Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân..
Trang 2VẤN ĐỀ 1 HÌNH THỨC SỞ HỮU Câu 1: Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2005? Nêu rõ các hình thức sở hữu trong BLDS.
Các hình thức sở hữu được quy định ở Bộ luật dân sự năm 2005 tại Chươg XIII và
được quy định khái quát tại Điều 172 BLDS 2005: “Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn
dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, các hình thức sở hữu bao gồm sở hữu nhà nước,
sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp.” Như vậy, theo quy định tại BLDS 2005 có 6 hình thức sở hữu và được quy định cụ thể từng hình thức sở hữu tại Điều 200 – Điều 232 BLDS
2005.
- Sở hữu nhà nước (từ Điều 200 - Điều 207):
Sở hữu nhà nước đã trải qua rất nhiều thăng trầm trong lịch sử nhưng vẫn giữ vai trò chủ của nền kinh tế đất nước Bản thân hình thức này được dựa trên cơ sở quy định
tại Điều 17 Hiến pháp 1992 và được BLDS 2005 khái quát phạm vi tài sản thuộc sở
hữu Nhà nước tại:
Điều 200 Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước
Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định.
- Sở hữu tập thể (từ Điều 208 - Điều 210):
Sở hữu tập tập thể được xác lập trên cơ sở các cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức để hợp tác kinh doanh
Điều 208 Sở hữu tập thể
Trang 3nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi.
- Sở hữu tư nhân (từ Điều 211 - Điều 213):
Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của từng cá nhân về tư liệu sinh hoạt, tiêu dùng
và những tư liệu sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của từng cá nhân
Điều 211 Sở hữu tư nhân
Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình.
Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân.
Điều 212 Tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân
1 Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức
sở hữu tư nhân.
Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
2 Cá nhân không được sở hữu đối với tài sản mà pháp luật quy định không thể thuộc hình thức sở hữu sở hữu tư nhân.
- Sở hữu chung (từ Điều 214 - Điều 226):
Sở hữu chung là hình thức sở hữu khi có nhiều chủ thể cùng có quyền sở hữu đối
với một tài sản nhất định, được quy định cụ thể như sau tại BLDS 2005:
Điều 214 Sở hữu chung
Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản.
Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung.
- Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (từ Điều 227 - Điều
229) được quy định cụ thể như sau tại BLDS 2005:
Trang 4Điều 227 Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là sở hữu của tổ chức đó nhằm thực hiện mục đích chung quy định trong điều lệ.
Điều 228 Tài sản thuộc hình thức sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
-xã hội
1 Tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, tài sản được tặng cho chung và từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản thuộc
sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức đó.
2 Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước giao cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để quản lý và sử dụng thì không thuộc sở hữu của tổ chức đó.
- Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề
nghiệp (từ Điều 230 - Điều 232) được quy định cụ thể như sau tại BLDS 2005:
Điều 230 Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -nghề nghiệp là sở hữu của cả tổ chức đó nhằm thực hiện mục đích chung của các thành viên được quy định trong điều lệ.
Điều 231 Tài sản thuộc hình thức sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
Tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, tài sản được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
- nghề nghiệp đó.
Trang 5Câu 2: Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2015? Nêu rõ các hình thức sở hữu trong BLDS.
Thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và cụ thể hóa nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013, BLDS năm 2015 quy định 03 hình thức sở hữu, bao gồm: sở hữu riêng, sở chung, sở hữu toàn dân
- Sở hữu riêng (Điều 205 và Điều 206):
Điều 205 Sở hữu riêng và tài sản thuộc sở hữu riêng
1 Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân.
2 Tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc pháp nhân và tài sản hợp pháp về sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản sở hữu riêng của mình nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác không gây ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
- Sở hữu chung (từ Điều 207 - Điều 220):
Điều 207 Sở hữu chung và các loại sở hữu chung
1 Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.
2 Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất
+ Sở hữu chung theo phần: Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung và mỗi chủ sở hữu có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình
+ Sở hữu chung hợp nhất: là sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung đồng thời các chủ sở hữu
có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung (bao gồm cả sở hữu chung hợp nhất không phân chia và phân chia)
Trang 6- Sở hữu toàn dân (từ Điều 197 - Điều 204):
Điều 197 Tài sản thuộc sở hữu toàn dân
Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Sở hữu toàn dân chúng ta hiểu đơn giản đó là tài sản chung của toàn bộ người dân Việt Nam như khoáng sản, lãnh thổ, đất đai, Và nhà nước là đại diện pháp lý có trách nhiệm bảo vệ, quản lý các tài sản này Về quyền sở hữu toàn dân khi được giao cho doanh nghiệp, đơn vị vũ trang, cơ quan nhà nước hoặc đơn vị cá nhân đều phải tuân thủ thực hiện nghĩa vụ đầy đủ với nhà nước đồng thời nhà nước có trách nhiệm
kiểm tra, giám sát quản lý sử dụng tài sản đó (Điều 200 – Điều 204 BLDS 2015)
Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi về hình thức giữa hai Bộ luật trên.
Qua nhiều năm áp dụng BLDS 2005 vào thực tiễn, BLDS 2005 đã bộc lộ rò nhiều
bất cập Việc phân chia hình thức sở hữu dựa vào tính chất, chức năng, nhiệm vụ của
các chủ thể của BLDS 2005 là không hợp lý.
- Thứ nhất, việc liệt kê chủ thể chưa khoa học vì sự liệt kê có thể chưa đầy đủ
vì còn có thể có nhiều loại hình tổ chức, các nhóm người phát sinh Nếu như có một thành phần kinh tế mới xuất hiện trong xã hội thì BLDS phải sửa, như vậy tính ổn định của BLDS không cao
- Thứ hai, khi xác định một hình thức sở hữu nào đó thì phải xuất phát từ sự
khác biệt về nội dung quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt), về phương thức thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản Qua nghiên cứu cho thấy,
nội dung của một số hình thức sở hữu được quy định trong BLDS 2005 là không có sự
khác biệt ngoại trừ chủ thể sở hữu, vì thế không có ý nghĩa về mặt pháp lý khi không chỉ ra được sự khác biệt cơ bản giữa các hình thức sở hữu
- Thứ ba, theo quy định BLDS 2005 thì sở hữu tập thể là một hình thức sở hữu
độc lập nhưng, về cơ bản, đây chỉ là sở hữu của pháp nhân là hợp tác xã
Trang 7Việc xác định các hình thức sở hữu phải được dựa trên một tiêu chí thống nhất,
trong khi đó BLDS năm 2005 vừa dựa vào tiêu chí chủ thể, vừa dựa vào tiêu chí
tính chất của việc sở hữu mà phân chia thành sáu hình thức khiến các hình thức sở hữu này vừa bị trùng lặp, thừa và vừa thiếu
→ BLDS 2015 đã cố gắng loại bỏ những bất cập trên và để khái quát hơn bằng cách
chỉ quy định 3 hình thức sở hữu nhằm nhằm phân biệt các hình thức sở hữu thông qua phương thức thực hiện quyền, cụ thể là: sở hữu riêng, sở hữu chung, sở hữu toàn dân
Ba hình thức sở hữu này có phương thức thực hiện quyền sở hữu có sự khác biệt và cũng được nhiều BLDS trên thế giới sử dụng cách thức phân biệt này Ngoài ra, việc
phân loại các hình thức sở hữu của BLDS 2015 còn mang ý nghĩa:
- Thứ nhất, sự phân loại này bảo đảm tính thống nhất với nội dung, tinh thần
của Hiến pháp năm 2013 về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được ghi nhận tại các điều 32, 51 và 53, đồng thời cũng phù hợp với
nguyên tắc xác định hình thức sở hữu, theo đó, khi xác định hình thức sở hữu thì cần phải căn cứ vào sự khác biệt trong cách thức thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản chứ không phải căn cứ vào yếu tố ai là chủ thể cụ thể của quyền sở hữu như quy định hiện hành
- Thứ hai, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì Nhà nước là đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý các tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do đó, có thể xác định Nhà nước chính là chủ thể có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản này Vì
vậy, trên cơ sở sở hữu toàn dân, Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận cụ thể vai trò của
Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản công
- Thứ ba, tài sản thuộc hình thức sở hữu toàn dân (trong Bộ luật Dân sự năm
2005 được gọi là hình thức sở hữu nhà nước) là một hình thức sở hữu đặc biệt, không
thể coi là một dạng của sở hữu riêng hoặc sở hữu chung, do đó, các quy định này tạo
ra một chế độ pháp lý riêng biệt đối với hình thức sở hữu này
Trang 8VẤN ĐỀ 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ Tóm tắt Quyết định 382/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008
Bà Nga là con nuôi của ông Bình và bà Như và sống với nhau từ lúc bà Nga còn nhỏ đến khi lập gia đình Vào năm 2003 thì vợ chồng ông Tuyền và bà Hằng
có xin ông cha mẹ bà Nga cho sử dụng mặt bằng tầng trệt để kinh doanh, sau đó lại xin vào nhà ở để tiện bề đi lại Lúc này thì vợ chồng ông Tuyền có ý định chiếm đoạt nhà của cha mẹ bà Nga nên luôn gây sự hiểu lầm dẫn đến bà Nga và cha mẹ
bà bất hòa làm bà phải ra ngoài ở riêng Nhưng bà Nga vẫn yêu thương và thường xuyên về chăm sóc cha mẹ Em của cha bà Nga là bà Kiều đã lấy hộ khẩu và giấy
tờ nhà của cha mẹ bà Ông Tuyền thấy vậy, lợi dụng lúc làm lại hộ khẩu cho gia đình ông Bình đã tách bà Nga ra và thêm vợ chồng cùng các con của mình vô hôn khẩu nhà ông Bình Sau khi cha bà Nga mất thì vợ chồng ông Tuyền còn tự biết di chúc và bắt bà Như lăn lay với nội dung là để hết nhà đất cho vợ chồng ông Nay
bà Nga yêu cầu vợ chồng ông Tuyền phải trao trả lại nhà đất, bà Kiều phải giao hôn khẩu và giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất cho bà
Tóm tắt Quyết định 545/2009/DS-GĐT ngày 26/10/2009
Cha mẹ bà Nguyệt có 02 người con là bà và bà Thuyết Lúc còn sống, cha
mẹ bà đã tạo lập được 01 căn nhà và vườn cây ăn trái Sau khi cha bà mất thì mẹ
bà lập di chúc để lại toàn bộ di sản trên cho vợ chồng bà Nhưng vườn cây đã được mẹ bà cho thuê 04 năm và tiền thuê do bà Thuyết giữ Được biết là di chúc
do mẹ bà thảo và bà đánh máy và được ông Sinh làm chứng Nay bà Nguyệt yêu cầu được thừa kế toàn bộ tài sản theo di chúc
Trang 9Câu 1: Nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người lập di chúc không minh mẫn thì di chúc có giá trị pháp lý không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người lập di chúc không minh mẫn thì di chúc sẽ không có giá trị pháp lý
CSPL: được quy định trong BLDS 2015:
Điều 625 Người lập di chúc
“1 Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của
Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.
2 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.”
Điểm a Khoản 1 Điều 630 Di chúc hợp pháp
“1 Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốttrong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép.”
Câu 2: Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 382, theo Tòa phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn không? Vì sao Toà phúc thẩm đã quyết định như vậy?
Theo Tòa phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 thì bà Như không được minh mẫn
Vì Toà phúc thẩm cho rằng Bệnh xá Công an tỉnh An Giang không có chức năng khám sức khoẻ để lập di chúc
Câu 3: Trong vụ việc nêu trên, theo Toà giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn không? Vì sao Toà giám đốc thẩm đã quyết định như vậy?
Theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc bà Như đang trong trạng thái tinh thần vui vẻ và minh mẫn Vì phần xét thấy của Quyết định số 382 có nêu rõ: “Ông On, ông
Kiếm và ông Hiếu không phải là người được hưởng thừa kế, không phải là người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc, nên có cơ sở xác định di chúc của
bà Như đã nêu trên thể hiện đúng ý chí của bà Như khi lập di chúc” Trong khi đó kết
luận của bác sĩ Hiền về tình trạng sức khoẻ và tinh thần của bà Như được ghi trong giấy chứng nhận khám sức khoẻ ngày 26/12/2004 trước ngày bà Như lập di chúc 5 ngày không mâu thuẫn với lời khai xác nhận của ông On, ông Kiếm và ông Hiếu
Trang 10Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà giám đốc thẩm.
Theo tôi, quyết định của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao là hợp tình, hợp lí Bởi lẽ ông Bình, bà Như chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận chấm dứt việc nuôi con với bà Nga, bà Nga không bị tước quyền thừa kế nên bà Như được hưởng thừa kế theo pháp luật Hơn nữa, kết luận của Bệnh xá Công an tỉnh An Giang
về tình trạng sức khoẻ của bà Như khi lập di chúc hoàn toàn hợp pháp, di chúc của bà Như là hợp pháp
Câu 5: Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 545, theo Tòa phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết có minh mẫn không? Vì sao Tòa phúc thẩm đã quyết định như vậy?
Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 545, theo Tòa phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết không minh mẫn Tòa phúc thẩm đã quyết định như vậy dựa vào căn cứ cụ Biết lập di chúc ngày 3/1/2001 thì cụ Biết đã 84 tuổi, trước đó vào tháng 11,12 năm 2000 cụ Biết còn phải nhập viện điều trị với triệu chứng được chẩn đoán là “Thiếu máu cơ tim, xuất huyết não, cao huyết áp” và cụ Biết lập di chúc vào ngày 3/1/2001 thì ngày 14/1/2001 cụ Biết qua đời Chính vì những lí do đó, Tòa phúc thẩm cho rằng cụ Biết lập di chúc trong tình trạng không còn minh mẫn
Câu 6: Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết có minh mẫn không? Vì sao Tòa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy?
Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết
có minh mẫn Tòa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy dựa trên lời khai của ông Lương Văn Dầm và ông Nguyễn Văn Thắng đều có xác nhận rằng vào thời điểm lập
di chúc thì cụ Biết còn minh mẫn và đọc nội dung di chúc cho ông Thắng viết Bên cạnh đó vào ngày 4/1/2001 cụ Biết ký (điểm chỉ) vào hợp đồng cho bà Trần Hoài Mỹ thuê vườn cây với thời hạn 4 năm Theo lời khai của bà Trần Hoài Mỹ thì trước đó 1 tuần, cụ Biết còn gọi bà Mỹ đến để thỏa thuận về việc thuê vườn cây và khi điểm chỉ vào hợp đồng thì cụ Biết còn minh mẫn và thậm chí còn chỉ cho bà Mỹ cách chăm sóc