1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) hãy làm rõ đặc điểm, TÍNH CHẤT của THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM từ đó, hãy PHẢN bác NHỮNG LUẬN điểm XUYÊN tạc của kẻ THÙ về QUÁ TRÌNH xây DỰNG CHỦ NGHĨA xã hội ở nước TA HIỆN NAY

39 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hãy làm rõ đặc điểm, tính chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ đó, hãy phản bác những luận điểm xuyên tạc của kẻ thù về quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang, Đặng Minh Huy, Nguyễn Nhật Lâm, Bùi Phi Hùng, Nguyễn Thành Nhân
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Phượng
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý luận Chính trị
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 867,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (4)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (4)
  • 3. Phương pháp nghiên cứu (5)
  • CHƯƠNG 1: THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM (6)
    • 1.1. Khái niệm cơ bản về thời kỳ quá độ (6)
    • 1.2. Hoàn cảnh và điều kiện ra đời của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (7)
    • 1.3. Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (8)
    • 1.4. Các loại hình quá độ lên chủ nghĩa xã hội (10)
    • 1.5. Đăc điểm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (0)
    • 1.6. Nhận thức của Đảng về quá độ lên chủ nghĩa xã hội (17)
    • 1.7. Khả năng tiến hành quá độ lên chủ nghĩa xã hội (23)
  • CHƯƠNG 2: PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỂM XUYÊN TẠC CỦA KẺ THÙ VỀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY (25)
    • 2.1. Thực trạng (25)
    • 2.2. Mục đích của kẻ thù (27)
    • 2.3. Quan điểm của Đảng và nhà nước về xuyên tạc, chống phá (28)
    • 2.4. Giải pháp (32)
  • KẾT LUẬN (36)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (37)

Nội dung

Vậy là, về mặt lý luận và thực tiễn, thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủnghĩa cộng sản để hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, đối với các nước chưa trải quachủ nghĩa tư bản phát triển

Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu và phân tích để làm sáng tỏ bước đi, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo quan điểm Hồ Chí Minh.

Tìm hiểu việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong việc phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay.

Phương pháp nghiên cứu

Tra cứu tài liệu và Internet để tổng hợp, chọn lọc thông tin, phân tích và nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm đưa ra nhận xét, đánh giá chính xác Luôn đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin để đảm bảo tính khách quan và khoa học trong quá trình phân tích Việc này giúp nâng cao chất lượng nội dung, tối ưu hóa cho các công cụ tìm kiếm và đáp ứng yêu cầu của các chiến lược SEO hiện đại.

Vận dụng quan điểm toàn diện và hệ thống là chìa khóa để hiểu sâu sắc các vấn đề phức tạp trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Kết hợp khái quát và mô tả giúp phân tích rõ nét các hiện tượng, từ đó đưa ra cái nhìn tổng thể chính xác Đồng thời, việc sử dụng các phương pháp liên ngành góp phần tăng cường khả năng nghiên cứu, liên kết các lĩnh vực khác nhau để phát hiện các mối liên hệ đa chiều Phương pháp phân tích và tổng hợp là công cụ quan trọng trong việc xây dựng các luận điểm logic, khách quan và có hệ thống, phục vụ việc giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách hiệu quả.

THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Khái niệm cơ bản về thời kỳ quá độ

Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen đánh dấu bước tiến mới trong nhận thức khoa học về lịch sử nhân loại Các ông nhấn mạnh rằng sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, với phương thức sản xuất quyết định các mặt của xã hội cũng như quá trình hình thành, phát triển và thay thế các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Theo quan điểm của họ, xã hội loài người đã và sẽ trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội theo thứ tự từ thấp đến cao, trong đó hình thái kinh tế - xã hội chủ nghĩa (XHCN) là hình thái cuối cùng, tiến bộ nhất trong lịch sử nhân loại Sự chuyển tiếp giữa các hình thái này chính là giai đoạn quá độ, biểu thị quá trình biến đổi của xã hội từ hình thái cũ sang hình thái mới.

Trong thời kỳ quá độ, xã hội do C Mác mô tả là xã hội vừa thoát khỏi giai đoạn tư bản chủ nghĩa, còn nhiều dấu vết của xã hội cũ Xã hội này chưa phát triển hoàn chỉnh trên nền tảng của chính nó và không phải là mạng xã hội cộng sản chủ nghĩa đã hình thành lâu dài Thay vào đó, đây là một xã hội cộng sản chủ nghĩa mới thoát ra từ xã hội tư bản chủ nghĩa, đang trong quá trình chuyển đổi.

Xã hội vẫn còn lưu giữ những dấu vết của các giá trị cũ về kinh tế, đạo đức và tinh thần, phản ánh quá trình phát triển và hội nhập của nền tảng xã hội truyền thống Các yếu tố này thể hiện rõ nét trong các phương diện kinh tế và đạo đức, đồng thời còn giữ gìn những đặc trưng tinh thần của quá khứ Việc này cho thấy xã hội đang trong quá trình chuyển đổi nhưng vẫn giữ được những giá trị cũ còn sót lại từ đời sống xã hội trước đó.

Theo quan điểm của V I Lênin, các nước chưa phát triển chủ nghĩa tư bản cần trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội Lênin nhấn mạnh rằng quá trình chuyển đổi này đòi hỏi thời gian và sự kiên trì để xây dựng một hệ thống xã hội chủ nghĩa vững mạnh dựa trên các thực tiễn của Nga Điều này phù hợp với các nguyên tắc phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin về hướng đi xây dựng xã hội mới ở các quốc gia chưa có nền công nghiệp phát triển.

Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản có hai ý nghĩa chính Đối với các nước chưa phát triển chủ nghĩa tư bản, cần một quãng thời gian khá dài để chuyển đổi, trong khi đó, các nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển thường có một giai đoạn quá độ ngắn hơn, diễn ra trong quá trình chuyển đổi cách mạng từ xã hội này sang xã hội khác Quá trình này thể hiện sự khác biệt rõ rệt về thời gian và phương thức chuyển đổi giữa các giai đoạn của sự phát triển xã hội.

Hoàn cảnh và điều kiện ra đời của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Sau những biến động chính trị tại Liên Xô và Đông Âu cuối những năm 1980 đầu những năm 1990, một chiến dịch tấn công mạnh mẽ nhằm xuyên tạc, phê phán và bôi nhọ chủ nghĩa xã hội (CNXH) cùng chủ nghĩa Mác-Lênin đã bùng phát trên toàn cầu Các thế lực thù địch đã lợi dụng thời điểm này để triển khai chiến dịch "tấn công" nhằm mục tiêu "chôn vùi vĩnh viễn" chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH, tạo dựng thế trận chống lại các giá trị của chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực đang đối mặt với khủng hoảng, phong trào cách mạng thế giới đứng trước nhiều thử thách cam go Những người hoang mang, dao động về lý tưởng đã khuyến cáo Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân đã lựa chọn Họ cho rằng, ngay cả Liên Xô, một thành trì vững chắc của chủ nghĩa xã hội, cũng không còn giữ vững được vị thế, vậy làm sao một đất nước nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam có thể vượt qua những trở ngại để đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh toàn cầu vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, nhân dân các nước luôn đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và sự phát triển xã hội Cuộc đấu tranh này dù gặp nhiều khó khăn nhưng sẽ mở ra những bước tiến mới hướng tới mục tiêu chung của loài người là tiến tới Chủ nghĩa xã hội Theo quy luật lịch sử, Việt Nam quyết tâm đi lên CNXH, đây là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phản ánh xu thế phát triển của lịch sử thế giới Quá trình này là một cuộc cách mạng sâu sắc và triệt để nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, qua đó phải trải qua một thời kỳ dài với nhiều bước phát triển và hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đa dạng và đan xen.

Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

C.Mac cho rằng thời kì này bao gồm những cơn đau đẻ kéo dài có nghĩa là tiến trình quá độ không dễ dàng, nhanh chóng và có thể phải trải qua nhiều khúc quanh; những quãng cách mới đi đến kết quả cuối cùng Điều đó cũng được Lênin khẳng định rằng: Trong thời kì quá độ, sự nghiệp xây dựng CNXH có khi phải “làm lại nhiều lần” mới xong và trong thực tế diễn biến của tiến trình quá độ trong gần 90 năm qua với những thất b ại thăng trầm cũng đã chứng minh điều đó Theo V.I Lênin tất yếu xảy ra quá độ lên CNXH là do đặc điểm ra đời phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa và cách mạng vô sản quy định, sự hình thành chế độ mới có thể ví như một cơn đau đẻ kéo dài do đó nó cần phải có thời gian, có những sự chuẩn bị và những tích luỹ vật chất cần thiết đủ cho nó lọt lòng và phát triển.

Cách mạng vô sản có điểm khác biệt cơ bản so với cách mạng tư sản, đặc biệt ở chỗ nó diễn ra dựa trên mối quan hệ sản xuất công xã, loại bỏ quyền sở hữu tư nhân về phương tiện sản xuất Trong khi đó, cách mạng tư sản vẫn còn duy trì các mối quan hệ sản xuất phong kiến và các quan hệ sản xuất dựa trên lợi ích cá nhân vào lợi ích chung của xã hội Do đó, cách mạng vô sản hướng tới xây dựng một chế độ dựa trên sở hữu tập thể và loại bỏ các bất công do các quan hệ sản xuất cũ gây ra.

Tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, hình thành quan hệ sản xuất mới từ xã hội phong kiến Nhiệm vụ chính của chế độ tư bản là điều chỉnh vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tế thị trường phù hợp với cơ sở hạ tầng của nó.

Thứ hai, quá trình phát triển của phương thức sản xuất chủ nghĩa cộng sản là một chặng đường dài đòi hỏi sự kiên trì và thời gian để hoàn thiện Để nâng cao lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động và xây dựng chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, cần phải trải qua giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội Quá trình này là tất yếu để xây dựng một xã hội mới phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của chủ nghĩa cộng sản.

Quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử, tượng trưng cho giai đoạn chuyển đổi từ xã hội cũ sang xã hội mới, qua đó tiến đến xây dựng xã hội chủ nghĩa Giai đoạn này bắt đầu từ khi giai cấp công nhân giành chính quyền nhà nước và kết thúc khi hoàn thành cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Quá độ là thời kỳ “cải biến cách mạng” đầy thử thách, đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực lớn để vượt qua giai đoạn “đau đẻ” kéo dài, nhằm thiết lập một nền tảng vững chắc cho xã hội mới.

Lịch sử loài người là quá trình phát triển liên tục, chuyển từ các hình thái kinh tế – xã hội thấp đến cao như cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa Cộng sản chủ nghĩa là hình thái kinh tế – xã hội cao hơn, dựa trên hệ tư tưởng lý luận của Mác-Ăngghen, phát triển dựa trên căn cứ khoa học và thực tiễn Do đặc điểm riêng của từng hình thái kinh tế – xã hội, cộng sản chủ nghĩa có bản chất riêng và không thể hình thành ngay trong lòng một hình thái khác, mà đòi hỏi các dân tộc phải trải qua quá trình chuyển đổi (quá độ) từ hình thái cũ sang hình thái xã hội chủ nghĩa để đạt được mục tiêu phát triển cao hơn.

Trong bối cảnh lịch sử hiện nay, chủ nghĩa xã hội vẫn còn trong quá trình phát triển, chưa có quốc gia nào hoàn thiện chế độ xã hội chủ nghĩa Vì vậy, cần dành thời gian để xây dựng, phát triển và biến đổi để đạt tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, mang nhiều dấu vết của chế độ xã hội cũ trên mọi lĩnh vực của đời sống Thời kỳ quá độ xuất hiện như một yếu tố tất yếu để vượt qua những khó khăn và tiêu cực về đạo đức, văn hóa, tinh thần và lối sống trong quá trình chuyển đổi xã hội.

Sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội là một xu thế tất yếu của thời đại, gắn liền với phong trào công nhân và giai cấp vô sản Chủ nghĩa xã hội chỉ bắt đầu khi giai cấp công nhân giành chính quyền, xây dựng nền chuyên chính vô sản để thực hiện cải cách xã hội Quá trình này nhằm loại bỏ các bất công cũ, tiến tới xây dựng xã hội mới theo nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Dù đã giành chính quyền nhà nước, giai cấp công nhân không thể thiết lập chủ nghĩa xã hội ngay lập tức; họ cần trải qua quá trình đấu tranh gian khổ, xây dựng nền tảng vững chắc và duy trì nỗ lực lâu dài để đạt được mục tiêu này.

Thời kỳ quá độ là một thực tế khách quan nằm giữa xã hội tiền tư bản và xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ điểm xuất phát kinh tế - xã hội ban đầu, khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động trở thành chủ thể cầm quyền nhưng chưa đủ các tiền đề vật chất, văn hóa và tinh thần cần thiết để xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa Quá trình này đòi hỏi tổ chức, xây dựng để từng bước cải tạo quan hệ kinh tế - xã hội tư bản, phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng một cơ cấu xã hội tiến bộ phù hợp với nhu cầu giải phóng con người Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực qua các quốc gia cho thấy cần có một thời kỳ lịch sử tương đối dài để hoàn thành mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, đồng thời, quá trình chuyển đổi này gặp nhiều khó khăn do cần thời gian thực hiện những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực, qua cuộc đấu tranh quyết liệt để vượt qua thói quen quản lý cũ V.I Lênin khẳng định rằng, “Cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội vì cải tổ sản xuất là việc khó khăn, cần thời gian để thay đổi toàn diện trong đời sống và đấu tranh chống lại các xu hướng tiểu tư sản và tư sản,” cho thấy rõ tính tất yếu và lâu dài của thời kỳ quá độ này.

Các loại hình quá độ lên chủ nghĩa xã hội

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin đều khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH và chỉ rõ vị trí lịch sử, nhiệm vụ đặc thù của nó trong quá trình vận động, phát triển của hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, thì có hai con đường quá độ tiến lên CNXH:

- Con đường thứ nhất là con đường quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội từ những nước tư bản phát triển ở trình độ cao

Con đường thứ hai để tiến tới chủ nghĩa xã hội là quá độ gián tiếp, đặc biệt tại các quốc gia có mức phát triển chủ nghĩa tư bản còn thấp hoặc thuộc dạng các nước tiền tư bản Quá trình này yêu cầu các quốc gia này trải qua bước đi trung gian, xây dựng nền kinh tế và xã hội phù hợp trước khi chuyển đổi hoàn toàn sang chủ nghĩa xã hội Việc lựa chọn con đường này phù hợp với điều kiện thực tế của các quốc gia đang trong quá trình phát triển, nhằm đảm bảo sự bền vững và ổn định của quá trình chuyển đổi.

Dựa trên lý luận về chủ nghĩa Mác – Lênin và quá trình vận dụng không ngừng, bài viết phân tích sâu sắc về đặc điểm thực tế của Việt Nam trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việc nhận diện rõ các yếu tố cụ thể của tình hình Việt Nam giúp định hướng các chiến lược phát triển phù hợp, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi xã hội một cách bền vững và minh bạch Áp dụng các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin một cách linh hoạt là chìa khóa để đảm bảo thành công trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam.

Hồ Chí Minh khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được hiểu là giai đoạn chuyển tiếp gián tiếp từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu sang chủ nghĩa xã hội.

Theo Hồ Chí Minh, trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nước ta đặc trưng bởi việc chuyển đổi từ một nước nông nghiệp lạc hậu trực tiếp sang chủ nghĩa xã hội mà không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, điều này ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Người nhấn mạnh rằng mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ là sự đối lập giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế – xã hội còn quá thấp kém của nước ta.

1.5 Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộ và đặc điểm tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự tồn tại đan xen lẫn nhau giữa những yếu tố, bộ phận của cả hai kết cấu kinh tế- xã hội cũ và mới (chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội) Đặc điểm này thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, xã hội, văn hóa– tinh thần.

Trong giai đoạn quá độ, nền kinh tế là một hệ thống nhiều thành phần gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư nhân, kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần này bao gồm nhiều hình thức sở hữu đa dạng về tư liệu sản xuất, đồng thời vừa hợp tác, vừa cạnh tranh phức tạp Trong quá trình quá độ, vai trò và tỷ trọng của các thành phần kinh tế có thể thay đổi theo từng giai đoạn, nhưng nền kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo.

Trong thời kỳ quá độ, xã hội vẫn tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp với lợi ích đối lập nhau, dẫn đến mối quan hệ phức tạp gồm cả liên minh, đoàn kết và đấu tranh Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, lao động trí óc và chân tay đòi hỏi quá trình xác lập bình đẳng và công bằng xã hội ngày càng được thúc đẩy Ở Việt Nam, mối quan hệ giữa các giai cấp và tầng lớp là sự hợp tác và đấu tranh nội bộ nhân dân nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Giai cấp công nhân luôn giữ vị trí tiên phong trong quá trình chuyển đổi sang chủ nghĩa xã hội Nhìn chung, đặc điểm nổi bật của xã hội chủ nghĩa là tính thống nhất và hợp tác lâu dài giữa các giai cấp, tầng lớp, điều này đóng vai trò quyết định trong sự phát triển và thành công của quá trình xây dựng chế độ chủ nghĩa xã hội.

Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần, bên cạnh hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và quá trình xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, vẫn còn tồn tại những tàn dư của nền văn hóa cũ, hệ tư tưởng lạc hậu, thậm chí phản động, gây cản trở cho quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội của các dân tộc sau giải phóng Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, sự giao lưu và du nhập các luồng văn hóa, tư tưởng là xu hướng tất yếu, mang lại cả lợi ích và thách thức Một mặt, nó tạo điều kiện cho sự thống nhất văn hóa toàn cầu, phản ánh quy luật vận động của xã hội và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế – xã hội, đặc biệt với các quốc gia đang trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội Mặt khác, việc tiếp nhận các luồng tư tưởng mới có thể ảnh hưởng tiêu cực đến lối sống và định hướng xã hội, gây ra khó khăn và phức tạp trong sự nghiệp phát triển xã hội chủ nghĩa, vì vậy cần có sự nắm bắt rõ yêu cầu của xã hội trong giai đoạn này và áp dụng chính sách tham gia hội nhập quốc tế một cách có chọn lọc, đảm bảo kế thừa có hiệu quả các giá trị tích cực.

Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã nêu ra hai kiểu quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

Chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một quá trình dài, thử thách và phức tạp, dù là quá độ trực tiếp hay gián tiếp qua các xã hội tiền tư bản chủ nghĩa xã hội Quá trình này không chỉ đòi hỏi sự kiên trì mà còn yêu cầu các bước đi phù hợp để đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống xã hội mới.

Thời gian quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở mỗi quốc gia khác nhau tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và kinh tế xã hội đặc thù của từng nước Tại Việt Nam, nền kinh tế còn yếu, chủ yếu dựa vào nông nghiệp và thủ công nhỏ lẻ, bị ảnh hưởng nặng nề bởi chế độ phong kiến và thực dân hàng nghìn năm, khiến quá trình chuyển đổi này trở nên khó khăn, kéo dài và gian khổ Theo tư duy của Mác và Ăng-ghen, sự quá độ từ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội là quá trình tất yếu, và trong một số trường hợp, có thể bỏ qua bước phát triển tư bản chủ nghĩa, chỉ bỏ qua hình thái chính trị mà vẫn thúc đẩy phát triển kinh tế và củng cố cơ sở vật chất Để một quốc gia có thể bỏ qua chế độ tư bản và nhanh chóng tiến tới chủ nghĩa xã hội, cần phải đáp ứng ba điều kiện cơ bản nữa.

1) Chủ nghĩa tư bản bị lạc hậu, đánh bại tại quê hương của nó và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Các nước kém phát triển biết được tấm gương, nhìn vào cách thức đi lên chủ nghĩa xã hội ở các nước tư bản mà học theo, đồng thời nhận được sự giúp đỡ của các nước ấy.

2) Thực hiện những bước quá độ, những bước đi trung gian mềm dẻo linh họat, sử dụnh thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa như cây cầu nối.

3) Có đảng cộng sản vững mạnh cầm quyền lãnh đạo Đổi mới nền sản xuất xã hội đòi hỏi cần có thời gian mới thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và phải trải qua một cuộc đấu tranh quyết liệt mới có thể cỏ thể gạt bỏ hết những tàn dư, thói quen còn sót lại của chế độ xã hội trước đó

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là giai đoạn chính trị đặc trưng với xã hội còn phân chia giai cấp, còn đấu tranh giai cấp và còn nhà nước, trong đó nhà nước mang tính chất chuyên chế cách mạng của giai cấp vô sản Đấu tranh giai cấp chủ yếu diễn ra giữa giai cấp công nhân liên minh với các tầng lớp lao động để xây dựng xã hội chủ nghĩa, chống lại giai cấp tư sản đã bị đánh đổ nhưng chưa bị tiêu diệt và các lực lượng phản động Theo V.I Lênin, thời kỳ quá độ là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang trong quá trình diệt vong và chủ nghĩa cộng sản mới hình thành nhưng còn non yếu, diễn ra trên các lĩnh vực xã hội, dưới các hình thức hòa bình và xây dựng mới Trong các nước kém phát triển như Việt Nam, đấu tranh giai cấp còn đặt trong bối cảnh giữa hai con đường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, và mặc dù quan trọng, không nên coi nhẹ hay quá coi trọng nó quá mức Thời kỳ quá độ tồn tại nhiều yếu tố mâu thuẫn, đối lập, ảnh hưởng lẫn nhau; các yếu tố xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, nhưng sự trở lại tạm thời của các yếu tố cũ vẫn có thể xảy ra, nhất là do trình độ phát triển kinh tế xã hội còn thấp, gây ra khó khăn lâu dài Theo V.I Lênin, quá trình chuyển từ chủ nghĩa tư bản sang xã hội chủ nghĩa là cuộc đấu tranh vô cùng gian nan, đòi hỏi kiên trì thử nghiệm nhiều lần; mục tiêu cao nhất là xây dựng nền cộng sản chủ nghĩa, bước đầu trong thời kỳ quá độ này là giai đoạn thấp của hình thái kinh tế–xã hội cộng sản chủ nghĩa.

1.6 Nhận thức của Đảng về quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã trải qua một quá trình lâu dài và phức tạp Đảng Cộng sản Việt Nam đã sáng tạo vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế và dựa trên thực tiễn đất nước để không ngừng đổi mới nhận thức về lý luận Quá trình đổi mới gần 30 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu lớn, mang ý nghĩa lịch sử, trong đó nhận thức của Đảng và nhân dân về chủ nghĩa xã hội ngày càng rõ ràng hơn.

Nhận thức của Đảng về quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã trải qua một quá trình dài và phức tạp Đảng Cộng sản Việt Nam đã sáng tạo vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế, dựa trên thực tiễn đất nước để xây dựng nhận thức lý luận phù hợp Trong gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và ý nghĩa lịch sử, giúp Đảng và nhân dân ngày càng hiểu rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong 85 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào Đảng ta vẫn luôn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: “Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa” Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”, và đã được khẳng định điều này tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI (tháng 01-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Đảng Cộng sản Việt Nam đã bước đầu hình thành được những nét cơ bản một hệ thống quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là cơ sở khoa học cho đường lối của Đảng, góp phần bổ sung và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Nhận thức về mục tiêu và bản chất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng rõ ràng và sâu sắc hơn, đặc biệt về nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng xác định rõ động lực thúc đẩy sự phát triển con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam, đồng thời khẳng định thời kỳ quá độ và đặc điểm của con đường này, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa xã hội Nền tảng mô hình và hướng đi phù hợp với điều kiện của đất nước cũng được xác định rõ ràng, phù hợp với bối cảnh thực tiễn Tuy nhiên, các vấn đề lý luận và thực tiễn về quá trình này rất phức tạp, đa dạng và cần có sự nghiên cứu nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học Trong nội dung này, chúng tôi xin trình bày một số khía cạnh quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam.

Việt Nam ngày càng nâng cao nhận thức về mục tiêu và bản chất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng đã đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội, tập trung phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, duy trì chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong phát triển quốc gia đa tộc Đặc biệt, Đảng khẳng định đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị và hợp tác, xây dựng xã hội chủ nghĩa dựa trên mối quan hệ hữu nghị toàn cầu Mục tiêu tổng quát đến năm giữa thế kỷ XXI là xây dựng nền tảng kinh tế chủ nghĩa xã hội vững chắc, kiến trúc thượng tầng phù hợp, nhằm hướng tới một đất nước công nghiệp hiện đại, giàu mạnh, hạnh phúc.

Hai là, nhận thức rõ về nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc giữ vững phẩm chất và hướng đi của Đảng Việc khẳng định sức sống mãnh liệt của Chủ nghĩa Mác - Lênin giúp giữ vững lập trường chính trị, đồng thời nêu cao tư tưởng để thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước Đây là những yếu tố quan trọng nhằm củng cố lòng tin của nhân dân và duy trì sự đoàn kết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong 85 năm qua, Đảng ta đã tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, cần phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin bởi vì đây là học thuyết chân chính, vững chắc và cách mạng nhất, góp phần xác định đắc lực bản chất và đường lối của Đảng Ông khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin là “cái gốc của Đảng”, là nền tảng tư tưởng cốt lõi định hướng cho sự phát triển cách mạng của đất nước.

Đảng ta xác định chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng từ năm 1951 và khẳng định đây là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng trong Đại hội lần thứ III (1960) Đến Đại hội lần thứ VII (1991), Đảng chính thức bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng, đánh dấu bước tiến quan trọng trong lý luận của Đảng Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cốt lõi của cách mạng Việt Nam, đồng thời là kết quả vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và phát huy truyền thống dân tộc, văn hóa nhân loại Việc lấy chủ nghĩa Mác-Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng đòi hỏi Đảng phải nắm vững bản chất cách mạng, sử dụng lập trường, quan điểm và phương pháp duy vật biện chứng để giải quyết đúng đắn các vấn đề của cách mạng Việt Nam và thời đại Trong bối cảnh đổi mới, Đảng cần kiên trì vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để đối mặt với những thách thức mới, tiếp tục làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện thời đại đổi thay.

Nhận thức về động lực của sự phát triển con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhấn mạnh rằng hệ động lực này bao gồm các yếu tố vật chất và tinh thần, cùng với các động lực bên trong (nội lực và nội sinh) và bên ngoài (ngoại lực và ngoại sinh) Trong hệ thống phát triển chủ nghĩa xã hội của đất nước, ba động lực quan trọng nhất hiện nay là các yếu tố chính thúc đẩy quá trình xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội.

Thứ nhất, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là nguồn sức mạnh then chốt để thúc đẩy sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại đoàn kết toàn dân là động lực quan trọng quyết định thành công của quốc gia, góp phần giữ vững độc lập, thống nhất đất nước hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ hai, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới nhằm khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của con người và tăng cường tính tích cực, chủ động, năng động của nhân dân Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phát triển hài hòa, đồng bộ giữa dân chủ ở cơ sở, coi đó là nền tảng, và dân chủ ở trung ương có tính chất quyết định trong việc thúc đẩy vai trò động lực của dân chủ Việc phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội, cùng với xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các mô hình tự quản tại cộng đồng, góp phần khắc phục tập trung quan liêu và mở rộng hoạt động dân chủ, nâng cao chất lượng lãnh đạo tập thể từ cấp cơ sở đến cấp trung ương Đồng thời, cần có quy chế bảo đảm tự do tư tưởng và tôn trọng ý kiến khác nhau để thúc đẩy sự đối thoại xây dựng Thứ ba, cần kết hợp hài hòa lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân, đặc biệt quan tâm đến lợi ích thiết thân của con người Đảng nhận thức rõ rằng, thúc đẩy mỗi cá nhân quan tâm đến lợi ích chính đáng của mình là động lực trực tiếp, giúp đẩy mạnh quá trình xây dựng xã hội mới Thực tiễn đổi mới đã chứng minh rằng, sự cân bằng hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, trong đó lợi ích thiết thân của con người là động lực mạnh mẽ nhất, là yếu tố then chốt để phát triển bền vững xã hội.

Lãnh đạo công cuộc đổi mới của Đảng nhận thức rõ con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam có những đổi mới sâu sắc nhằm phù hợp với thực tiễn đất nước Hiểu rõ thời kỳ quá độ và những đặc điểm của con đường quá độ là yếu tố then chốt để xây dựng chiến lược phát triển bền vững Việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và tiến lên chủ nghĩa xã hội thể hiện sự xác định rõ mục tiêu và hướng đi của đất nước trong giai đoạn đổi mới Nhận thức đúng về đặc điểm của quá độ giúp định hướng chính sách phù hợp, góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa một cách hiệu quả.

Nhận thức rõ tính chất lâu dài, khó khăn và phức tạp của giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội là yếu tố quan trọng để xác định mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn đầu của thời kỳ này Trong quá trình quá độ, sẽ xuất hiện nhiều hình thức kinh tế - xã hội mang tính chất quá độ, phản ánh quá trình chuyển đổi phức tạp và đa dạng của xã hội Việc hiểu rõ đặc điểm này giúp định hướng chính sách phù hợp, đảm bảo sự ổn định và tiến bộ trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hiểu rõ hơn về cách loại bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội là yếu tố thiết yếu, giúp xác định những giá trị cần bỏ qua và những yếu tố cần tiếp thu để xây dựng một xã hội công bằng, tiến bộ Việc nhận thức đầy đủ về quy trình này giúp thúc đẩy quá trình chuyển đổi một cách hiệu quả, bền vững và phù hợp với đặc điểm của thời kỳ quá độ.

Năm 2011, nhận thức về mô hình và phương hướng áp dụng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được nâng cao, thể hiện qua việc Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung và phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh này đã bổ sung tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, trong đó một số nội dung đã rõ ràng hơn so với Cương lĩnh năm 1991 Điều này phản ánh sự tiến bộ trong nhận thức và định hướng phát triển chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

+) Thứ nhất, khẳng định đặc trưng hàng đầu là xây dựng một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ hai, cần nhấn mạnh vị trí của dân chủ trong phát triển xã hội, đặt nội dung dân chủ lên hàng đầu cùng với công bằng và văn minh Dân chủ không chỉ dành riêng cho lao động mà toàn thể nhân dân đều làm chủ quyền quyết định của mình, tôn trọng quyền làm chủ và quyền con người Chính phủ coi con người là trung tâm của chiến lược phát triển, coi họ là chủ thể của quá trình phát triển bền vững.

Khả năng tiến hành quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Với những điều kiện để quá độ thẳng lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác-

Lênin đã xác định rõ về khả năng của quốc tế và đất nước chúng ta để tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhấn mạnh rằng quá trình này có thể diễn ra mà không nhất thiết trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Khả năng này bao gồm các yếu tố khách quan và chủ quan, phản ánh sự phù hợp của điều kiện lịch sử, kinh tế và chính trị để thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa một cách thành công.

Các yếu tố khách quan đóng vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, khi Liên Xô đã thành công trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và sẵn sàng hỗ trợ về vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã để lại cho chúng ta bài học quý giá về thành công và thất bại rõ ràng, sâu sắc, từ đó hình thành các giải pháp điển hình cho công cuộc lãnh đạo và thực hiện quá trình cách mạng một cách hiệu quả.

Sự thành công của đất nước chủ yếu nhờ vào vai trò lãnh đạo của Đảng, được truyền đạt qua nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh vai trò của Đảng vô sản trong lãnh đạo cách mạng và phát triển đất nước Tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nhân sự và quá trình đổi mới đất nước, góp phần củng cố và khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với ý chí của nhân dân Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp lao động, nông dân và trí thức đã cùng nhau chiến đấu, hy sinh để giành lại độc lập, đem lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho dân tộc.

PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỂM XUYÊN TẠC CỦA KẺ THÙ VỀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Ngày đăng: 08/12/2022, 09:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Bộ Công an - Học viện chính trị Công an nhân dân (2014): Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quy hoạch chức danh lãnh đạo cấp phòng, quận, huyện trong Công an nhân dân, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quy hoạch chức danh lãnh đạo cấp phòng, quận, huyện trong Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an, Học viện chính trị Công an nhân dân
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội
Năm: 2014
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
13. Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2000
14. Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
17. Mạch Quang Thắng (chủ biên) (2010): Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Mạch Quang Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2010
18. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên) (2001): Về định hướng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về định hướng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội
Năm: 2001
15. Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.9 Khác
16. Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.10 Khác
19. Vũ Văn Phúc (2009): Lý luận và thực tiễn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. V.I.Lênin (1977): Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, Mátxcơva, t.36 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w