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay

Nguồn lực từ nông dân: Dân số cả nước hiện nay là 84,2 triệu người, trong

đó nông dân chiếm 73% dân số, tương đương 61,5 triệu người, chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động Tuy nhiên, nguồn nhân lực to lớn này vẫn chưa được khai thác, tổ chức, bị bỏ mặc, từ đó dẫn đến sản xuất tự phát, manh mún Hiện có tới 90% lao động nông nghiệp và cán bộ quản lý nông thôn chưa được đào tạo Điều này phản ánh chất lượng nguồn nhân lực trong nông dân còn rất yếu kém Việc liên kết "bốn nhà" (nhà nước, nhà nụng, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp) chỉ

là hình thức

Nguồn lực từ công nhân: Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay có khoảng dưới 5 triệu người, chiếm 6% dân số cả nước Công nhân có tay nghề cao chiếm tỷ

lệ rất thấp so với đội ngũ công nhân nói chung Trình độ công nhân còn thấp Số công nhân có trình độ cao đẳng, đại học khoảng 150.000 người, chiếm 3,3% đội ngũ công nhân Sự già đi và ít đi của đội ngũ công nhân Việt Nam chỉ ra rằng công nhân khó có thể đóng vai trò chủ yếu trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Về chính trị, công nhân chưa có địa vị bằng trí thức, công chức, viên chức, rất khó vươn lên vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội

Nguồn lực từ trí thức, công chức, viên chức: Đội ngũ trí thức Việt Nam trong những năm gần đây tăng rất nhanh Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực còn yếu Khoảng 80% công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan công quyền chưa hội đủ những tiêu chuẩn của một công chức, viên chức Ước tính có tới 63% tổng số sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa có việc làm Không ít đơn vị nhận người vào làm phải mất 1-2 năm đào tạo lại 37% sinh viên có việc làm cũng không đáp ứng được yêu cầu công việc

Nói tóm lại, có thể rút ra mấy điểm về thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam như sau: Nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, khai thác Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến mâu thuẫn giữa lượng và chất Sự kết hợp nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức chưa tốt, thiếu sự cộng lực để thực hiện mục tiêu chung là xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

Trang 10

2.3 Một số giải pháp nhằm giải quyết hợp lí vấn đề nguồn nhân lực ở Việt Nam

Nhìn rõ thực trạng nguồn nhân lực để phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm và đưa ra yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực Một mặt phải trực tiếp giải quyết vấn đề về chất lượng nguồn nhân lực, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn

kĩ thuật Mặt khác phải giải quyết vấn đề nâng cao thể lực người lao động và phân phối hợp lý nguồn nhân lực Trong trình tự giải quyết phải đi tuần tự từ tiếp tục xoá mù chữ, phổ cập tiểu học, trang bị những kiến thức cơ bản, đào tạo nghề từ sơ cấp đến các bậc cao hơn nhưng phải tạo ra một bộ phận người lao động có chất lượng cao, đặc biệt phải chú trọng đào tạo lao động kĩ thuật, nhằm đáp ứng nhu cầu của những ngành công nghệ mới, các khu công nghiệp và các khu kinh tế mở

Một là phải xác định rõ nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá của Việt Nam trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước

Hai là nâng cao chất lượng con người và chất lượng cuộc sống Chất lượng con người, trước hết, phải tính đến vấn đề chất lượng sinh nở Ngành y tế phải có những quy định cụ thể về chất lượng sinh nở như kiểm tra sức khỏe, bệnh tật, di truyền… trước khi đăng kí giá thú và vợ chồng quan hệ để sinh con Hiện nay đang

có tình trạng đẻ không tính toán cân nhắc, nhất là ở nông thôn, làm cho trẻ sinh ra còi cọc, kém phát triển Vì vậy phải tăng cường chất lượng hoạt động của các cơ quan chức năng Tiếp đó phải tính đến chất lượng cuộc sống, nghĩa là phải nuôi dưỡng vật chất và tinh thần cho con người sinh ra

Ba là Nhà nước cần xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh

tế quốc tế Phải xác định thật rõ xây dựng nguồn nhân lực không chỉ là trách nhiệm của các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách mà còn là trách nhiệm của

cả hệ thống chính trị

Bốn là Chính phủ và các cơ quan chức năng có biện pháp giải quyết hiệu quả những vấn đề vừa cấp bách vừa lâu dài của nguồn nhân lực, đặc biệt là vấn đề khai thác, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực

Năm là Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, phù hợp với nhu cầu xã hội, đáp ứng tốt yêu cầu công việc

Sáu là không ngừng nâng cao trình độ học vấn, thực hiện toàn xã hội học tập

và làm việc Vấn đề đặt ra một cách gay gắt là phải bằng mọi biện pháp đầu tư để nâng cao trình độ học vấn của cả nước lên, bằng không sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội

Ngày đăng: 08/12/2022, 09:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w