1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dựa vào nội dung bài báo trên và kiến thức đã học trong môn Quản trị rủi ro, em hãy phân tích các bước đánh giá rủi ro và xử lý rủi ro về nợ xấu mà bài báo đề cập

11 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích các bước đánh giá rủi ro và xử lý rủi ro về nợ xấu theo bài báo đề cập
Trường học Đại học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia TP.HCM
Chuyên ngành Quản trị rủi ro
Thể loại Bài tiểu luận môn Quản trị rủi ro
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 275,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khái niệm và tình hình1.Khái niệm nợ xấu “Nợ xấu là một số tiền được viết bởi các doanh nghiệp như là một tổn thất cho doanh nghiệp và được phân loại như là một khoản chi phí vì nợ cho d

Trang 1

PHỤ LỤC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

- -BÀI TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ RỦI RO

ĐỀ TÀI

Dựa vào nội dung bài báo trên và kiến thức đã học trong môn "Quản trị rủi ro",

em hãy phân tích các bước đánh giá rủi ro và xử lý rủi ro về nợ xấu mà bài báo

đề cập.

Trang 2

MỤC LỤC

2.1 Thuận lợi của xác đinh nợ xấu bằng định tính và định lượng 5 2.2 Bất lợi của xác đinh nợ xấu bằng định tính và định lượng 6 2.3 Cơ hội của xác đinh nợ xấu bằng định tính và định lượng 6

Trang 3

i khái niệm và tình hình

1.Khái niệm nợ xấu

“Nợ xấu là một số tiền được viết bởi các doanh nghiệp như là một tổn thất cho doanh nghiệp và được phân loại như là một khoản chi phí vì nợ cho doanh

nghiệp là không thể được thu thập, và tất cả những nỗ lực hợp lý đã được tận dụng

để thu thập các số tiền nợ.”

2.Thực trạng về nợ xấu hiện tại của Việt Nam

- Nợ xấu vẫn có xu hướng tăng trong thời gian tới do lạm phát, đại dịch Covid 19

và căng thẳng giữa Nga – Ukraine vẫn còn tác động tới kinh tế Việt Nam

- Trách nhiệm xử lý nợ xấu chưa minh bạch và còn nhiều khó khăn về pháp lý trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm

- Các luật về trách nhiệm pháp lý và luật thay thế để đảm bảo tính liên tục sau khi thí điểm nghị quyết 42 kết thúc vẫn chưa rõ ràng

- Về kết quả của thực hiện thí điểm nghị quyết 42:

“Cụ thể, nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng đã được xử lý, kiểm soát và tỷ lệ

nợ xấu nội bảng được duy trì ở mức dưới 2% Lũy kế từ 15/8/2017 đến

31/12/2021, toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được 380,2 nghìn tỷ đồng

nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 Tổng nợ xấu chưa xử lý xác định theo Nghị quyết số 42 của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đến ngày 31/12/2021 là 412,7 nghìn tỷ đồng, giảm 17,21% so với thời điểm Nghị quyết số 42 có hiệu lực (15/8/2017)

Lũy kế từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực đến ngày 31/12/2021, Công ty quản lý tài sản (VAMC) đã mua được 339 khoản nợ theo giá trị thị trường đối với 193 khách hàng với dư nợ gốc đạt 11.723 tỷ đồng và giá mua nợ đạt 11.822 tỷ đồng; Thu hồi nợ đạt 120.738 tỷ đồng (bằng 66% tổng giá trị thu hồi nợ lũy kế từ năm

2013 đến 31/12/2021); Tổ chức đấu giá thành công 22 tài sản với tổng giá trị trúng đấu giá đạt 2.516 tỷ đồng; đồng thời, VAMC đã thu giữ, nhận bàn giao một số tài sản bảo đảm có giá trị lớn, góp phần đẩy nhanh tiến độ xử lý các khoản nợ tại tổ chức tín dụng.” Hoàng Thị Hoa/TTXN

 Kéo dài nghị quyết 42 là hợp lí “Nghị quyết số 42 là chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, giúp xử lý nợ xấu hiệu quả hơn Do đó, việc duy trì cơ chế, chính sách tại Nghị quyết số 42 và tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý

về xử lý nợ xấu là rất cần thiết” thống đốc NHNN Việt Nam trình bày

Trang 4

ii đánh giá

1. Nhận diện rủi ro

- Nguồn rủi ro:

+ MT thiên nhiên: tình hình dịch bệnh Covid 19 gây ảnh hưởng lớn về mọi mặt trong đó có cả gây gián đoạn nền kinh tế

+ MT pháp luật: các luật về xử lý nợ xấu vẫn chưa hoàn thiện và đạt kết quả so với yêu cầu đề ra

+ MT kinh tế: lạm phát, các doanh nghiệp có năng lực tài chính yếu, xếp hạng tín dụng nội bộ của các tổ chức tín dụng mang tính chủ quan, tình trạng sở hữu chéo tại các hệ thống ngân hàng gây thiếu minh bạch trong quản lý

- Đối tượng rủi ro:

+ Rủi ro về tài sản:

Tài sản vật chất, tài chính: phải kê khai tài sản đảm bảo khi vay vốn, bị thu giữ toàn bộ các tài sản đảm bảo để thanh toán khi vướng vào các khoản nợ xấu

Tài sản vô hình: có thể bị liệt kê vào danh sách nợ xấu trên CIC gây mất uy tín, ảnh hưởng đến kêu gọi vốn lâu dài

+ Rủi ro về trách nhiệm pháp lý: có thể vướng phải kiện tụng tùy vào hành vi giải quyết nợ xấu của cá nhân, tổ chức Hành lang pháp lý về tài sản đảm bảo chưa hoàn thiện dễ xảy ra tranh chấp

+ Rủi ro về nhân lực: không đảm bảo về số lượng và chất lượng đội ngũ thực thi, triển khai các quy trình quản lí nợ xấu Nhà quản lí không nắm rõ các quy định của Nhà nước về vấn đề nợ xấu, không có kế hoạch vay vốn và sử dụng vốn

2. Phân tích rủi ro

2.1 Thuận lợi

- Rủi ro định lượng về nợ xấu:

Các mốc rủi ro được phân chia rõ ràng

Nhóm 3 ( nợ dưới tiêu chuẩn) Quá hạn từ 91 – 180 ngày

Nhóm 4 ( nợ nghi ngờ) Quá hạn từ 181 – 360 ngày

Nhóm 5 ( nợ có khả năng mất vốn) Quá hạn trên 360 ngày

Trang 5

+ Các tiêu chí phân chia kèm theo của từng nhóm cũng dựa trên các điều khoản của Luật tín dụng và có các điều kiện phân chia theo quy định Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia, số lần gia hạn nợ,… vô cùng rõ ràng, dễ phân biệt

+ Trong mỗi nhóm cũng chia thành các trường hợp nợ theo khả năng chi trả của tổ chức cá nhân hoặc chia theo quy định của NHNN Việt Nam

 Việc phân chia này làm tăng tính minh bạch và tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân dễ xác định để lập kế hoạch phòng tránh hoặc giải quyết nợ xấu tốt nhất -Rủi ro định tính về nợ xấu: sử dụng kỹ thuật đánh giá chuyên môn để phân nhóm

nợ xấu Căn cứ vào khả năng trả nợ trên hệ thống xếp hạng tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng và chính sách dự phòng rủi ro để quản lý nợ xấu 2.2 Bất lợi của xác đinh nợ xấu bằng định tính và định lượng:

+ Chưa có các chế tài cụ thể để xử lí các tình huống cụ thể trong nợ xấu

+ Nghị quyết mới chỉ trong giai đoạn thí điểm chưa hoàn thiện Một số biện pháp chưa thực sự phát huy hiệu quả

+ Còn dựa khá nhiều vào “chính sách dự phòng rủi ro”, thiếu linh hoạt trong biện pháp chiến lược

+ Đánh giá khả năng trả nợ dựa trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ còn mang tính chủ quan

2.3 Cơ hội của xác đinh nợ xấu bằng định tính và định lượng:

- Tìm ra những thiếu sót, sai lầm trong quá trinh thí điểm để dần hoàn thiện các biện pháp xử lý nợ xấu

- Thu thập được các số liệu quý giá để phục vụ cho việc nghiên cứu về nợ xấu

- Tạo động lực xử lý nợ xấu phát triển thị trường mua bán nợ xấu trong tương lai 3.Mức độ rủi ro

- Mức độ rủi ro của nợ xấu được chia thành 5 nhóm từ 1 – 5 theo thứ tự nguy cơ tăng dần được phân biệt rõ

- Tùy theo mức độ mà có các biện pháo xử lý khác nhau, nhưng phổ biến hiện nay vẫn là trích lập dự phòng rủi ro Đây là một biện pháp khá tốt dành cho các TCTD

Trang 6

nhưng không hữu dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao như bất động sản, cho vay tiêu dùng, BOT,…

Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với 5 nhóm nợ như sau:

a) Nhóm 1: 0%

b) Nhóm 2: 5%

c) Nhóm 3: 20%

d) Nhóm 4: 50%

đ) Nhóm 5: 100%

- Hiện tại nợ xấu ở các tổ chức tín dụng đang được kiểm soát khá tốt “ Theo báo cáo của NHNN, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống TCTD trong giai đoạn

2016-2020 được duy trì dưới mức 3%, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD giảm liên tục qua các năm Cuối năm 2016 đạt 2,46%; tháng 8/2017 đạt 2,45%; cuối năm 2017 đạt 1,99%; cuối năm 2018 đạt 1,9%; cuối năm 2019 đạt 1,63% và đến ngày 31/5/2020 ở mức 1,86%.” Chúng ta cũng đang kì vọng tỉ lệ nợ xấu nội bảng sẽ giảm xuống dưới 2% để đảm bảo nâng cao chất lượng tín dụng

- Tuy vậy nợ xấu nói chung vẫn có xu hướng tăng, nguyên nhân đến từ thực trạng hiên nay khiến cho kinh tế và doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn, ngân sách Nhà nước phải xử lý các vấn đề an sinh xã hội để phục hồi

- Thống đốc ngân hàng đã có sự đổi mới sáng tạo khi cung cấp các dịch vụ ngân hàng số, đảm bảo an ninh, tiện ích cho người sử dụng song vẫn còn nhiều vấn đề nảy sinh như quản lý tiền điện tử, tiền kỹ thuật số tiềm ẩn nguy cơ cao rủi ro tín dụng

- Việc quản lý dòng vốn tín dụng bất động sản cũng cần chặt chẽ tránh đầu cơ Gây hậu quả nghiêm trọng đến thị trường

- Tạo điều kiện trong khoản tín dụng cho vay tiêu dung bằng cắt giảm chi phí, chia

sẻ lợi nhuận là tốt nhưng tuyệt đối không được hạ tiêu chuẩn cho vay để tránh rủi

ro bởi đây là khoản tín dụng có tỉ lệ nợ xấu cao (25,8%)

Trang 7

Iv Xử lý rủi ro

Các giải pháp đã nêu:

- Kéo dài thời gian thí điểm của Nghị quyết 42.(Tránh rủi ro)

- Xây dựng khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm trong thời gian tới.( Tránh rủi ro)

- Đại biểu (ĐB) Trương Trọng Nghĩa (TP HCM) đề nghị QH phải buộc tổ chức, cơ quan đề xuất có bản đối chiếu, phân tích và đánh giá 2 cực "phí tổn và lợi ích" của

dự án luật mới hoặc luật sửa đổi.( Chuyển đổi rủi ro)

- ĐB Lê Thanh Vân (Cà Mau) kiến nghị thành phần ban soạn thảo phải mở rộng hơn, chú trọng đến các nhà khoa học, đặc biệt là đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật

Lợi ích của các giải pháp:

- Mang tính khách quan khi các đối tượng chịu ảnh hưởng của luật pháp có quyền lên tiếng để đảm bảo an toàn về quyền lợi

- Tăng thêm tính minh bạch trong các vấn đề tranh chấp và pháp lý

- Có thêm thời gian để quan sát và chỉnh sửa những thiếu sót trong Nghị quyết nhằm tạo nên một công cụ để kiểm soát và xử lý tốt vấn đề nợ xấu

- Nâng cao trách nhiệm của các cán bộ trong việc cải thiện, sửa đổi, tổng kết Luật trong các tổ chức tín dụng

Khó khăn của các giải pháp:

- Cần nhiều thời gian để hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm

Nguồn tài liệu

1 https://nld.com.vn/thoi-su/chan-rui-ro-tu-no-xau-20220524221613708.htm

Trang 8

2 https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tien-te-Ngan-hang/Nghi-quyet-42-2017-QH14-thi-diem-xu-ly-no-xau-cac-to-chuc-tin-dung-353638.aspx

3 https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%A3_x%E1%BA%A5u

Ngày đăng: 08/12/2022, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w